Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình- Kỳ 2

TS. Phạm Việt Long

30/06/2021 12:26

Tác giả Phạm Việt Long trong sách Tục ngữ ca dao về quan hệ gia đình đã nghiêm túc tiếp thu người đi trước về phương pháp tiếp cận văn hoá và vận dụng công nghệ hiện đại để xử lý, khảo sát tư liệu, đó là nguyên nhân quan trọng đem đến những đóng góp mới trong công trình nghiên cứu của ông và đây cũng là kinh nghiệm cho những ai quan tâm đến việc tìm hiểu bản sắc văn hoá Việt Nam (GS.TSKH Phan Đăng Nhật).

bia-tuc-ngu-ca-dao-1624922325.jpg
 

 

Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình- Kỳ2

CHƯƠNG MỘT

TIỀN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN

QUAN HỆ GIA ĐÌNH

ĐƯỢC PHẢN ÁNH QUA TỤC NGỮ, CA DAO

 

1. NHỮNG QUAN NIỆM CHÍNH VỀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG

1.1. Khái niệm gia đình

Gia đình là một thực thể vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính xã hội, gắn bó với nhau thông qua quan hệ hôn nhân, thân tình và dòng máu để đáp ứng nhu cầu về tình cảm, bảo tồn nòi giống, giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa của cộng đồng và tộc người, góp phần nuôi dưỡng nhân cách con người, phát triển kinh tế - xã hội, phản ánh sự vận động của cộng đồng và quốc gia trong tiến trình lịch sử.

1.2. Gia đình Việt Nam truyền thống

Gia đình là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu về văn hóa Việt Nam. Mỗi tác giả tìm cách tiếp cận khác nhau về gia đình. Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục khảo sát gia đình thông qua phong tục trong gia tộc, gồm các mục: Cha mẹ với con, anh em, chị em, thân thuộc, phụng sự tổ tông, đạo làm con, thượng thọ, sinh nhật, thần hoàng, tang ma, cải táng, kỵ nhựt, tứ thời tiết lập, giá thú, vợ chồng, vợ lẽ, cầu tự, nuôi nghĩa tử. Đáng chú ý là trong khi giới thiệu phong tục tập quán, tác giả thường dẫn tục ngữ để minh chứng. Phan Kế Bính đã đưa ra nhận xét như sau: trong quan hệ gia đình người Việt, hòa mục là điều hết sức quan trọng, đạo làm con phải trọng chữ hiếu, vợ chồng phải giữ chữ tiết nghĩa với nhau. Ông cũng phê phán một số biểu hiện tiêu cực đã thành tập tục trong quan hệ gia đình như trọng nam khinh nữ, đa thê...

Trong Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua nếp cũ gia đình, tác giả Toan Ánh đi sâu vào đời sống gia đình, theo cách hiểu của học giả Đào Duy Anh: Gia đình chỉ "những người thân thuộc trong một nhà." [3:8]. Ông giới thiệu tóm tắt về thành phần gia đình Việt Nam và viết: "Qua các thành phần trên cho thấy rằng gia đình Việt Nam bao quát rất rộng, và mọi người đều có tình thân thuộc với nhau qua mọi thế hệ, không kể bởi họ nội, ngoại, nhiều khi bởi cả hai bên nội ngoại." [3:24-25].

Ở góc độ tiếp cận khác, Phó giáo sư Trần Đình Hượu đã xem xét Gia đình truyền thống Việt Nam với ảnh hưởng Nho giáo và viết:

"Gia đình truyền thống Việt Nam chịu ảnh hưởng Nho giáo sâu sắc, nhưng tìm ảnh hưởng đó không nên chỉ căn cứ vào lý thuyết Nho giáo, mà nên nhìn gia đình trong thể chế chính trị - kinh tế - xã hội tổ chức và quản lý theo Nho giáo, bị điều kiện hoá trong thể chế đó mà vận động phát triển. Theo chúng tôi, những điều kiện đó là:

- Chế độ chuyên chế với quyền vương hữu, quyền thần dân hoá toàn thể với nền kinh tế cống nạp.

- Trật tự trên dưới theo phân vị.

- Tổ chức làng - họ.

- Cuộc sống nông thôn và cung đình.

- Sự giáo hoá sâu rộng về trách nhiệm với vua với nước, về tình nghĩa gia đình, họ hàng, về lí tưởng sống êm ấm, trên kính dưới nhường, về quyền người đàn ông, người cha, người chồng". [57:314]

"Ảnh hưởng Nho giáo đến gia đình truyền thống Việt Nam là lâu dài và liên tục cho đến khi Việt Nam thành thuộc địa cuả Pháp và xã hội Việt Nam bắt đầu Âu hoá.

Nhưng ảnh hưởng đó cũng có khác nhau tuỳ từng thời kỳ, từng vùng và từng loại gia đình. Trong việc nghiên cứu gia đình truyền thống và ảnh hưởng Nho giáo trong đó, cũng chỉ một vài loại gia đình thực sự có ý nghĩa". [57:315]

Tác giả đã phân tích các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của nước ta trước đây để chỉ ra có bốn hạng người trong dân là sĩ, nông, công, thương, nhưng quan trọng nhất là nông và sĩ. Từ đó, ông "Phân biệt gia đình truyền thống Việt Nam thành hai loại lớn: quan hộ và dân hộ."[48:320]. Tác giả viết:

"Trong xã hội trước đây, nông dân và nhà nho có vai trò xã hội lớn nhất, gia đình nông dân và gia đình nhà nho cũng là tiêu biểu nhất. Gia đình nông dân, đặc biệt là gia đình trung nông, tiêu biểu cho cách tổ chức làm ăn sản xuất nông nghiệp nhằm tự túc và đóng góp cho làng nước. Gia đình nhà nho tiêu biểu cho cách dùng lễ nghĩa xây dựng nền nếp trong nhà và ăn ở với họ hàng làng xóm." [57:320].

PGS. Nguyễn Từ Chi nghiên cứu sâu vào cơ cấu tổ chức làng xóm và nhận xét bước đầu về gia đình người Việt, mà địa bàn chủ yếu là vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Với gia đình người Việt cổ truyền, Nguyễn Từ Chi nhấn mạnh đến loại mô hình gia đình nhỏ, gia đình hạt nhân: “Gia tộc Việt, từ nông thôn đến thành thị, ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ, cả trên khắp đất nước, từ lâu cũng đã giải thể đến mức gia đình nhỏ rồi, thậm chí trong tuyệt đại đa số các trường hợp, là gia đình hạt nhân.”[15:181. Ông nhìn sâu vào tính chất của gia đình Việt cổ truyền như sau:

