Văn hóa dân gian ứng dụng- Kỳ 13

TS. Trần Hữu Sơn

17/06/2021 09:57

TS. Trần Hữu Sơn - Viện trưởng Viện Văn hóa dân gian ứng dụng, có nhiều năm nghiên cứu về văn hóa dân tộc. Ông đã có mười đầu sách, công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian. Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển giới thiệu tới độc giả công trình nghiên cứu Văn hóa dân gian ứng dụng của ông, dày 324 trang.

tran-huu-son-1622795553.jpg
TS. Trần Hữu Sơn

VĂN HÓA DÂN GIAN ỨNG DỤNG- KỲ 13

NGÔI NHÀ NGƯỜI DAO VỚI MÔI TRƯỜNG

 

Nhà ở là môi trường duy trì sự cân bằng giữa con người và môi trường tự nhiên. Nó không chỉ có là nơi ghi dấu mọi sinh hoạt vật chất và tinh thần của mỗi thành viên trong gia đình mà có tác dụng che chở, bảo vệ cho con người trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên. Nhà ở của người Dao là kết tinh tinh túy nhất của núi rừng, là tấm gương phản chiếu mối quan hệ giữa con người với điều kiện tự nhiên như: đất, nước, khí hậu, và đặc biệt là quan hệ với rừng. Qua việc phân tích cách lựa chọn nơi định cư, hướng nhà, khai thác, sử dụng vật liệu làm nhà và đồ dùng sinh hoạt trong nhà thể hiên rõ đặc trưng văn hóa ứng xử với rừng của người Dao Đỏ với môi trường. Đó là đặc trưng ứng xử mềm dẻo, linh hoạt, tôn trọng, nương theo rừng, nghiêng về thích ứng với tự nhiên nhiều hơn là đối chọi.

1. Nhà và ứng xử với rừng, cây

1.1. Nhà liền kề nhưng không sát với rừng

Các nguyên tắc chọn đất làm nhà, chọn hướng nhà.. của người Dao cũng tương tự như chọn đất lập làng. Các ngôi nhà của người Dao tuy được làm ở gần rừng nhưng luôn giữ một khoảng cách nhất định với rừng. Ở vùng người Dao Đỏ ở huyện Sa Pa, nhà ở thường được làm cách xa rừng khoảng từ 100 - 200m. Vùng người Dao Đỏ huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái, các ngôi nhà đều làm cách rừng ít nhất từ 30 - 50m. Vùng người Dao Khâu, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, các ngôi nhà chỉ cách rừng khoảng 15 - 20m nhằm tránh cây đổ vào nhà, tránh rễ cây đâm vào nền nhà. Xã Tả Phìn huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu có Thôn Tả Phìn có 63 hộ gia đình đều làm nhà dựa lưng vào rừng, cách rừng 20m, thôn Trị Xoang có 67 nhà thì  thì có 49 ngôi nhà làm tựa lưng vào rừng, phía trước nhà nhìn ra tràn ruộng ven suối, 18 nhà phía trước và sau đều là rừng bao bọc, nhà ở trong rừng. Các ngôi nhà của người Dao làm ở rừng già hoặc rừng tái sinh nhưng không bao giờ làm nhà trong rừng cấm, rừng đầu nguồn nước của làng. Ở huyện Bát Xát và Sa Pa, tỉnh Lào Cai, người Dao Đỏ còn kiêng chọn hướng nhà nhìn vào khu rừng thiêng, rừng cấm.

Người Dao không chỉ chọn khu rừng, gần rừng để làm nơi cư trú mà còn trồng cây, sử dụng cây để ngăn gió vì trên cao hay có gió thổi mạnh. Họ thường trồng cây sa mộc, cây “tỉa tộ”, cây trẩu cách nhà khoảng 15m. Ở các vùng có gió Tây (gió nóng) của tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên thì cách nhà ở 15 - 30m người Dao cũng trồng các cây thân gỗ, trồng dày nhằm chống nóng ở hướng Tây. Các ngôi nhà ở gần các khe nước, người ta thường trồng tre, mai xung quanh nhà để chống sạt lở đất, ngăn gió bão và lũ lụt. Tất cả các loại cây thân gỗ này được trồng quanh nhà nhưng tuyệt đối không trồng trước cửa. Gần nhà hơn người Dao trồng các cây ăn quả như đào, mận, chanh, các vùng người Dao ở thấp hơn thì trồng quế, bưởi, vải, mía… nhưng chỉ trồng quanh nhà chứ không trồng trước cửa. Đặc biệt cây mai, cây quế chỉ được trồng bên trái nhà chếch hướng nhà để chống sạt lở đất, nhưng cũng không trồng sát ngôi nhà. Khoảng cách giữa ngôi nhà với các cây trồng này thường từ 10m trở lên, phòng việc cây đổ vào nhà.

Khảo sát một số gia đình người Dao ở thị trấn Tằng Loỏng (huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai) các cây được trồng trong khuôn viên nhà bao gồm có quế, bưởi, đu đủ, vải, mía. Các cây trồng này được trồng bao bọc xung quanh nhà, riêng hàng cây quế có tác dụng che chắn gió bão thường được trồng ở bên đầu hồi, hai bên lối vào nhà.

Quan sát ở hai làng người Dao Đỏ là Đầu Trát 1 và Đầu Trát 2, nhà của người Dao Đỏ thường có một vườn cây ở phía cửa chính thường được trồng các loại cây nhỏ, thưa cho hướng nhà luôn mát, kiêng không trồng cây gỗ to. Ở hai bên góc vườn này họ thường trồng cây đu đủ, chanh, khế, chuối cách nhau khoảng 10m. Đôi khi có gia đình cũng trồng thêm 1 - 2 cây quế ở hai bên góc khu vườn này để tạo bóng mát và bán vỏ, lá. Ở phía đầu hồi hai bên nhà, cách đầu hồi khoảng 20 - 30m hầu hết là đồi cây, nếu đầu hồi nhà ở gần khe thì họ trồng vài bụi tre. Tuy nhiên, ở đầu hồi chính – nơi cửa vào dành cho nam thường được để thoáng đãng. Phía sau nhà, cách nhà khoảng 15m - 20m thường trồng quế, mận, mía hoặc là đồi cây tự nhiên. Sau khi xảy ra một số vụ gió lớn thổi bay mái nhà, ông  Phàn Phú Châu thôn Đầu Trát 2 cho biết ngoài việc ứng phó bằng cách giằng gió, bít kín đầu hồi bằng phên hoặc liếp gỗ thì người Dao ở đây ứng phó bằng cách trồng thêm cây cơi “sum đẻng” có thân dẻo và các loại cây hương, quế “quế pì”, tre “hòn ghìm”, mai “hàu giằng”,… cách xa đầu hồi chừng 15m để cản bớt gió. Tuy nhiên nếu những cây này quá to và có những cành mọc chĩa về phía ngôi nhà thì người ta cũng chặt tỉa, vì ngoài nguyên nhân có thể đổ vào nhà thì những cây to, cao cũng dễ bị sét đánh rất nguy hiểm.