“Tính chất phụ quyền của gia tộc Việt là điều đã được nhiều lần nhấn mạnh, với các nguyên lý chính làm khung cho nó: quyền uy tối cao của người cha với con cái, của người chồng đối với người vợ, đặc quyền thừa kế của con trai, đặc biệt của con trai trưởng, vai trò quán triệt, có khi hầu như độc tôn của đàn ông chủ hộ trong mọi tổ chức ngoại gia đình... Tính chất phụ quyền ấy còn được tô đậm bởi nhiều thế kỷ giáo dục nhà Nho. Trên bình diện sinh hoạt cộng đồng của làng – xã, sự vắng mặt quá “lộ liễu” của phụ nữ trong cơ cấu tổ chức càng nói lên thế lép vế của họ. Tuy nhiên, nguyên lý, nhiều khi chỉ là nguyên lý, chỉ là biểu hiện của “cấu trúc hữu thức” cộng đồng. Xét lại vấn đề dưới góc độ thực tế hơn của nền kinh tế tiểu gia đình, thì số phận người phụ nữ Việt đâu có hẩm hiu như thế.. Không phải chỉ vì họ là người tiếp tay đắc lực và không thể thiếu cho cha, cho chồng, trong lao động nông nghiệp nặng nhọc, mà còn (và chủ yếu?) bởi vì “luồng tiểu thương rất phát đạt trong vùng châu thổ [và trung du Bắc Bộ – TT], thực ra là nằm trong tay phụ nữ. Như vậy, chính người phụ nữ mang về cho gia đình một phần thu nhập không phải không đáng kể, dưới dạng tiền mặt, còn nông phẩm lại thể hiện khía cạnht tự cấp tự túc của nền kinh tế nông thôn.[192]

Những tác phẩm được dẫn ra trên đây giúp chúng ta hình dung về tổ chức và tính chất gia đình Việt Nam truyền thống để có thể so sánh với các hình mẫu gia đình được tục ngữ, ca dao phản ánh. Xã hội Việt Nam cổ truyền có hai loại gia đình cơ bản: gia đình nông dân và gia đình nhà nho. Gia đình nông dân là một đơn vị sản xuất theo kiểu chồng cầy, vợ cấy, con trâu đi bừa. Gia đình nhà nho là gia đình theo kiểu bên anh đọc sách bên nàng quay tơ.

Năm 1991, công trình Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam ( NXB Khoa học xã hội - Hà Nội- 1991) đã công bố 12 bài nghiên cứu về gia đình, cho chúng ta hình dung về sự biến đổi sâu sắc của gia đình truyền thống Việt Nam trong thời kỳ mới của lịch sử Việt Nam có chủ trương đổi mới của Đảng ( năm 1986).

Chúng ta biết rằng vào đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp tăng cường khai thác thuộc địa Việt Nam, xã hội Việt Nam phân tầng sâu sắc, quá trình Âu hoá diễn ra nhanh chóng ở các đô thị và có ảnh hưởng nhất định vào nông thôn Việt Nam. Triều đình Huế đã chấm dứt việc thi cử bằng chữ Hán, Hán học bị thất thế, Vũ Đình Liên với bài thơ Ông Đồ chia sẻ tâm trạng của cả xã hội Việt Nam đối với tầng lớp Nho sĩ thất thế. Xã hội Việt Nam xuất hiện nhiều giai tầng mới, trong đó có viên chức và công nhân.

Ngày nay, từ kết quả của các công trình nghiên cứu về Nho giáo, chúng ta không phủ nhận ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho giáo đối với văn hóa gia đình ở Việt Nam. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế và xã hội cho nên mẫu hình truyền thống của gia đình Việt Nam có những nét rất khác với gia đình truyền thống ở Trung Quốc. Cũng vì vậy, tư tưởng về gia đình của Nho giáo đã bị khúc xạ trong gia đình truyền thống ở Việt Nam. Ví dụ gia đình truyền thống của Trung Quốc đặc biệt nhấn mạnh vai trò, quyền lợi và trách nhiệm của họ tộc và thường gia đình phát triển theo hướng gia đình nhỏ thành đại tộc. Trong xưng hô, người Trung Quốc đưa họ lên vị trí chủ yếu (Lưu tiên sinh, Trần đại nhân...), tên người là phụ. Trong khi đó, ở Việt Nam, gia đình thường ở quy mô nhỏ, cách xưng hô thân mật hơn, nhấn mạnh tên người, đề cao tính cộng đồng “tối lửa tắt đèn có nhau”, “bán anh em xa mua láng giềng gần” chứ không đề cao tuyệt đối tộc họ, coi đó như là một đẳng cấp phân biệt trong xã hội.

Những đặc tính nói trên được phản ánh rõ trong các mối quan hệ trong gia đình mà chúng tôi sẽ phân tích ở các chương sau qua tục ngữ, ca dao.

2. KHÁI NIỆM TỤC NGỮ, CA DAO, PHONG TỤC, TẬP QUÁN

Đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các khái niệm về tục ngữ, ca dao, phong tục tập quán. Tuỳ từng góc độ chuyên môn, mỗi nhà nghiên cứu quan tâm đến những đặc tính này hay đặc tính khác của đối tượng để định nghĩa khái niệm, nhưng nói chung đã tương đối thống nhất ở những điểm cơ bản. Kế thừa quan niệm của các nhà khoa học đi trước, chúng tôi nêu lên những khái niệm sát với hướng nghiên cứu của chúng tôi như sau:

2.1. Khái niệm tục ngữ

Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian, được hình thành và sử dụng trong lời nói hàng ngày, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống, thường ngắn gọn, có vần điệu, thành câu hoàn chỉnh, có chức năng thông báo, được phổ biến rộng rãi trong nhân dân.

2.2. Khái niệm ca dao

Ca dao là một thể loại văn học dân gian, có tính trữ tình, có vần điệu (phần lớn là thể lục bát hoặc lục bát biến thể) do nhân dân sáng tạo và lưu truyền qua nhiều thế hệ, dùng để miêu tả, tự sự, ngụ ý và chủ yếu diễn đạt tình cảm. Nhiều câu ca dao vốn là lời của những bài dân ca. Vào giai đoạn muộn về sau, ca dao cũng được sáng tác độc lập.

Cần nói thêm rằng giữa tục ngữ và ca dao có sự giao thoa nhất định. Có những trường hợp tục ngữ dược trình bầy dưới hình thức ca dao (thể thơ lục bát); có những trường hợp khó phân biệt là tục ngữ hay ca dao.

2.3. Khái niệm phong tục, tập quán trong quan hệ gia đình

Phong tục, tập quán trong quan hệ gia đình là những thói quen đã thành nếp lâu đời, được lan truyền rộng rãi, ăn sâu trong quan hệ giữa các thành viên trong gia đình cũng như xã hội.

Phong tục và tập quán khác nhau ở chỗ: Tập quán là thói quen hình thành trong các sinh hoạt mà con người tiếp thu được và tự giác thực hiện hành vi của mình. Phong tục là quy định bất thành văn mà cộng đồng người quy ước với nhau có tính bắt buộc mọi người phải theo. Vì thế tục ngữ có câu "Nhập gia tùy tục". Ai làm trái quy ước đó sẽ bị dư luận chê bai và người có quyền uy nhắc nhở. Ví như trong các cuộc giỗ họ, những người có thứ bậc ngang nhau được ăn cùng mâm. Một số làng đặt ra hương ước - đây là cách thức văn bản hoá phong tục để yêu cầu mọi người tuân thủ. Vì thế mới có câu "Phép vua thua lệ làng".

2.4. Mối quan hệ giữa tục ngữ, ca dao và phong tục tập quán

Giữa tục ngữ, ca dao và phong tục tập quán có mối quan hệ hữu cơ, tương hỗ. Phong tục, tập quán là cái được phản ánh, còn tục ngữ, ca dao là hình thức phản ánh của cái được phản ánh. Tục ngữ, ca dao xuất phát từ cuộc sống, phản ánh phong tục, tập quán, đúc kết thành kinh nghiệm và biểu bộ tình cảm theo quan niệm dân gian và trở lại tác động vào cuộc sống, góp phần phổ biến những phong tục tập quán tốt đẹp, phê phán những thói hư tật xấu trong xã hội.