1.2. Rừng - kho vật liệu dựng nhà

Vốn là những cư dân của núi rừng Tây Bắc, người Dao đã sớm biết tận dụng những nguyên vật liệu từ rừng để dựng nhà, tạo ra một môi trường hoàn hảo để tránh mưa nắng, gió bão và phục vụ cho những sinh hoạt vật chất và tinh thần của mỗi gia đình, cộng đồng. Nhìn vào ngôi nhà của người Dao có thể dễ dàng nhận thấy toàn bộ các nguyên vật liệu sử dụng đều là của rừng. Yếu tố rừng thể hiện đậm nét trong từng chi tiết, cấu trúc nhà cửa. Với mỗi yếu tố cấu tạo nên ngôi nhà, người Dao đã khéo leo tận dụng và kết hợp các loạinguyên liệu sẵn có trong rừng như gỗ, tre, nứa, cỏ gianh, lạt mây,... Sự kết hợp đó không những tạo nên sự bền chắc cho ngôi nhà mà còn tạo nên cả yếu tố thẩm mỹ cho nơi ăn chốn ở.

Công việc chuẩn bị nguyên vật liệu dựng nhà của người Dao mất rất nhiều thời gian có khi đến cả 7 - 8 năm, ít cũng phải mất đến 2 - 3 năm. Trong các nguyên vật liệu như: gỗ, tre nứa, lá thì việc chuẩn bị gỗ là vất vả và mất nhiều thời gian nhất. Gỗ được người Dao sử dụng khá phong phú và đều được lấy từ những khu rừng già hoặc rừng tái sinh. Theo số liệu thống kê tại huyện Bát Xát và Sa Pa, người Dao Đỏ sử dụng gần 30 loại gỗ khác nhau để làm nhà. Người Dao Khâu ở Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu sử dụng trên 25 loại gỗ để làm nhà ở. Người Dao Họ và Dao Tuyển cũng sử dụng hàng chục loại gỗ khác nhau để làm nhà.

Các loại gỗ được ưa chuộng của đa số các nhóm ngành Dao đó là gỗ cây dổi, pơ mu, gỗ thông… Đây là loại cây thân gỗ to lớn, gỗ chắc, ít bị mối mọt và mọc phổ biến ở tất cả các khu rừng già, rừng tái sinh ở vùng núi cao. Đôi khi, chỉ cần một cây gỗ dổi to vài người ôm là có thể sử dụng đủ để dựng cả một căn nhà. Người Dao Đỏ ở Lào Cai sinh sống trên vùng núi cao có loại gỗ quý là cây pơ mu. Đây là loại cây gỗ có thân cao, thẳng, gỗ có dầu, rất chắc, bền, nhẹ và không bị mối mọt. Hiện nay loại gỗ này rất hiếm và còn một số gia đình người Dao Đỏ ở Sa Pa sử dụng làm ngói lợp nhà. Ngói làm từ gỗ cây pơ mu không thấm nước, có độ bền cao vài chục năm nên rất được đồng bào ưa thích. Các loại gỗ khác tùy theo chất gỗ cứng, mềm mà sử dụng chúng vào các cấu kiện của ngôi nhà cho phù hợp. Bộ phận chủ yếu được sử dụng của cây gỗ đó là thân cây, ngoài ra có một số trường hợp cá biệt chỉ được sử dụng phần lõi cây.

Hệ thống cột cái, vì kèo,… là những bộ phận chính tạo nên khung nhà. Đây là bộ phận chịu lực chủ yếu nên cần chọn các loại gỗ có độ bền cao. Người Dao Tuyển ở Lào Cai chọn các loại gỗ như: kháo, hoàn tâm, xuyến đất đỏ, táu, nhãn rừng, lõi cây sơn, dổi,…. Người Dao Đỏ thường sử dụng các loại gỗ như gỗ cây dổi, trâm, kháo, de, dẻ, pơ mu, cùn, bạc la,... Đặc biệt gỗ cây dẻ thường thẳng và dài được lựa chọn làm đòn nóc của ngôi nhà. Người Dao Khâu ở Sìn Hồ chọn gỗ dổi, chìa lầu đéng, gỗ thiu “đèng sui”, búa sét “bồ ông pâu đéng”, “tạp xam đéng”, gỗ nghiến “thịa lai đéng”, pơ mu “trồng pẹ đéng”, thông “pùa mẹ đéng”, dâu rừng “sèng phong chịa”, dẻ đỏ “piều im sị”, “đào pang đéng”,… Các loại gỗ này có thể dùng làm cột chịu lực tốt cho ngôi nhà, những phần gỗ thừa được sử dụng là rui mè, sàn, vách, cánh cửa, tấm lợp,… Để cố định các các cầu phong - ly tô với khung nhà và các tấm lợp với hệ thống khung mái trước đây người Dao thường dùng lạt chẻ từ cây giang, song mây hoặc cây mây rừng. Ngoài ra họ còn sử dụng các nêm gỗ để cố định các bộ phận của ngôi nhà chứ không bao giờ dùng đinh sắt để đóng liên kết các bộ phận. Với ngôi nhà lợp mái bằng ngói gỗ, nặng họ sử dụng rui mè bằng gỗ thay vì rui mè bằng tre vầu để tăng cường độ bền, chắc.

Tường nhà có hai loại, loại thứ nhất là tường nhà trình bằng đất. Loại nhà trình tường của người Dao thường được làm ở những vùng có mùa đông lạnh, khí hậu ẩm ướt, mưa nhiều. Nay loại nhà trình tường này vẫn còn khá phổ biến ở người Dao ở xã Ý Tý, Bản Qua, huyện Bát Xát và huyện Sìn Hồ tỉnh Lai Châu. Vùng người Dao Đỏ ở Sa Pa trước đây cũng làm nhà trình tường nhưng hiện nay đã chuyển hết sang nhà vách gỗ, tre, nứa. Loại đất được người Dao chọn để sử dụng trình tường là đất có màu vàng, người Dao gọi nôm na là đất thịt (đất sét). Loại đất này rất chắc, dính thường nằm sâu dưới lớp đất mặt khoảng 30 - 50cm. Sau khi khai thác đất dùng để trình tường phải được ủ ít nhất là 7 tháng, hạt đất nhỏ mịn mới sử dụng được. Người Dao đỏ ở thôn Đầu Trát, xã Xuân Giao, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai khi trình tường còn trộn thêm muối với tỉ lệ 1kg muối/1tạ đất. Người dân ở đây cho biết, họ trộn muối vào đất nhằm làm tăng độ kết dính của đất, tường nhà sẽ có độ bền cao hơn.

Loại thứ hai là vách được đan từ tre, vầu, nứa hoặc bằng các tấm gỗ ghép lại với nhau. Ván thưng không phải chịu nhiều lực tác động nên người Dao thường không khai thác các cây gỗ mới dùng làm ván thưng xung quanh nhà, mà họ tận dụng, xẻ những cây gỗ làm cột hoặc làm phang thừa. Đây là một cách mà người Dao đỏ hạn chế việc chặt phá rừng. Mặt khác, việc dùng gỗ thừa cũng giúp cho người Dao đỏ giảm được nhiều công sức đi chặt.Vách nhà được làm bằng gỗ hay đan bằng tre nứa là tùy thuộc vào điều kiện của mỗi gia đình. Vách nhà bằng tre nứa có độ bền thấp, không giữ ấm về mùa đông nhưng mát về mùa hè, nguyên liệu khai thác và chế biến dễ dàng. Vách nhà bằng ván gỗ có độ bền cao hơn, các mảnh ghép tương đối khít, giữ ấm cho ngôi nhà về mùa đông nhưng tốn nhiều công sức đi lấy và xẻ gỗ.