3. NHỮNG Ý KIẾN CHÍNH XUNG QUANH CÁC MỐI QUAN HỆ TRONG GIA ĐÌNH NGƯỜI VIỆT ĐƯỢC PHẢN ÁNH QUA TỤC NGỮ, CA DAO

Những nhà nghiên cứu đi trước ít nhiều đã nghiên cứu về nội dung tục ngữ, ca dao theo các góc tiếp cận khác nhau. Đóng góp của họ là rất lớn, đã thúc đẩy ngành nghiên cứu văn học dân gian phát triển. Tuy vậy, việc phân tích sâu chủ đề phong tục tập quán về gia đình trong tục ngữ, ca dao chiếm tỉ trọng còn thấp trong những công trình khảo cứu về tục ngữ, ca dao nói chung. Từ năm 1969 đến năm 1971 và năm 2000 có hai công trình đi sâu vào nội dung tục ngữ, ca dao, đặc biệt là khảo sát khá kỹ các mối quan hệ của con người trong xã hội, đó là Thi ca bình dân Việt Nam (1969 - 1971) của Nguyễn Tấn Long, Phan Canh và Đạo làm người trong tục ngữ, ca dao Việt Nam (2000) của Nguyễn Nghĩa Dân.

Chúng tôi xin lược trích một số công trình nghiên cứu về tục ngữ, ca dao có liên quan đến chủ đề gia đình như sau:

Trong Ca dao - dân ca- tục ngữ - vè, Hoàng Như Mai có bài Tình yêu và hạnh phúc gia đình trong thơ ca dân gian, Anh Biên có bài  Quan niệm về con người trong tục ngữ, Lê Anh Hiền có bài Tục ngữ và ca dao Việt Nam với tình mẫu tử, trong đó các tác giả trình bày những biểu hiện tốt đẹp trong quan hệ gia đình được tục ngữ, ca dao phản ánh, nhấn mạnh đến vấn đề đáng quan tâm nhất là sự hoà thuận trong gia đình người Việt.

Các soạn giả Thi ca bình dân Việt Nam (tập 2) đã khảo sát 6 vấn đề đặt ra:

- Phong tục Việt Nam xuyên qua ca dao.

- Quan niệm về chế độ gia đình.

- Những vui buồn trong mưu sinh.

- Biến thái của tình cảm con người đối với sinh hoạt xã hội.

- Tình yêu quê hương dân tộc.

- Ý thức đấu tranh của người bình dân qua các chế độ thống trị.

Khái quát các nội dung trên, các tác giả nêu nhận định:

"… dân chúng Việt Nam bị ách đô hộ người Tàu thống trị, nền tảng của triết thuyết Nho giáo ăn sâu vào xã hội Việt Nam, ảnh hưởng vào mọi gia đình Việt Nam đến tận gốc rễ. Vậy sự chống đối của người bình dân đối với chế độ gia đình là sự chống đối giữa quan niệm người bình dân trước mọi ảnh hưởng ngoại lai của lý thuyết Khổng Mạnh." [73:161-162].

Vào năm 1940, Kinh Thi Việt Nam của Nguyễn Bách Khoa (Trương Tửu) nói về quan hệ gia đình, về Chống nam quyền như sau: "Luân lý phụ quyền đặt người đàn ông lên địa vị chủ tể. Phụ nữ Việt Nam đã mỉa mai, giày đạp cái oai quyền ấy. Họ tìm đủ tính xấu của đàn ông đem ra trào phúng, để chứng rằng địa vị ưu thắng của đàn ông không được họ công nhận." [52.103]. Qua ca dao, ông rút ra những tính xấu của đàn ông bị phụ nữ mỉa mai là: hoang đàng, đĩ thoã, phụ tình, và nhận định rằng người đàn bà đã nổi loạn, cố đạp đổ cái hình tượng đàn ông.

Nguyễn Bách Khoa dành hai chương Gia tộc phụ hệChống nam quyền để phân tích về gia đình Việt Nam thể hiện qua ca dao:

"Đứa con không là gì hết, người đàn bà không là gì hết, con người không là gì hết. Cha là tất cả, chồng là tất cả, đàn ông là tất cả. Đó là chân lý phụ quyền của Nho giáo, mà giai cấp sĩ phu vẫn muốn dùng làm luân lý nền tảng của xã hội Việt Nam cũ, bởi nó rất thích hợp với chế độ quân quyền và kinh tế nông nghiệp, hai nguồn quyền lợi của giai cấp ấy. Nhưng chế độ quân quyền với trạng thái nông nghiệp ở xứ ta cũng mang một hình thức đặc biệt không giống xã hội Trung Quốc. Cho nên chế độ gia tộc Việt Nam chỉ tiến được đến khuôn khổ phụ hệ là ngừng lại, không đủ điều kiện chuyển sang khuôn khổ phụ quyền tuyệt đối như ở Trung Hoa. Vì thế mà ở trong dân gian luôn luôn lưu hành một sức chống nam quyền, chống phụ quyền, chống Nho giáo rất là mạnh mẽ." [63:102].

Trong tác phẩm Chống hôn nhân gia đình phong kiến trong ca dao Việt Nam (1960), Hằng Phương viết: "Dưới chế độ phong kiến, mặc dầu bị đàn áp thậm tệ, bị luân lý phong kiến mê hoặc, nhồi sọ, nhưng những tư tưởng chống đối vẫn nẩy nở và phổ biến rộng rãi trong câu ca tiếng hát dân gian." [122:1]. Tác giả nêu lên những nội dung có tính chất chống đối trong ca dao là:

- Những nỗi lo âu và đau khổ của nam nữ thanh niên thời xưa.

- Cưỡng ép hôn nhân.

- Tảo hôn.

- Đa thê

- Cảnh góa bụa.

- Mẹ chồng nàng dâu, mẹ ghẻ con chồng.

- Không dân chủ trong gia đình.

Vào năm 1960, viết như trong tiểu luận thể hiện một tinh thần chống đối phong kiến đáng trân trọng. Công trình nghiên cứu tuy còn sơ lược nhưng cũng đã nêu lên diện mạo phía trái của gia đình Việt Nam; tuy nhiên, nếu không nhìn sang phía phải, thì e rằng sẽ không tìm ra những truyền thống quý báu trong quan hệ gia đình người Việt để gìn giữ và phát huy.

Nguyễn Nghĩa Dân chia tục ngữ, ca dao về đạo làm người thành hai loại: một loại về lao động, học tập, tu dưỡng rèn luyện bản thân, và loại về đạo làm người trong quan hệ gia đình. Tác giả viết:

"Tục ngữ, ca dao nêu bật truyền thống hiếu thảo của con  đối với cha mẹ,"… "Trong truyền thống văn hóa Việt Nam, đạo hiếu được xem như một chuẩn mực bao trùm để định giá đạo đức của một con người."[19:56].

"Tục ngữ, ca dao cũng không quên phê phán những hiện tượng bất hiếu được lưu truyền như kinh nghiệm xấu..."

"Cùng với quan hệ cha mẹ con cái là quan hệ anh chị em, gần gũi và tình nghĩa. Quan hệ ruột thịt thắt chặt mối quan hệ này..." [21:57].

"Quan hệ vợ chồng chủ yếu là tình yêu và hòa thuận." [21:58].