Mái nhà truyền thống của người Dao được lợp bằng các loại lá hoặc gỗ rừng tùy thuộc vào điều kiện của từng vùng. Các loại nguyên liệu sử dụng lợp mái phổ biến nhất là cỏ gianh, lá cọ và một số vùng người Dao lợp bằng ngói làm từ gỗ pơ mu, thông. Mái nhà của người Dao Họ trong truyền thống thường được lợp bằng những ống tre, nứa bổ đôi, cứ một thanh sấp thì một thanh ngửa úp vào nhau như kiểu lợp ngói âm dương. Mái này có thể dùng được từ 5 - 6 năm, và theo nếp cũ thì cứ 2 lần thay mái (khoảng từ 10 - 12 năm) họ lại chuyển đi nơi khác ở. Việc này phù hợp với khoảng thời gian du canh du cư của họ (khoảng từ 10 - 12 năm một lần). Người Dao Đỏ ở Sa Pa trước đây chủ yếu lợp mái bằng ngói pơ mu. Đặc điểm của loại gỗ này không thấm nước phù hợp với điều kiện thời tiết ẩm ướt ở Sa Pa. Người Dao Tuyển ở Hà Giang và Lào Cai thường lợp mái nhà bằng cỏ gianh hoặc lá cọ. Người Dao ở Bát Xát, Lào Cai làm nhà trình tường và lợp mái bằng cỏ gianh. Người Dao Khâu cũng chỉ sử dụng duy nhất một loại nguyên liệu để lợp nhà đó là cỏ gianh. Khác với người Dao Tuyển cỏ tranh trước khi lợp người Dao Khâu không đánh thành phên mà họ rải cả bó ranh lên mái nhà và dùng lạt mây buộc cố định với hệ thống cầu phong – ly tô. Họ cứ rải như vậy nhiều lớp và buộc lại cho tới khi đạt đến độ dày nhất định (khoảng từ 30 – 40cm). Các nguyên liệu sử dụng để làm mái nhà được chuẩn bị trước đó khá lâu. Với cỏ gianh, người Dao phải tìm các đồi cỏ gianh và đốt trước đó khoảng 1 năm rưỡi cho cỏ gianh lên đều và dài. Cỏ gianh phải được cắt về trước khi làm nhà khoảng hai tháng, phơi khô và bảo quản ở nơi khô ráo, thoáng mát. Khi chuẩn bị lợp nhà cỏ gianh mới được đánh thành từng phên. Lá cọ được lấy về phơi khô, chẻ mỗi lá ra làm 3 - 4 phần, đến khi lợp nhà mới đánh thành từng phên. Nếu lợp nhà bằng ngói gỗ pơ mu cũng phải chuẩn bị trước đó một thời gian. Gỗ sau khi lấy về được cắt xẻ thành từng viên ngói hình chữ nhật có chiều rộng khoảng 30 - 40cm, dài khoảng 50 - 60cm, để cho thật khô và bảo quản cẩn thận. Đến nay, do lượng gỗ pơ mu đã cạn kiệt nên chỉ một số ngôi nhà người Dao Đỏ ở Sa Pa giữ được loại ngói này. Hầu hết các gia đình đã chuyển sang sử dụng mái tôn hoặc lợp mái bằng tấm lợp xi măng.

1.3. Rừng cung cấp đồ dùng trong nhà

Ngoài nguyên vật liệu làm nhà được lấy từ rừng thì phần lớn các đồ dùng sinh hoạt chủ yếu quan trọng của người Dao Đỏ cũng được chế tác từ các nguyên liệu sẵn có trong rừng. Nắm bắt được thuộc tính của từng loại gỗ rừng, với mỗi loại đồ dùng sinh hoạt người Dao lại chọn những loại gỗ phù hợp. Với các dụng cụ chứa nước như thùng đựng nước, thùng tắm người Dao chọn loại gỗ chắc để khoét, đục rỗng lòng, riêng các loại thùng đựng nước được ghép từ các mảnh gỗ thì người Dao thường chỉ sử dụng loại gỗ pơ mu, gỗ thông với đặc tính là loại gỗ có chứa dầu, không thấm nước, nhẹ, đẹp, bền. Mặt bàn, giường, tủ được lựa chọn loại gỗ kháo để đóng vì loại gỗ này vừa cứng lại có những đường vân rất đẹp tạo nên tính thẩm mỹ cho đồ dùng. Chiếc thớt dùng để băm, chặt thức ăn được làm từ gỗ cây châm, gỗ nghiến. Đây là loại gỗ rất cứng, có độ bền cao không dễ bị nứt khi va chạm.

Hương “hum” được người Dao làm bằng vỏ cây hương “hum đốc” mọc ở trên rừng già và đôi khi cũng mọc ở rừng tái sinh. Người Dao Đỏ thường chọn ngày thanh minh và rằm tháng 7 để đi tìm và bóc vỏ cây hương. Khi bóc vỏ, người ta chỉ bóc mỗi cây một miếng vỏ có chiều rộng 20cm, dài 20 - 30cm là đủ sử dụng trong một năm. Họ không bóc hết vỏ cây hương vì làm như vậy cây hương sẽ bị chết và năm tới sẽ rất khó tìm cây khác để lấy vỏ. Chọn ngày thanh minh, ngày rằm tháng bảy vì ngày này thần linh đều về ăn tết cùng con cháu, đi lấy hương trong ngày này thì sau này khi đốt hương tổ tiên mới biết đường về, bảo vệ được gia đình. Các loại bàn thờ, ghế cấp sắc được người Dao làm từ gỗ cây dẻ. Đây là đồ dùng sinh hoạt có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng của người Dao Đỏ. Trong quan niệm của họ, cây dẻ là cây của người Dao. Tên tiếng Dao của loài gỗ này “tạ pèng đẻng” có chữ “tạ” nghĩa là “đức”. Người Dao sử dụng loại cây này làm bàn thờ, ghế cấp sắc với mong muốn con cháu trong cuộc sống luôn lấy chữ “đức” làm đầu .

nha-nguoi-dao-1623898830.jpg
 

2. Nhà ở thích ứng với điều kiện tự nhiên

2.1. Nhà tường trình thích ứng với địa hình và thời tiết vùng cao

Điều kiện tự nhiên khu vực cư trú của người Dao ở vùng Sìn Hồ - Lai Châu và cao nguyên Ý Tý, Dền Thàng thuộc huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai là những vùng có khí hậu khắc nghiệt. Nằm ở độ cao trên 1.500m (Sìn Hồ - Lai Châu) và trên 2000m (Ý Tý – Bát Xát – Lào Cai) so với mực nước biển, đây là các vùng đất nằm trong đới khí hậu cận nhiệt đới ẩm, địa hình có độ chia cắt mạnh tạo thành núi cao, khe sâu. Mùa đông lạnh giá kéo dài, sương muối rét buốt và thậm chí những năm gần đây cao nguyên Ý Tý năm nào cũng có tuyết rơi rất dày. Thời tiết quanh năm mây mù bao phủ, độ ẩm bình quân hàng năm dao động từ  82 - 87%, tháng thấp nhất 74%, tháng cao nhất trong năm 95%. Là các địa phương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng do ảnh hưởng của địa hình núi cao, nên khí hậu mang tính chất của khí hậu tiểu vùng cận nhiệt đới và ôn đới ẩm. Nhiệt độ trung bình cả năm là 150C; năm cao nhất là 16,60C; năm thấp nhất 14,30C. Lượng mưa trung bình năm từ 1800 – 3838mm. Đặc biệt, những ngôi nhà của người Dao được làm ở sát chân rừng già, hay gần các khe nước thì khí hậu lại càng có độ ẩm lớn có khi trên 90%. Sương mù thường xuất hiện phổ biến trong năm, đặc biệt vào mùa đông một số nơi có mức độ rất dày. Trong các đợt rét đậm, ở những vùng núi cao và thung lũng kín gió còn có cả sương muối, băng giá, tuyết, mỗi đợt kéo dài 2 - 3 ngày, gây ảnh hưởng xấu tới sản xuất nông, lâm nghiệp.

Để ứng phó với điều kiện sinh sống ở vùng cao nhiều gió, bão, độ ẩm lớn, thời tiết giá lạnh quanh năm, người Dao sáng tạo ra kiểu nhà trình tường hoặc nhà vách đất kiên cố, vững trãi. Những ngôi nhà trình tường, lợp mái gianh truyền thống vẫn còn tồn tại khá phổ biến ở vùng người Dao ở huyện Bát Xát (Lào Cai) và vùng người Dao Khâu ở huyện Sìn Hồ (Lai Châu). Bức tường trình dày giúp giữ ấm, chống ẩm vào mùa đông và làm mát cho ngôi nhà vào mùa hè rất hiệu quả.

- Kỹ thuật nhà trình tường

 + Kỹ thuật trình tường

Bức tường trình trong nhà trình tường của người Dao thường có độ dày từ 40 - 60cm. Theo truyền thống nhà ở của người Dao Khâu chỉ được trình tường ở hai bức ở đầu hồi và một bức tường phía sau. Phía trước nhà được quây vách bằng ván gỗ để tạo không gian thoáng đãng cho ngôi nhà. Thông thường khi làm nhà ở những khu đất mới, người Dao phải san nền cho thật phẳng và vuông vắn. Nếu nền san hơi dốc thì nền phía sau được san cao hơn nền phía trước một chút để khi mưa nước mưa không chảy ngược vào trong nhà.

Người Dao Đỏ ở huyện Bát Xát chọn loại đất vàng để trình tường. Người Dao Khâu ở huyện Sìn Hồ lại chọn đất trình tượng là loại đất sét đỏ, trắng, vàng. Đất sét thường ở sâu dưới lòng đất 30 - 50cm nên khi khai thác đất này người ta phải đào bỏ hết lớp đất mùn trên bề mặt. Loại đất này dẻo và có độ dính cao, phải được lấy ở xa chỗ nước chảy. Theo kinh nghiệm của người Dao ở huyện Bát Xát để có bức tường trình bền chắc họ phải đào đất lên, làm đất tơi ra và để ủ đống từ 7 tháng đến 1 năm. Đất ủ đống phải thật tơi mịn, loại bỏ những hòn đá và tạp chất khác. Với những ngôi nhà trình tường bằng đất ủ theo kiểu này độ bền có khi cả trăm năm. Nhưng thông thường, các gia đình người Dao không ủ đất khi trình tường. Thậm chí người Dao Khâu ở huyện Sìn Hồ còn sử dụng trực tiếp lớp đất thịt đào móng nhà để trình tường. Để làm một ngôi nhà trình tường ba gian người Dao phải chuẩn bị khoảng 10 tấn đất để trình tường. Nhà của người Dao Khâu thường làm 5 gian do đó thời gian trình tường kéo dài 10 – 15 ngày còn nhà của người Dao Đỏ trình tường mất khoảng 7 - 10 ngày.

Ngôi nhà trình tường phải làm trên nền đất thịt (đất củ) nếu là đất mượn thì không thể trình tường. Trước khi tiến hành trình tường cho ngôi nhà, người ta phải đào sâu xuống đất nền khoảng 30 - 50cm, rộng bằng với chiều rộng của khuôn trình. Sau đó đưa khuôn trình xuống rãnh đã đào, dùng dây da trâu để nịt van của ván trình cho chắc chắn rồi mới tiến hành trình tường. Van trình tường giúp cố định khuôn trình đứng im, khô xô lệch, nghiêng ngả khi giã đất trình tường. Các ngôi nhà trình tường hoặc nhà nửa sàn nửa đất của người Dao đều được kè đá rất cẩn thận và chắc chắn ở nền. Vì đất làm nhà chủ yếu trên các sườn núi dốc, dễ sạt lở nên việc kè đá rất quan trọng và cần thiết giữ an toàn cho ngôi nhà trong các điều kiện thời tiết xấu như mưa, bão. Khuôn trình người Dao Khâu gọi là “trình pân” có dạng hình hộp chữ nhật và thường được đóng bằng gỗ dổi hoặc gỗ vàng tâm. Khuân đóng từ hai tấm ván dày 6cm, kích thước 2 - 2,5m x 40cm, và hai tấm ván có kích thước 40 x 40cm tạo thành một chiếc khuân rỗng hai mặt. Van “ngùng” giữ khuôn trình được đóng từ 3 thanh gỗ dổi hoặc gỗ vàng tâm có hình vuông… được sử dụng kê ở phía dưới khuôn trong quá trình trình tường. Khi trình tường người Dao sử dụng thước rọi có tác dụng cân chỉnh cho tường trình thẳng, không bị mấp mô, nghiêng ngả. Chày trình “tạ clùi” là một đoạn gỗ nghiến có đường kính 7 - 10cm, dài khoảng 1,5m. Một đầu chày trình được vót nhọn, đầu kia vót dẹt như đầu chiếc đũa cả, ở giữa chày trình được đẽo một mấp nhỏ vừa tay cầm, dài khoảng 10cm. Đầu dẹt của chày trình để giã cho đất chặt xuống, đầu nhọn của chày có tác dụng tạo mặt phẳng khi kết thúc một lớp trình.