Phần gia đình chỉ là một điểm (6 trang) trong chuyên luận trên bẩy chục trang, do đó chỉ nêu được những ý chính mang tính nhận định khái quát, không đi sâu phân tích, chứng minh. Trong khi phân tích, dẫn chứng, tác giả cũng trích dẫn tục ngữ, ca dao.

Vũ Ngọc Phan viết:

"Trong chế độ phong kiến, việc quy định tài sản đối với phụ nữ rất là khe khắt. Việc quy định ấy chủ yếu làm cho phụ nữ không bao giờ được độc lập về kinh tế, dù chính phụ nữ đã góp phần xây dựng kinh tế gia đình:

Hỡi cô cắt cỏ đồng mầu!

Chăn trâu cho khéo làm giầu cho cha.

- Giàu thì chia bảy chia ba,

Phận em là gái được là bao nhiêu!

Trong 24 huấn điều của Lê Hiến Tông (1500) huấn điều thứ tám và thứ chín đã quy định về phụ nữ: "Khi chồng chết, phải thương yêu con vợ trước hoặc con vợ lẽ của chồng, nếu có gia tài, không được chiếm đoạt làm của riêng mình.", "Khi chồng chết mà mình chưa có con, thì phải ở lại nhà chồng, giữ việc tang lễ, không được giấu giếm chuyển vận tài sản nhà chồng đem về nhà mình". [99:338].

"Nhưng ca dao Việt Nam đã chứng tỏ rằng trong quần chúng nhân dân, tư tưởng chống đối giai cấp phong kiến vẫn là tư tưởng chủ đạo. Cho nên trong hôn nhân khi họ đã không ưng thuận, thì họ cũng không kể gì giàu sang phú quý, và cũng không tin gì ở số mệnh:" [114:339].

Vũ Ngọc Phan còn đề cập đến những vấn đề khác trong quan hệ gia đình như: mâu thuẫn mẹ chồng - nàng dâu, chế độ đa thê, cảnh khổ lẽ mọn, đạo tam tòng trói buộc người phụ nữ.

Giáo sư Đinh Gia Khánh viết:

“Điều 307 Lê triều hình luật quy định rằng người chồng xa cách vợ năm tháng, không thăm hỏi đi lại thì có thể bị mất vợ. Đã có con với nhau rồi thì gia hạn từ năm tháng lên một năm. Nếu vì công sai (đi việc công) thì bất luật (tức là có thể vắng nhà lâu, không bàn tới kỳ hạn).

Như vậy là quyền lợi và hạnh phúc người phụ nữ được coi trọng và được bảo vệ, trái hẳn với quan niệm nam tôn nữ ty của Nho giáo.

Điều lệ thi hành từ năm Hồng Đức thú hai (1471) quy định rất rõ quyền lợi của phụ nữ trong việc thừa kế gia sản.”

…“Như vậy là trong gia đình, con gái cũng được coi bình đẳng như con trai. Thật là trái với quan niệm “nữ nhân ngoại tộc”, “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” theo lễ giáo của nho gia.” [61: 285].

Nguyễn Tấn Long và Phan Canh nhấn mạnh đến luật pháp của phong tục, nó khiến cho chế độ cai trị phải tôn trọng lề thói của địa phương. Các tác giả liên hệ: ''Trong thi ca bình dân, những tầng lớp phụ nữ đã nối tiếp nhau qua nhiều thế hệ, nói lên ý thức chống đối của họ, cho nên, ngoài sự phát triển mức sống của hệ thống kinh tế, sự chống đối giữa ý thức cai trị và ý thức tục lệ chính là mầm mống phân chia trong hệ thống chính trị." [61:81].

Phân tích quan niệm về chế độ gia đình, các tác giả nêu ra 11 vấn đề là:

- Ảnh hưởng của chế độ phụ hệ.

- Ý thức bất mãn trong chế độ phụ hệ.

- Nỗi khổ cực trong sinh hoạt gia đình bình dân.

- Ý thức bảo vệ và xây dựng gia đình.

- Ý thức về giáo dục gia đình.

- Những khắc khoải của tình yêu qua phong tục lễ giáo.

- Hiếu đạo với ông bà, cha mẹ.

- Tình anh em.

- Tình vợ chồng.

- Tình thân thuộc.

- Tình làng xóm.

Trong quá trình phân tích, các tác giả đã nêu lên ảnh hưởng của chế độ phụ quyền vào gia đình người Việt, thể hiện ở ý thức của con người theo quan điểm Nho giáo: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử, nghĩa là: ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con (trai).

Trong Thi ca bình dân Việt Nam, các tác giả cũng phân tích theo ba nội dung của giáo lý tam tòng:

“Theo phân tích trên, chúng ta căn cứ vào tục ngữ, ca dao Việt Nam để nhận xét, thì người Việt Nam không chống chế độ phụ hệ, mà chống chế độ phụ quyền."

... "Người đàn bà Việt Nam thương chồng và theo chồng trên căn bản, không phải bị áp bức, bắt buộc, mà phát xuất từ tình thương, ở lòng mong mỏi xây dựng gia đình. Bởi vậy, chúng ta thấy trong tâm tư họ có cái gì tha thiết, như:

       Vai mang khăn gói theo chồng

Đắng cay thiếp chịu, mặn nồng thiếp cam." [72:197-198].

Các tác giả nhận xét rằng người đàn bà bình dân đã chống lại chế độ phụ quyền bằng cách lật đổ hình tượng người đàn ông, chỉ rõ những thứ xấu xa của người đàn ông, phủ nhận ý thức tôn thờ người đàn ông:

"Cho nên, nếu người đàn ông đem giá trị người đàn bà hạ nhục để khống trị[1], thì người đàn bà cũng đem giá trị người đàn ông hạ nhục để chống lại. Trạng thái ấy phản ứng rất rõ rệt trong ca dao Việt Nam, ..." [72:203].

"Sự khinh miệt giữa người đàn ông và người đàn bà chứng tỏ ý thức chống đối mãnh liệt. Trong lúc chế độ phụ quyền bắt buộc người đàn bà phải sống theo đạo tam tòng, mà người đàn bà lại đem những thói hư, tật xấu của người đàn ông ra châm biếm, khác nào họ dùng những mũi tên độc bắn thẳng vào nền phong kiến, đập vỡ những áp bức, bất công mà gia đình Việt Nam đã chịu ảnh hưởng xã hội Trung Quốc.”

... "Tình thương của họ đã đặt lên trên quyền điều khiển của mẹ cha. Thực ra, không phải họ bất hiếu, hay quên ơn cha mẹ, mà chính vì họ cảm thấy chế độ phụ quyền đem đến cho đời sống họ những bất công, những thảm trạng mà chính họ phải gánh chịu hậu quả." [72:205].

..."Tóm lại, giáo lý "tam tòng" của Khổng Mạnh đã bị đổ nát. Dòng lịch sử đấu tranh chống phụ quyền của người đàn bà chiến thắng, phá vỡ hoàn toàn cái hình tượng tôn thờ đàn ông. Trong khi chống phụ quyền, họ đã tỏ ra một thái độ cương quyết cực đoan, trắng trợn. Họ đòi bình quyền với đàn ông về mọi phương diện.