Trước khi trình tường, chủ nhà cần đo đạc, tính toán độ dài, rộng của nền nhà thật chính xác. Có như vậy, tường trình mới vững chãi, không bị nghả nghiêng trong quá trình thực hiện. Họ cắm cọc ở bốn góc của ngôi nhà rồi căng chéo hai sợi dây hình chữ X, điểm giao nhau nằm ở chính giữa hai sợi dây nghĩa là xác định nền nhà đã chính xác. Đào móng nhà thường chọn vào ngày khô ráo. Đào từ phía trước nhà ra phía sau. Sau khi đào móng họ kè đá dày khoảng 20cm đối với nền nhà chắc, kè cao 30 – 40cm đối với nền nhà làm trên đất không chắc. Đối với những ngôi nhà ở địa hình quá dốc thì họ sẽ kè đá ở phần toa ly âm cho cao lên rồi đổ đất chứ không đào quá sâu phần toa ly dương. Đá kè nền nhà là loại đá cứng, thường là đá phiến được thu nhặt ở quanh làng và có khi ở chính nền đất làm nhà. Người Dao tuyệt đối không lấy đá trong rừng thiêng hoặc chỗ có mộ chôn người chết để làm nhà. Khi xếp đá to được xếp ở dưới cùng sau đó đến các loại đá nhỏ hơn xếp lên trên. Trước khi xếp đá, người ta dùng cuốc đào một đường thẳng, chăng dây xác định mặt bằng xếp đá cho thẳng, đẹp. Ngoài việc làm tường nhà vững trãi như đã nêu trên thì còn phòng tránh khi trời mưa, nước mưa bắn vào làm ẩm, nứt chân tường. Trình tường của người Dao Đỏ ở Lào Cai được làm theo chiều kim đồng hồ (từ trái qua phải) bởi vậy người Dao mới có câu “trình tường từ cửa”. Nhưng ngược lại, người Dao Tuyển ở Hà Giang lại trình tường theo chiều ngược với chiều kim đồng hồ (từ phải qua trái). Nếu đất trình tường quá khô họ sẽ vẩy thêm chút nước để làm mềm đất và tạo sự kết dính. Giã cho đến khi đất trong khuôn nèn chặt, cao bằng miệng khuôn thì dừng lại nhấc khuôn lên và làm sang phần tiếp theo. Cứ như vậy họ trình tường từ phía cửa chính theo chiều kim đồng hồ, hết lớp thứ nhất lại trình tiếp lớp thứ hai, thứ 3,… Để đảm bảo cho bức tường cứng cáp và chắc chắn, người Dao không trình tường vào ngày trời mưa và trình cao  4 – 5 lớp khuôn thì nghỉ đợi cho đất kết dính mới trình tiếp. Khi trình tường một ngôi nhà, người ta sử dụng 3 – 4 khuôn trình tường. Mỗi lớp khuôn trình tường thường được làm so le nhau để tăng hiệu quả kết dính. Người Dao Đỏ ở tỉnh Lào Cai thường sắp xếp 6 người phụ trách một khuôn trình tường, trong đó 4 người giã đất trình tường, hai người ở hai bên nhận và đổ đất vào khuôn trình tường, số người phụ chuyển đất không giới hạn. Công việc trình tường của người Dao Đỏ ở huyện Bát Xát có sự tham gia của cả hai giới nam và nữ. Người Dao Tuyển ở tỉnh Hà Giang cũng có ít nhất 6 người phụ trách một khuôn trình tường, nhưng trong đó có hai người chuyên giã đất trình tường, hai người chuyển đất, một người đào đất và một người chuyên lo việc pha tre tươi thành các thanh giằng. Nhà của người Dao Tuyển ở tỉnh Hà Giang thường được trình tường cao 2,2m thì mới dựng bộ khung cột và trình tường tiếp cho đến khi hoàn chỉnh mới lắp ráp vì, kèo, đòn tay, rui mè, lợp mái. Tường trình cao hay thấp hơn là tùy thuộc vào ý muốn của chủ nhà và điều kiện của từng vùng. Người Dao Khâu ở huyện Sìn Hồ thường trình tường cao đến mái nhà (khoảng 3,5 – 4m) trong khi đó người Dao ở huyện Bát Xát lại trình tường cao bằng 1/3 đến 2/3 ngôi nhà, người Dao ở xã Nậm Cang (huyện Sa Pa) trình tường chỉ cao 2,2m, bên trên phần tiếp giáp với mái được nẹp bằng vách tre, nứa, gỗ… để đảm bảo thông gió, thoáng và có thêm ánh sáng cho ngôi nhà.

+ Kỹ thuật làm bộ kèo, cột

Nhà người Dao có nhiều kiểu khác nhau như: nhà sàn, nhà nửa sàn nửa đất, nhà nền đất,… nhưng bộ khung nhà đều được làm trên cơ sở các bộ vì kèo bằng gỗ.

Vì kèo 2 cột hay 4 cột phụ thuộc vào kích thước ngôi nhà to hay nhỏ. Với những ngôi nhà hẹp người ta chủ yếu làm vì kèo hai cột. Vì kèo hai cột cũng có một số dạng khác nhau. Trước đây, các cột chưa đục mộng họ liên kết và cố định các bộ phận lại với nhau bằng vì kèo cột ngoãm mà không sử dụng phương pháp buộc hay đóng đinh. Với kiểu nhà sử dụng vì kèo cột ngoãm ngôi nhà thường thấp, nhỏ, sức chống chọi không cao nên tuổi thọ của ngôi nhà có khi chỉ được vài năm. Về sau kỹ thuật làm nhà bằng vì kèo cột ngoãm được thay thế bằng cách đục mộng ở đầu quá giang nhờ vậy hệ thống xà, cột được cố định với nhau chắc chắn hơn, tuổi thọ ngôi nhà cũng tăng đáng kể.

+ Kỹ thuật làm mái

Đối với các ngôi nhà lợp bằng ngói móc (nhà người Dao Tuyển ở Hà Giang) kết cấu mái chỉ gồm có đòn tay, rui, mè đều được xẻ bằng gỗ và ngói được gài theo nguyên tắc lợp từ dưới lên trên. Dọc theo mái có hàng ngói bò úp sang hai bên mái. Đôi khi có ngôi nhà lợp bằng ngói âm dương nên trong kết cấu mái không cần lớp mè. Lớp ngói được đặt ngửa giữa các hàng rui, lớp ngói trên đặt úp che  khoảng hở giữa các hàng ngói bên dưới. Do vậy, đòn tay, rui, mè liên kết với nhau hoàn toàn bằng cách đóng đinh . Với các ngôi nhà lợp mái lá cọ, mái gianh, các lớp rui mè thường được làm bằng tre, vầu. Các cấu kiện của mái như đòn tay, rui, mè được liên kết với nhau chủ yếu bằng các mối buộc chắc chắn nhằm giữ cho mái vững chắc, không bị xô lệch, tốc mái khi gặp mưa, gió lớn. Độ dốc giữa mái lợp bằng lá cọ hoặc cỏ gianh cũng thường lớn hơn so với mái lợp bằng ngói gỗ, tre, vầu để đảm bảo thoát nước nhanh, tăng độ bền cho mái.

-           Hiệu quả ứng phó với môi trường tự nhiên độ ẩm cao, thời tiết giá lạnh

+ Tường trình chống ẩm, lạnh

Nhà trình tường với bức tường trình dày 40 – 60cm có ưu điểm lớn là giữ ấm cho ngôi nhà về mùa đông và mát mẻ về mùa hè. Thêm vào đó, với bức tường trình dày, chắc chắn đã giúp ngăn ngừa thú dữ, kẻ gian đột nhập vào nhà. Bức tường trình dày là vật lý tưởng cân bằng môi trường sống của con người. Nó giúp ngăn ngừa tối đa ảnh hưởng của môi trường bên ngoài đến môi trường sống bên trong ngôi nhà. Chính vì vậy, không chỉ những cư dân vùng núi cao giá lạnh, ẩm ướt mới sáng tạo ra kiểu nhà trình tường mà chúng còn được xây dựng phổ biến ở những nơi có khí hậu khô nóng trên thế giới và Việt Nam. Bức tường như một chiếc điều hòa, vào mùa đông lạnh giá bức tường giữ cho bên trong ngôi nhà ấm áp. Vào mùa hè nắng nóng, bức tường trình lại giữ cho nhiệt độ bên trong ngôi nhà thấp hơn bên ngoài tạo không gian mát mẻ. Khi thời tiết nhiều sương mù bao phủ với độ ẩm trên 80 - 90% thì bức tường trình lại giữ cho ngôi nhà tránh khỏi sự xâm nhập của lớp sương mù và hơi ẩm, không gian sinh hoạt của con người khô ráo, an toàn cho sức khỏe. Đây là những điều mà ngôi nhà vách đan bằng tre nứa không thể làm được. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm ngôi nhà trình tường, lợp cỏ gianh mang lại thì chúng cũng có nhược điểm nhỏ là ngôi nhà thiếu ánh sáng dù trong khi dựng nhà người Dao đã chú ý không trình tường hết đến nóc nhà.

+ Bếp sưởi ấm và chống ẩm

Có thể nói, bếp lửa chính là linh hồn của ngôi nhà người Dao. Mỗi ngôi nhà thường có từ 2 - 3 chiếc bếp gồm: bếp khách (bếp sưởi), bếp nấu ăn, bếp lò (nấu rượu, nấu cám…). Mỗi chiếc bếp có vai trò và công năng khác nhau đối với đời sống của người Dao nhưng bếp khách và bếp nấu ăn là hai chiếc bếp không thể thiếu của bất cứ gia đình nào. Bếp khách hay còn gọi là bếp sưởi được đặt ở gian tiếp khách nằm tiếp giáp với gian chính (gian đặt bàn thờ) nằm đối diện với gian bếp nấu qua gian chính. Gian đặt bếp khách không nằm cố định về phía bên trái hoặc bên phải so với gian nhà chính mà vị trí của nó tùy thuộc vào cách sắp xếp của từng ngôi nhà

Ngoài công năng nấu nướng, làm chín thức ăn phục vụ nhu cầu thiết yếu hàng ngày của con người, bếp của người Dao ở vùng cao còn có nhiều vai trò trong đời sống vật chất và tinh thần. Thứ nhất, bếp lửa được sử dụng để sưởi ấm cho cơ thể trong mùa đông giá rét. Đặc biệt, vào những ngày tuyết rơi, nhiệt độ xuống thấp dưới 00C thì chiếc bếp lửa chính là cứu cánh cho người dân. Bếp của người Dao trên vùng cao hầu như quanh năm đều sáng lửa. Theo số liệu khảo sát thực tế ở xã Tả Phìn (huyện Sa Pa) và xã Tòng Sành (huyện Bát Xát) cho thấy, hàng năm mỗi gia đình người Dao Đỏ tiêu thụ hết một lượng củi từ  20 - 30 khối. Trong đó lượng củi tiêu thụ vào bếp nấu ăn tốn nhiều nhất, rồi đến bếp sưởi và bếp lò. Nhưng với người Dao bếp lửa không chỉ sưởi ấm cho con người về thể xác mà chiếc bếp ấy còn là nguồn sưởi ấm cho cả tâm hồn. Chính vì lẽ đó, mỗi người con trai trong gia đình khi kết hôn, làm nhà mới đều chia lửa từ bếp của gia đình bố mẹ sang bếp của gia đình mình. Với họ, ngọn lửa được lấy từ nhà cha mẹ đã mang theo hơi ấm, tình cảm của những người thân sang ngôi nhà mới, là nguồn hơi ấm tiếp sức cho ngôi nhà mới luôn tràn trề hạnh phúc. Một công năng quan trọng của bếp lửa chính là một chiếc lò sấy lớn, không những sấy khô hơi ẩm nặng nề trong không khí mà còn giúp sấy khô, bảo quản lương thực, thực phẩm và các đồ dùng sinh hoạt khác khỏi ẩm, mốc. Khói bếp còn tạo nên các món ăn vị xông khói – món ăn đặc trưng của nhiều dân tộc vùng cao như: thịt lợn sấy, thịt trâu sấy, thịt thú rừng sấy,...

+ Kỹ thuật làm sàn gác và ý tưởng biến ngôi nhà thành lò sấy trong điều kiện sương mù, ít nắng

Nhà ở của người Dao dù ở vùng cao hay vùng thấp hơn, dù là nhà trình tường, nhà nửa sàn nửa đất hay nhà sàn,… cũng đều được thiết kế các sàn gác để bảo quản lương thực, thực phẩm và nhiều đồ dùng sinh hoạt khác và đôi khi nó còn được tận dụng làm chỗ ngủ cho các thành viên trong gia đình đông con hoặc khách đến chơi nhà.Gác thường được làm ở hai gian có bếp khách và bếp nấu ăn (đôi khi đặt cả bếp lò ở gian này). Người Dao Đỏ tuyệt đối không làm sàn gác ở gian nhà chính – nơi đặt bàn thờ tổ tiên. Sàn gác ở gian bếp – nơi đặt bếp nấu có chức năng đặc biệt quan trọng như một chiếc lò sấy vì ở đây những chiếc bếp thường xuyên đun nấu, đốt lửa sưởi ấm quanh năm. Lương thực, thực phẩm và các loại giống cây trồng bảo quản trên gác, nhất là ở gian có bếp đỏ lửa thường xuyên được bảo quản rất tốt không bị ẩm mốc hay mối mọt. Nhà của người Dao Đỏ thôn Dền Sáng, xã Dền Sáng, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai thường làm hai sàn gác. Một sàn gác được làm ở gian có bếp khách, một sàn gác được làm ở gian có bếp nấu. Sàn gác được làm từ vật liệu chủ yếu là vầu, nứa để nguyên cây, bổ đôi hoặc đập dập xếp và cố định ngay ngắn trên các đòn đỡ (có thể gác các đồn đỡ qua xà ngang), khoảng cách giữa các đòn đỡ từ 30 - 40cm. Phía dưới sàn gác nơi đặt bếp khách hay bếp nấu, cách sàn nhà khoảng 2m có treo một gác nhỏ diện tích khoảng 1,5 x 2m cũng được làm từ tre, vầu, nứa sặt. Thức ăn sấy khô, một số thực phẩm dự trữ trong và sau ngày tết được bảo quản trên  chiếc gác nhỏ này. Đôi khi trên chiếc gác nhỏ người ta còn cất trữ một số đồ đan lát mới để bảo quản và tăng độ bền khi sử dụng. Các loại thực phẩm cần sây khô như thịt trâu, thịt lợn, hành, tỏi,... cũng thường được sấy trên chiếc gác nhỏ này. Đặc biệt vào ngày đông ẩm ướt hay những ngày mưa, nồm thì gác bếp phát huy hết công năng như một chiếc lò sấy lớn. Như vậy, từ chiếc bếp củi người Dao không những sử dụng để nấu cơm ăn, nước uống, sưởi ấm cho ngôi nhà mà họ còn tận dụng sức nóng đó để sấy khô các loại thực phẩm, bảo quản thức ăn, đồ dùng và tận dụng cả khói bếp để tăng độ bền cho đồ dùng sinh hoạt,... Đối với người Dao Khâu thì ngoài những công năng nêu trên, sàn gác còn đóng vai trò là một chiếc sân phơi vì người Dao Khâu không làm sân phơi trong các ngôi nhà truyền thống, không phơi các sản phẩm nông sản ngoài ruộng như nhiều tộc người khác. Cũng bởi vậy, nhìn từ ngoài vào ngôi nhà của người Dao Khâu cao hơn nhà của người Dao Đỏ. Sau khi thu hoạch từ ruộng về, các loại lúa, ngô, đậu tương, lạc,... sẽ được phơi trực tiếp trên sàn gác bếp. Chính vì vậy, sàn gác trong ngôi nhà truyền thống của người Dao Khâu luôn được làm từ cây sặt để tạo lỗ thoáng chứ không phải sàn bằng ván gỗ khép kín như hiện nay.