Nhưng, cương quyết và cực đoan chưa phải là lợi khí mầu nhiệm trong lịch sử đấu tranh của họ. Điều thành công là họ đã khéo lôi cuốn đàn ông, lớp người tân tiến, cùng đứng chung trong ý thức chống đối của họ để tạo thành một phong trào giải phóng phụ nữ." [72:220-221].

Nhận định trên đây có nét cực đoan, đã đối lập tuyệt đối người đàn ông với người đàn bà. Về phương pháp tiếp cận nội dung ca dao, không nên coi những nội dung chống lại người đàn ông là của riêng người đàn bà, vì đó, chính xác hơn, là ý thức phê phán của cả cộng đồng đối với những thói hư tật xấu trong xã hội. Mặt khác, chống phụ quyền không phải bằng cách bêu xấu người đàn ông, cũng không phải bêu xấu người đàn ông là nhằm chống phụ quyền. Đúng ra, đó là sự nhìn nhận khách quan của các tác giả dân gian, không bị ràng buộc bởi ý thức phụ quyền cực đoan, đã phê phán đúng những biểu hiện xấu xa của một số người đàn ông trong xã hội. Về mặt thi pháp, không nên phân tích nhân vật và hình tượng trong tục ngữ, ca dao theo cách phân tích của văn học thành văn, bởi vì văn học thành văn là sản phẩm của một cá nhân, mỗi tác phẩm là một sản phẩm riêng biệt, nhân vật, hình tượng trong đó mang tính độc lập tương đối, có thể được nhìn nhận một cách độc lập; trong khi đó tục ngữ, ca dao là tác phẩm của tập thể, thể hiện ý thức của cả một cộng đồng, không những thế lại được hình thành và hoàn thiện trong cả một quá trình lịch sử, cũng vì vậy, từng đơn vị tục ngữ, ca dao dù có khả năng đứng độc lập vẫn có mối quan hệ mật thiết với nhau, muốn nhìn nhận chính xác những vấn đề mà nó đề cập thì phải nghiên cứu một cách tổng thể theo hệ thống. Cho nên cách phân tích nhân vật người đàn bà như trên là không phù hợp.

Về ý thức bảo vệ, xây dựng gia đình, các tác giả của Thi ca bình dân Việt Nam viết rằng dân tộc Á Đông coi trách nhiệm đối với gia đình là bổn phận thiêng liêng, ý thức ấy được thể hiện mạnh mẽ trong ca dao:

"Về ý thức gia đình họ (tức người bình dân) không cho yếu tố tài năng là căn bản, mà cho yếu tố hòa thuận là quan trọng thì đó chính là một triết lý sâu xa mà chúng ta không thể xem thường."

"Muốn tạo hòa khí gia đình, vợ chồng thường lấy sự nhịn nhục làm đầu."

..."Tuy nhiên, thời xưa dưới chế độ phụ quyền của nền móng phong kiến, người đàn bà bị lắm điều áp chế, thành thử ý thức nhịn nhục chỉ có trong người vợ." [72:283].

 Về những khắc khoải của tình yêu qua tập tục lễ giáo, có những ý chính như sau:

"Quyền cha mẹ định đoạt số phận yêu đương của con chính là nguyên nhân phát sinh những tâm hồn khắc khoải của nam nữ thanh niên thời bấy giờ." [72:336].

"Tóm lại, đối với phong tục lễ giáo, người bình dân bao giờ cũng cố sức bảo vệ và duy trì. Chính nhờ sự bảo vệ và duy trì ấy mà ngày nay nước Việt Nam ta còn được những mầu sắc dân tộc.” [72:342-343].

Về tình vợ chồng, các tác giả viết: "Trước nhất, chúng ta thường thấy trong ca dao Việt Nam, người bình dân quan niệm sự sống chung giữa vợ chồng là một cái "đạo". [72:491]. Các tác giả đã phân tích khá tỷ mỉ các mối quan hệ của tình vợ chồng khi gần gũi, khi sóng gió, khi xa cách, rồi đi đến kết luận:

"Tóm lại, đối với tình vợ chồng, người bình dân gọi là cái đạo. Cái đạo theo quan niệm của họ là bình đẳng, tương thân và chung thủy, khác với đạo "tam tòng" của Khổng Mạnh. Trong lúc đạo "tam tòng" tước đoạt hết quyền của người đàn bà, bắt người đàn bà phải sống lệ thuộc vào đàn ông, tạo trong gia đình quý tộc sự bất bình đẳng, thì đạo vợ chồng của người bình dân ngược lại dùng ý thức sinh hoạt làm nghĩa vụ, khiến cho nền tảng bình đẳng được bảo vệ và duy trì. Và ý thức dân chủ cũng chính là ý thức của gia đình bình dân thuở xưa." [72:418].

Nói về gia đình nhà nho, Phó giáo sư Trần Đình Hượu đã nhận xét:

"Tuy thế, trong những gia đình gia thế, tay hòm chìa khoá lại là ở người đàn bà, người chồng giao hết tiền nong cho vợ và không bao giờ kiểm soát sự chi tiêu của vợ. Người đàn bà được coi là nội tướng, chủ phụ, tuy về danh nghĩa là nghe theo lời chồng, giúp chồng, nhưng thực tế thì là người chủ trì việc nhà."[57:330-331], "Nhưng quan hệ giữa nam nữ phải hình dung theo quan hệ giữa âm và dương, có chủ có tùng, không thể thiếu nhau và phải dựa vào nhau. Một bên sinh một bên dưỡng, một bên bắt đầu, khởi xướng, một bên hoàn thành, hỗ trợ cho nhau. Cho nên trong nhà đàn ông là chủ, đàn bà phải thuận tùng, nhưng đàn ông phải yêu thương kính nể vợ."[57:331].

Nhà giáo Nguyễn Nghĩa Dân nghiên cứu một cách tổng thể tục ngữ, ca dao theo phương pháp nghiên cứu văn học dân gian, và đặc biệt là phương pháp quy nạp, để luận bàn về đạo làm người được thể hiện qua tục ngữ, ca dao:

"Kinh tế nước ta chủ yếu là nông nghiệp, gia đình vừa là đơn vị lao động vừa là tế bào của tổ chức xã hội, lại đề cao phụ quyền nên ở gia đình có nhiều "công thức" về đạo làm người do giai cấp phong kiến thống trị áp đặt như phụ: từ, tử: hiếu, phu: xướng, phụ: tùy, tam tòng, tứ đức; trọng nam, khinh nữ. Trong gia đình cũng có những thành kiến về "bà gia[2] nàng dâu", về "dì ghẻ con chồng", về "anh em rể, chị em dâu", về "ông chú mụ o"... làm cho quan hệ gia đình thêm phức tạp. Gia đình rồi dòng họ trở thành cơ sở vững chắc ở nông thôn, từ đó có những quan hệ hẹp hòi "Một giọt máu đào hơn ao nước lã", "Chín đời họ mẹ còn hơn người dưng". Tục ngữ về đạo làm người một mặt làm nhiệm vụ phản ánh, mặt khác đấu tranh chống lại những tập tục thành kiến nói trên" [21:24].

Nói đến giai đoạn thế kỷ XV, tác giả nhận định:

“Chính trong thời kỳ này, tục ngữ về đạo làm người chịu ảnh hưởng tư tưởng nhân văn của Nho giáo và Phật giáo có thể thẩm thấu từ trên xuống hoặc hoặc từ ngoài vào do trí thức Nho hoặc Phật (kể cả nho sĩ bình dân) làm chức năng sáng tác, đúc kết hoặc truyền đạt." [21:25].