2.2. Nhà nửa sàn, nửa đất thích ứng với địa hình dốc, khó có mặt bằng

Để thích ứng với điều kiện địa hình trên sườn núi dốc, người Dao sáng tạo ra ngôi nhà nửa sàn nửa đất. Phần sàn được đỡ bởi những hàng cột gỗ, phần nền đất được tạo bằng cách xẻ, san sườn núi và được kè đá. Tên gọi nhà nửa sàn nửa đất cũng từ đó mà hình thành. Bên cạnh đó, ngôi nhà nửa sàn nửa đất còn giúp người Dao Tuyển tránh được cái nóng oi bức của mùa hè, vì thế sàn nhà ở phần nửa sàn luôn được họ làm bằng tre, vầu, nứa và rất hiếm khi làm bằng gỗ. Trong không gian mặt bằng sinh hoạt của ngôi nhà nửa sàn nửa đất, phần nửa sàn người Dao Họ ở huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai chủ yếu dành để ngủ, mọi sinh hoạt khác được diễn ra ở phần nền đất của ngôi nhà. Đối với người Dao Tuyển, phần nhà nửa sàn ngoài việc dành để ngủ thì phần sàn ở gian nhà chính, đối diện với bàn thờ tổ tiên còn là nơi để viết sách, chỗ ngồi ăn cơm khi nhà có khách và cũng là chỗ ngủ của các vị khách ở lại chơi qua đêm.

Ngôi nhà nửa sàn nửa đất của người Dao có từ 16 hoặc 20 chiếc cột dài ngắn khác nhau. Các cột dài thường nằm ở phần sàn nhà. Đối với nhà 16 cột, phần sàn có 8 cột, nhà 20 cột thì phần sàn có 12 cột. Phần chân các cột nhà thường được kê bằng những viên đá to để tránh ẩm và mối mọt. Người Dao Họ, Dao Tuyển ở Lào Cai thường lấy gỗ thọ để làm các cột cái, người Dao Tuyển ở Hà Giang lại ưa thích sử dụng gỗ dổi, và nếu có đủ thì họ sử dụng gỗ dổi cho mọi bộ phận của ngôi nhà. Gỗ thọ có đặc tính dẻo, chôn sâu xuống đất không bị mục và mối mọt, nhưng chỉ có ở rừng già nên hiện nay rất khó kiếm. Do đó, người ta thường không vứt bỏ nó khi chuyển nhà mà tái sử dụng trong ngôi nhà mới, nó trở thành tài sản thừa kế, vật hiến tặng trong gia tộc. Theo tập quán, khi chuyển nhà đi nơi khác người Dao Họ ở Lào Cai thường mang theo 8 cây cột nhà bằng gỗ thọ để dùng làm cột cái và cột dầm sàn cho ngôi nhà mới.

Các loại vật liệu khác như tre, nứa, gỗ mỡ, gỗ táu dùng làm đòn tay, cột, sàn, vách, mái đều khai thác tại địa phương và xử lý chống mối mọt theo phương pháp cổ truyền. Tre nứa chỉ chặt sau ngày rằm âm lịch hàng tháng và chọn những cây già, mọc trên đỉnh núi. Vật liệu sau khi khai thác được đem ngâm xuống nước một tháng rồi vớt lên, phơi khô. Để làm lạt buộc, họ dùng cật của cây nứa, lột mỏng, phơi khô, hong khói trên gác bếp, trước khi sử dụng thì đem ngâm nước cho mềm ra dễ buộc. Nếu vật liệu buộc là dây song, mây, sau khi được lấy trên rừng về chúng cũng được tước, chẻ để dùng tưới hoặc để trên gác bếp cho khô, khi dùng thì lấy ra ngâm nước cho dẻo, dai.

Bộ sườn nhà truyền thống của người Dao có kết cấu đơn giản. Mỗi vì kèo chỉ có hai hoặc ba cột nhưng là cột ngoãm. Cột, quá giang và kèo được buộc chặt vào nhau bằng dây lạt, mây. Vách nhà dựng bằng phên nứa đan theo kiểu lóng mốt hoặc lóng đôi, do đó các mảng sáng tối được tạo ra bởi bề mặt những thanh nứa.

Mái nhà của nhóm Dao Tuyển, Dao Khâu hay Dao Đỏ đa số được lợp bằng mái gianh nhưng mái nhà của người Dao Họ thường được lợp bằng những ống tre, nứa bổ đôi, cứ một thanh sấp thì một thanh ngửa úp vào nhau như kiểu lợp ngói âm dương. Mái này có thể dùng được từ 5 - 6 năm, và theo nếp cũ thì cứ 2 lần thay mái (khoảng từ 10 - 12 năm) họ lại chuyển đi nơi khác ở. Việc này phù hợp với khoảng thời gian du canh du cư của người Dao Họ xưa (khoảng từ 10 - 12 năm một lần). Tre nứa dùng để làm nhà, nhất là dùng để lợp mái được chọn rất kỹ, tất cả phải là tre, nứa già, mọc trên núi cao, không bị cụt ngọn, không bị sâu, gõ vào nghe tiếng kêu đanh, nhưng lại phải chặt vào những dịp đầu hoặc cuối tháng của những tháng mùa khô (theo kinh nghiệm, giữa tháng là ngày con nước lên, do vậy lượng nước ở thân cây sẽ nhiều, nếu chặt vào dịp đầu hay cuối tháng lượng nước sẽ ít đi nên cây già và tốt hơn). Tre, gỗ dùng để làm nhà khi vận chuyển phải vác chứ không được kéo.

Công cụ làm nhà xưa kia của người Dao Họ là con dao và cái rìu. Đó cũng chính là những công cụ thường ngày dùng để chặt tre, gỗ, chẻ nan hay đẽo gọt thân cây. Người Dao Họ trước đây không có thợ mộc chuyên nghiệp. Hầu hết đàn ông với con dao trong tay đều có thể tự làm lấy nhà ở cho mình bằng những kinh nghiệm cha ông họ truyền lại. Vài thập niên trở lại đây, người Dao đã sử dụng thêm các loại công cụ khác hỗ trợ việc làm nhà gồm: cưa xẻ, đục vuông, đục bạt, bào, bào rãnh, thước gỗ theo gang hoặc theo sải tay, dây nảy mực,… chiếc xà beng được sử dụng thay thế cho chiếc gậy chọc lỗ tra hạt trước đây để san nền nhà cùng với cuốc xẻng để xới, xúc đất. Chiếc ki cổ truyền vẫn được sử dụng rộng rãi để vận chuyển đất,…

Quy trình dựng nhà của người Dao phải trải qua các bước: san sườn núi để tạo mặt bằng, kè đá cho đất không sạt lở, rồi nện cho nền thật chặt và nhẵn. Từ phần nền đất, người ta tính toán độ đua ra của phần sàn để chôn các hàng cột đỡ sàn. Sau đó dựng 4 hàng cột cái ở hàng giữa, tiếp đến là những cột quân, rồi làm sàn, gác kèo và đòn tay. Tập quán của người Dao Họ qui định gốc cây đòn tay khi đặt lên mái nhà phải quay về hướng có cửa chính. Ở các điểm giao nhau giữa kèo và cột, kể cả cột đỡ sàn, người ta làm các lỗ mộng đơn giản hay ngoàm rồi chốt cố định bằng đinh tre hoặc đinh gỗ. Những chỗ liên kết đơn giản hơn thì dùng lạt để buộc. Do hệ thống mộng đơn giản, cho nên để đảm bảo bộ khung nhà bền chắc, không bị xô dịch khi có gió lớn, các hàng cột cái và cột sàn được chôn sâu chừng 0,7 - 1m và lèn chặt.