"Cho nên, trước kia cũng như hiện nay, trong đạo làm người của Việt Nam vẫn tồn tại những tư tưởng nhân văn của đạo đức Á Đông nhưng điều cần xác định là qua tục ngữ hoặc ca dao về đạo làm người, những tư tưởng đó đã được Việt hóa, hòa vào bản sắc dân tộc, vào tinh hoa văn hóa chung về dựng nước và giữ nước hình thành từ hàng nghìn năm qua." [21:26].

"Tục ngữ, ca dao Việt Nam về đạo làm người thể hiện không chỉ tư tưởng, đạo đức mà còn thể hiện đậm nét lối sống trong đó nổi lên nếp sống cộng đồng, tình nghĩa của dân tộc với tinh thần khoan dung, gắn bó đoàn kết, tạo nên sức mạnh to lớn để dựng nước và giữ nước." [21:27].

"Nếp sống cộng đồng, tình nghĩa nói trên của dân tộc ta bắt nguồn từ những điều kiện kinh tế nông nghiệp lâu đời, đồng thời cũng bắt nguồn từ hoàn cảnh xã hội thường xuyên phải đối phó với thiên tai và ngoại xâm". [21:28].

"Quan hệ dọc trong gia đình là chữ hiếu, quan hệ ngang là chữ đễ, quan hệ vợ chồng là chữ thuận, quan hệ con cháu đối với ông bà tổ tiên là thờ kính, "Uống nước nhớ nguồn"... "Cách xử lý trong gia đình bắt nguồn từ sự thương yêu, hòa hợp."  [21:29].

"...trong quan hệ nếp sống cộng đồng ta cũng có những hạn chế như gia trưởng, cục bộ địa phương, hủ tục, mê tín dị đoan... là những nhược điểm cần loại trừ khỏi đời sống hiện nay." [21:32].

Tác giả chia tục ngữ, ca dao về đạo làm người thành hai loại: một loại về lao động, học tập, tu dưỡng rèn luyện bản thân và loại về đạo làm người trong quan hệ gia đình. Tác giả viết:

"Trong truyền thống văn hóa Việt Nam, đạo hiếu được xem như một chuẩn mực bao trùm để định giá đạo đức của một con người." [21:56].

"Tục ngữ, ca dao cũng không quên phê phán những hiện tượng bất hiếu được lưu truyền như kinh nghiệm xấu..."

"Cùng với quan hệ cha mẹ con cái là quan hệ anh chị em, gần gũi và tình nghĩa. Quan hệ ruột thịt thắt chặt mối quan hệ này..." [21:57].

"Quan hệ vợ chồng chủ yếu là tình yêu và hòa thuận." [21:58].

Nhìn chung, phần gia đình chỉ là một điểm (6 trang) trong công trình khảo luận trên bẩy chục trang, do đó chỉ nêu được những ý chính mang tính nhận định khái quát. Tác phẩm còn có phần sưu tập, lựa chọn, giải thích tục ngữ, ca dao Việt Nam về đạo làm người theo 4 chuyên mục, trong đó có chuyên mục thứ hai là Tục ngữ, ca dao về đạo làm người trong quan hệ gia đình.

Trong Thế ứng xử xã hội cổ truyền của người Việt châu thổ Bắc Bộ qua một số ca dao - tục ngữ, Trần Thúy Anh đề cập đến thế ứng xử theo một tuyến mở rộng từ gia đình, qua họ hàng – làng xóm – vùng miền - đất nước. Theo định hướng “tiếp cận văn học dân gian từ ngả đường văn hoá học”, tác giả rút ra mấy thế ứng xử: có một tinh thần nhân văn dân gian, sự ứng biến, tính dung hợp – hoà hợp – khoa học, thế ứng xử nước đôi, lưỡng tri, đa tri, hành vi tình nghĩa, ứng xử bằng tình nghĩa.

Điểm lại như trên và so sánh, chúng tôi nhận thấy giữa các nhà nghiên cứu có sự không thống nhất trong nhận định về sự kiềm tỏa của Nho giáo trong đời sống xã hội (một bên coi sự ảnh hưởng của Nho giáo vào xã hội Việt Nam là sâu và rộng, tới tận gốc rễ, một bên coi sự ảnh hưởng ấy bị hạn chế nhiều). Theo chúng tôi, không thể nói như các tác giả Thi ca bình dân Việt Nam: "...nền tảng của triết thuyết Nho giáo ăn sâu vào xã hội Việt Nam, ảnh hưởng vào mọi gia đình Việt Nam đến tận gốc rễ." [73:197]. Chúng tôi đồng tình với nhận định của Quang Đạm và Phó giáo sư Trần Đình Hượu: Quang Đạm nói rằng sự kiềm tỏa của Nho giáo bị hạn chế khi đi sâu xuống các cơ tầng xã hội ở bên dưới. Phó giáo sư Trần Đình Hượu cũng đã viết: "Nho giáo ảnh hưởng sâu đến loại gia đình nhà nho, nhưng cũng thấm vào toàn bộ xã hội, tức là ảnh hưởng đến cả gia đình nông dân ở một số mặt. Cả hai loại gia đình đó cho ta thấy hình ảnh chung của gia đình truyền thống Việt Nam."

Với những cách chia nhóm phân loại, lược giải trên đây, chúng tôi thấy có hai điểm nổi bật là:

- Thứ nhất, về phong tục tập quán

Các tác giả nêu những ý chính là:  Chế độ phụ quyền rộng rãi. Trọng nam khinh nữ, quyền người chồng bao giờ cũng nặng hơn quyền người vợ. Tục vợ lẽ cũng là một tục trái với văn minh đời nay. Thích con trai. Trên kính dưới nhường, ở cho trong ấm ngoài êm, lấy hoà mục làm đầu. Dựng gia tộc là một việc làm được chú trọng. Nhưng gia đình quây quần với nhau thì nghĩa khí hẹp, kiến thức hẹp hòi, không bằng được người có giao tiếp rộng rãi. Phụng sự tổ tiên rất thành kính. Đạo làm con: hiếu thảo - biết kính trọng, thương mến, biết vâng lời, biết phụng dưỡng cha mẹ. Sự báo hiếu cho cha mẹ ở nghi lễ tang ma lạc hậu phiền quá thể, ăn uống theo kiểu trả nợ miệng, làm cho nhiều người khổ vì hủ tục. Đạo vợ chồng cư xử với nhau, trọng nhất là hai chữ hoà thuận. Người chồng trọng nhất là phải giữ nghĩa với vợ, mà vợ thì phải giữ tiết hạnh với chồng. Phụ nữ phải đủ tứ đức mới gọi là hiền, lại có nghĩa tam tòng nữa. Nghĩa vụ của người chồng đối với vợ thì chỉ ăn ở cho đúng đắn, biết thương yêu, quý trọng vợ, nhất là có tài trí, khiến cho vợ được nương nhờ. Vợ chồng đồng tâm hiệp lực.

Gia đình là nền tảng của xã hội, có gia đình mới có xã hội.

Ở Việt Nam, gia đình là một nền tảng vững chắc của xã hội. Gia đình Việt Nam bao quát rất rộng, mọi người đều có tình thân thuộc với nhau qua mọi thế hệ, không kể bởi họ nội, ngoại, nhiều khi bởi cả hai bên nội ngoại.

Nhìn tổng quát, tuy chưa đi sâu theo chuyên đề gia đình, nhưng những tác phẩm được dẫn trên đây đều đã nêu lên những đặc trưng chính của gia đình người Việt.

- Thứ hai, về nội dung tục ngữ, ca dao

Thông qua việc khảo sát tục ngữ, ca dao, các tác giả phân tích về quan niệm, cách ứng xử, những biểu hiện trong phong tục tập quán của người Việt xung quanh vấn đề gia đình trên những nội dung lớn là ảnh hưởng của chế độ phụ hệ, phụ quyền và triết thuyết Khổng Mạnh vào gia đình Việt Nam, sự chống lại triết thuyết ấy, những nội dung chung về gia đình, quan hệ cha mẹ con, quan hệ vợ chồng, quan hệ anh chị em.

Các tác giả nhận định chế độ phụ quyền có ảnh hưởng đến gia đình Việt Nam, đã tạo điều kiện cho ý thức tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử thâm nhập.

Những biểu hiện chính của thái độ chống lại triết thuyết Khổng Mạnh, theo các tác giả, là:

+ Người phụ nữ chống lại chế độ phụ quyền rất mạnh mẽ, họ mỉa mai, nổi loạn, đạp đổ oai quyền đàn ông. Đem thói hư tật xấu của người đàn ông ra châm biếm, đó cũng là cách tấn công vào chế độ phong kiến.

+ Tình thương của người phụ nữ đặt lên trên quyền điều khiển của mẹ cha, nhưng sự chống đối về ý thức “tại gia tòng phụ” không quyết liệt lắm.

+ Lôi kéo đàn ông, tạo thành phong trào giải phóng phụ nữ.

Về những đặc tính của gia đình người Việt, các tác giả nêu:

+ Những nét chung nhất là: Tương thân tương ái. Muốn tạo hoà khí gia đình thì cách ứng xử phổ biến là nhịn nhục, nhưng chỉ có phụ nữ nhịn nhục. Không lấy tình yêu trai gái làm yếu tố chính cho tình cảm gia đình, mà lấy tình cảm sinh hoạt làm căn bản. Gia đình là cơ sở giáo dục con người. Người dân Việt đã bảo vệ phong tục lễ giáo, nhờ thế mà ngày nay ta còn được những mầu sắc dân tộc. Trong truyền thống văn hóa Việt Nam, đạo hiếu được xem như một chuẩn mực bao trùm để định giá đạo đức của một con người. Ngày nay, đạo thờ cúng tổ tiên còn được duy trì và tồn tại chính là nhờ ý thức hiếu đạo của người bình dân. Gia đình rồi dòng họ trở thành cơ sở vững chắc ở nông thôn, từ đó có những quan hệ hẹp hòi. Trong đạo làm người của Việt Nam vẫn lưu giữ những tư tưởng nhân văn của đạo đức Á Đông nhưng điều cần xác định là qua tục ngữ, ca dao, những tư tưởng đó đã được Việt hóa, hòa vào bản sắc dân tộc, góp phần tạo ra tinh hoa văn hóa chung từ thời dựng nước, trải qua hàng nghìn năm hình thành và phát triển. Tục ngữ, ca dao Việt Nam thể hiện không chỉ tư tưởng, đạo đức mà còn thể hiện đậm nét lối sống, trong đó nổi lên nếp sống cộng đồng, tình nghĩa của dân tộc với tinh thần khoan dung, gắn bó đoàn kết, tạo nên sức mạnh to lớn để dựng nước và giữ nước. Quan hệ dọc trong gia đình là chữ hiếu, quan hệ ngang là chữ đễ, quan hệ vợ chồng là chữ thuận, quan hệ con cháu đối với ông bà tổ tiên là thờ kính, "Uống nước nhớ nguồn”. Cách xử lý trong gia đình bắt nguồn từ sự thương yêu, hòa hợp. Tình nghĩa là chất keo sơn gắn bó mọi thành viên trong một gia đình, một địa phương và trong cả nước, tạo nên sự cố kết vững chắc. "Nghĩa" là một giá trị đạo đức có trong luân lý Khổng Mạnh nhưng "nghĩa tình" lại là sáng tạo mang bản sắc dân tộc Việt. Tình nghĩa làm cho quan hệ giữa người với người Việt Nam bền chặt trong từng cộng đồng, từ gia đình đến xã hội. Nếp sống cộng đồng, tình nghĩa nói trên của dân tộc ta bắt nguồn từ những điều kiện kinh tế nông nghiệp lâu đời, đồng thời cũng bắt nguồn từ hoàn cảnh xã hội thường xuyên phải đối phó với thiên tai và ngoại xâm. Trong quan hệ nếp sống cộng đồng Việt cũng có những hạn chế như gia trưởng, cục bộ địa phương, hủ tục, mê tín dị đoan... Cùng với xu hướng phản phong của văn học dân gian Việt Nam, tục ngữ, ca dao về đạo làm người  chống lại những thói hư tật xấu, những hành vi vô đạo đức, phê phán những hiện tượng bất hiếu được lưu truyền như kinh nghiệm xấu, cần phải khắc phục...

+ Về mối quan hệ cha mẹ con: Tục ngữ, ca dao nhấn mạnh quan hệ mẹ con, ghi lại thiên chức và tình cảm của người mẹ. Tục ngữ, ca dao cũng nêu được truyền thống hiếu thảo của con đối với cha mẹ. Có tác giả khẳng định rằng qua tục ngữ, ca dao thấy quyền cha mẹ định đoạt số phận yêu đương của con. Tục ngữ, ca dao phê phán những biểu hiện tiêu cực trong quan hệ của con đối với mẹ.

+ Về mối quan hệ vợ chồng: Tục ngữ, ca dao cho ta thấy rằng trong quan niệm của người Việt, chung sống vợ chồng là một đạo lý. Vì vậy quyền hạn giữa người chồng và người vợ không phải chỉ có một chiều mà phải đặt trên tính chất tương ứng và bình đẳng. Quan hệ vợ chồng chủ yếu là tình yêu và hòa thuận. Người phụ nữ Việt theo chồng, nhưng không theo kiểu “tòng phu” của Nho giáo, không phải theo để hầu hạ, mà để chia sẻ niềm vui, là nghĩa vụ tương thân tương ái và bình đẳng xây dựng trên ý thức đồng lao cộng lực, chung thủy, khác với đạo "tam tòng" của Khổng Mạnh. Người phụ nữ Việt Nam thương chồng và theo chồng trên căn bản, không phải bị áp bức, bắt buộc, mà phát xuất từ tình thương, từ lòng mong mỏi xây dựng gia đình. Trong luật lệ của triều đình phong kiến, có một số trường hợp, như Lê triều hình luật có những điều khoản tỏ ra coi trọng phụ nữ.

+ Về mối quan hệ anh chị em: Trong tục ngữ, ca dao, tình anh em được nói tới ít, nhưng cũng thiết tha. Quan hệ anh em có khi bị ý thức tư hữu chi phối, nhưng tình huyết thống vẫn giữ một vai trò thiêng liêng.

4. NHÂN TỐ TÁC GIẢ CỦA TỤC NGỮ, CA DAO VỀ QUAN HỆ GIA ĐÌNH.

Tác giả của tục ngữ, ca dao chủ yếu là nông dân. Xã hội Việt Nam trước tháng 8 năm 1945 có tới 95% dân chúng mù chữ. Người được học chữ Hán hay chữ quốc ngữ thời ấy không nhiều, hay nói đúng là quá ít ở nông thôn Việt Nam. Phương thức sáng tác ngẫu hứng, truyền miệng trong môi trường sinh hoạt dân dã sản sinh những câu ca dao chan chứa tình cảm và hàm chứa nhiều tâm sự. Phương thức canh tác nông nghiệp cổ truyền, những luật tục của họ tộc, làng quê trong một xã hội tiến triển chậm chạp là môi trường nẩy sinh những câu tục ngữ đúc kết kinh nghiệm của con người đối với tự nhiên, xã hội và gia đình để truyền lại các các thế hệ kế tiếp.

Tuy nhiên, nếu khảo sát hàng nghìn câu ca dao, tục ngữ còn lưu giữ đến hôm nay, chúng ta dễ dàng nhận ra vai trò của những nhà nho trong việc sáng tác và phổ biến những câu ca dao, tục ngữ. Cũng cần nói thêm rằng ở một số bài viết về tác giả của tục ngữ và ca dao, một số nhà nghiên cứu đã minh chứng về sự hiện diện của tầng lớp nho sĩ trong các cuộc hát ví phường vải, những bài diễn ca tế thần, hát trống quân...

Cũng không là ngoại lệ trong số 730 câu tục ngữ và 1.179 câu ca dao nói về gia đình có ghi dấu ấn của nhà nho. Điều này thể hiện ở chỗ họ đã đưa những câu tục ngữ, thành ngữ của Trung Quốc, những châm ngôn của Nho giáo thành tục ngữ, ca dao của người Việt. Như "phu xướng, phụ tuỳ", "Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử", "phu quí, vợ vinh", "Trai làm nên năm thê bảy thiếp, gái làm nên thủ tiết thờ chồng", "Hổ phụ sinh hổ tử", "Hiếu thuận hoàn sinh hiếu thuận tử, ngỗ nghịch hoàn sinh ngỗ nghịch nhi", "Anh thuận em hòa là nhà có phúc", "Quyền huynh thế phụ",... Dấu ấn của nhà nho còn in đậm trong những câu ca dao nói về sinh hoạt gia đình, mà đặc biệt là những gia đình nhà nho lấy việc học hành, thi cử làm trọng:

- Ai đi đợi với tôi cùng

Tôi còn sắp sửa cho chồng đi thi

Chồng tôi quyết đỗ khoa này

Chữ tốt như rắn, văn hay như rồng

Bõ khi xắn váy quai cồng

Cơm niêu nước lọ nuôi chồng đi thi.

- Một chữ kinh mẹ, một chữ thờ cha

Dẫu mà trăng xế, bóng anh qua cũng đành.

Như vậy, rõ ràng là với tư cách tác giả dân gian, nhà nho đã dân gian hóa Nho giáo.

Trong số các nhà nho, chúng ta cần chú ý đến các nhà nho cấp thấp, họ là hàn nho, những người đèn sách theo nghiệp thi cử nhưng không đỗ đạt đành phải quay về làng, sống với làng. Do có chữ nghĩa nên được dân làng kính trọng và họ tham gia vào các sinh hoạt văn hóa của gia đình, làng xóm, thực hành phổ biến tư tưởng Nho giáo, cả cái tích cực và tiêu cực của tư tưởng đó. Phó Giáo Sư Nguyễn Từ Chi đã nêu lên những nhận xét xác đáng về tầng lớp Nho sĩ ở nông thôn như sau:

Các nhà Nho mà kiến thức sách vở tạo ra một uy thế lớn trước một dân chúng gồm những nông dân hầu đều mù chữ tự tập họp thành một tầng lớp xã hội riêng, có trẻ cũng từ thế kỷ XVII. Về mặt kinh tế, tầng lớp ấy không tách lhỏi nông dân, trái lại, rất gắn bó với nông dân. Quả vậy, trừ một số ít nhờ thi đỗ mà ra làm quan, đại đa số các nhà Nho vẫn tiếp tục sống tại làng mình cuộc sống khổ ải của người nông dân thường lấy nghề dạy học làm lẽ sống. ẤY thế mà chính cái đa số vô danh đó, từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, đã du nhập sâu vào nông thôn, vào từng xóm, từng nhà một, không chỉ mô hình Nho giáo, mà cả nền đạo lý hàng ngày thoát thai từ những lời dạy của Khổng Tử. [329]

Vì thế, khi tiếp cận tục ngữ, ca dao nói về quan hệ gia đình, chúng ta dễ dàng tìm ra nhiều câu truyền bá tư tưởng Nho giáo bên cạnh những câu phản kháng. Từ đó chúng ta hiểu rõ thêm tính hai mặt của triết lý sống dân gian.

TIỂU KẾT

Chúng tôi đã nêu lên những định nghĩa khái niệm về gia đình, tục ngữ, ca dao, phong tục tập quán trong quan hệ gia đình để thống nhất hướng lựa chọn tư liệu, hướng tiếp cận nội dung và phương pháp phản ánh của tục ngữ, ca dao.

Chúng tôi phân tích một số công trình chính trong nước có đề cập đến gia đình truyền thống Việt Nam để làm chỗ dựa cho sự so sánh sau này khi khảo cứu tục ngữ, ca dao người Việt về gia đình. Với quan niệm tục ngữ, ca dao, cũng như văn học nói chung, là tấm gương phản chiếu hiện thực, cho nên thông qua tục ngữ, ca dao, chúng tôi tìm ra những nét đặc trưng của gia đình người Việt truyền thống, qua đó góp phần tìm hiểu bản sắc dân tộc Việt.

Khảo sát những tác phẩm đã viết về tục ngữ, ca dao xoay quanh chủ đề gia đình, chúng tôi chia ra hai loại ý kiến chính:

- Loại ý kiến thứ nhất nhận định: trong xã hội phong kiến, do ảnh hưởng sâu sắc đến tận gốc rễ của Nho giáo, và sự kiềm toả nghiệt ngã của lễ giáo phong kiến, các mối quan hệ trong gia đình, đặc biệt là quan hệ vợ chồng, hết sức căng thẳng, hôn nhân trong xã hội phong kiến không mang lại hạnh phúc gia đình. Chống lại chế độ hà khắc ấy, người đàn bà đã nổi loạn, đạp đổ hình tượng người đàn ông.

- Loại ý kiến thứ hai nhận định: sự ảnh hưởng của Nho giáo đối với xã hội Việt Nam tuy sâu sắc nhưng cũng bị hạn chế, nhất là đối với gia đình nông dân, cho nên trong quan hệ gia đình người Việt có nhiều yếu tố dân chủ, bình đẳng.

Cuối cùng, chúng tôi đưa ra một vài kiến giải về vai trò của nhà nho bị thất thế sống ở làng quê trong việc sáng tác các câu tục ngữ, ca dao phản ánh phong tục, tập quán trong quan hệ gia đình của người Việt, và nội dung của những câu này bị ảnh hưởng nhất định của tư tưởng Nho giáo.

 

[1] Tác giả dùng khống trị chứ không phải là thống trị.

[2] Từ bà gia do tác giả viết theo phương ngữ, có nghĩa là mẹ chồng.

 

Bạn đang đọc bài viết "Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình- Kỳ 2" tại chuyên mục Nghiên cứu. | Hotline: 08.4646.0404 | Email: toasoan@vanhoavaphattrien.vn