Kết cấu ngôi nhà nửa sàn nửa đất của người Dao thường có 3 gian, hai chái với bốn bộ vì kèo. Hàng cột cái gồm bốn cây cột cao nhất dựng ở vị trí tiếp giáp giữa phần nền đất và phần sàn. Điểm khác biệt của bộ khung nhà người Dao Họ so với người Dao Tuyển là tâm của vì kèo không được đỡ bởi đầu các cột cái mà là ở vị trí cách nóc khoảng 2m về phía sàn. Vì thế, nhìn bên ngoài, ngôi nhà có 2 mái cân đối nhưng bên trong thì hàng cột cái nằm lệch về phía sàn, tạo ra một không gian rộng hơn cho phần nền đất. Điều này rất hợp lý trong việc bố trí mặt bằng sinh hoạt, vì nền đất luôn được người Dao sử dụng nhiều hơn, phần sàn chủ yếu chỉ là nơi để ngủ.

Ngôi nhà nửa sàn, nửa đất truyền thống của người Dao có hai mái chính, ở hai đầu hồi làm thêm mái phụ tạo thành phần chái nhà. Vách nhà của người Dao được thưng bằng ván gỗ hoặc những thân cây nứa đập dập, đan thành tấm theo kiểu lóng đôi, cũng có chỗ đan lóng mốt theo kiểu một nan ngửa, một nan úp, thạo thành những ô tương phản màu có tác dụng trang trí. Để giữ cho vách đứng, phẳng, người ta dùng những thanh tre và đinh tre cố kết chặt tấm phên vào các cây đố.

Phần sàn nhà được đặt trên 3 hàng cột đỡ. Kết cấu sàn có 4 lớp: 2 lớp dầm chính có tác dụng chịu lực được làm bằng gỗ và tre già; tiếp đến lớp nan tre để tạo mặt phẳng, trên cùng là giát sàn làm bằng tre mai bổ đôi, băm giập và đánh nhẵn các mắt đốt tre. Kết cấu sàn 4 lớp và được làm bằng các nguyên liệu tốt đã qua xử lý chống mối mọt và phù hợp với môi trường ẩm ướt của đất về mùa mưa. Lớp giát sàn là lớp trên cùng được chú ý nhiều về tính thẩm mỹ và công năng sử dụng. Vì phần nửa sàn của ngôi nhà chủ yếu được dùng làm chỗ ngủ cho các thành viên trong gia đình nên bề mặt lớp giát sàn luôn được làm bóng, nhẵn và rất bền bỉ.

Người Dao hiện nay đã từ bỏ dần ngôi nhà nửa sàn nửa đất truyền thống và làm quen với những căn nhà gỗ hoặc nhà xây, mái ngói theo kiểu của người Việt. Tuy nhiên, khi chuyển sang ở nhà trệt, người Dao vẫn làm sàn để nằm, cách bày đặt đồ đạc, sử dụng mặt bằng sinh hoạt vẫn giống như trong ngôi nhà nửa sàn nửa đất. Những ngôi nhà ngói 5 gian, 3 gian tuy có trổ cửa phía trước nhưng hai cửa ở hai đầu hồi – dấu ấn kiến trúc truyền thống vẫn được bảo lưu và trong sinh hoạt ngày thường vẫn sử dụng 2 cửa này làm hai cửa chính. Ngày nay, vật liệu để làm nhà theo nếp cũ (đặc biệt là gỗ thọ) không dễ tìm. Vì vậy, người Dao đã quen dần với việc sử dụng các loại vật liệu mới. Chẳng hạn, việc sử dụng những thân cây nứa bổ đôi, thông mấu, thoát nước nhanh, thoáng mát để làm mái nhà sau đó được thay thế bằng cỏ gianh vì dễ tìm, dễ làm hơn. Ngày nay, theo xu hướng chung, đồng bào sử dụng ngói hoặc bờ-lô-xi-măng để lợp mái.

2.3. Nhà sàn thích ứng với địa hình khe suối thung lũng hẹp

Như đã nêu ở các phần trên, nhà ở của người Dao vùng Tây Bắc về cơ bản có 3 loại: nhà sàn, nhà nửa sàn nửa đất và nhà nền đất. Mỗi loại hình nhà ở được người Dao sử dụng để thích ứng với các điều kiện địa hình, khí hậu và tài nguyên thiên nhiên khác nhau tại địa bàn cư trú. Theo đó, nhóm ngành Dao Đỏ, Dao Khâu cư trú ở trên cao, mưa nhiều, độ ẩm lớn và lạnh giá nên thường ở loại nhà nền đất, trình tường hoặc vách được thưng bằng ván gỗ, kín gió. Các nhóm Dao khác như Dao Tuyển, Dao Họ sinh sống ở vùng thấp hơn và gần các khe nước, địa hình chia cắt mạnh nên họ đã tạo ra nhiều kiểu nhà để thích ứng với điều kiện của từng vùng như nhà nửa sàn nửa đất, nhà nền đất thưng bằng vách nứa, vách gỗ và nhà sàn.

Ngôi nhà sàn hiện nay vẫn còn thấy tồn tại nhiều ở vùng người Dao Họ ở tỉnh Yên Bái và Tuyên Quang, vùng người Dao Tuyển ở tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang. Ngôi nhà sàn của người Dao về cơ bản khá giống với nhà sàn của dân tộc Tày. Ngôi nhà sàn của người Dao cũng gồm hai phần là phần sàn được sử dụng để nhốt gia súc, gia cầm, cất giữ các loại công cụ lao động, cối giã gạo và đồ đan lát,… Phần trên nhà thường gồm có 3 gian, hai chái hoặc 5 gian hai chái. Nhưng người Dao không tính quy mô của ngôi nhà dựa vào số gian mà đếm số cột cái của ngôi nhà như nhà 4 cột, 8 cột, 12 cột. Kết cấu ngôi nhà sàn của người Dao Tuyển và Dao Họ về cơ bản cũng giống với kết cấu nhà trệt của người Dao Đỏ và ngôi nhà sàn của các dân tộc láng giềng Tày, Nùng. Nhưng một điều quan trọng ở đây là ngôi nhà sàn đã trở thành một công cụ để người Dao thích ứng với môi trường tự nhiên. Qua đó cũng phản ánh sự linh hoạt, sáng tạo của người Dao trong việc thích ứng với các môi trường sống khác nhau.

Trước đây vùng người Dao cư trú còn là những cánh rừng hoang sơ chưa được khai phá. Đó là những khu rừng già, rậm rạp với nhiều muôn thú trong đó có cả các loài thú dữ như hổ, báo, gấu,... và các loài côn trùng có hại như muỗi, vắt,... Chính  ngôi nhà sàn đã giúp người Dao thích ứng với môi trường tự nhiên nhiều nguy hiểm, sống xen kẽ với muôn thú. Ngôi nhà sàn bảo vệ  người Dao khỏi sự đe dọa của các loài dã thú, cũng bảo vệ người Dao khỏi các loài côn trùng có hại, đặc biệt là các loài hút máu như muỗi, vắt thường thích sinh sống ở môi trường ẩm thấp.

Thêm vào đó, trong điều kiện sản xuất lương thực, thực phẩm trên ruộng nước còn hạn chế, chưa đáp ứng đủ nhu cầu của người Dao thì họ phải săn bắt, hái lượm, lên nương làm rẫy trồng thêm các loại khoai, sắn nên việc cư trú trên các sườn đồi và ven thung lũng hẹp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận nguồn lương thực, thực phẩm tự nhiên cũng như cây trồng. Trong điều kiện tự nhiên và đòi hỏi của các nhu cầu thiết yếu thì ngôi nhà sàn là nơi lý tưởng giúp người Dao ứng phó với cả yếu tố địa hình và các mối nguy hiểm rình rập khắp nơi. Ngôi nhà sàn không đòi hỏi phải có mặt bằng rộng, cũng không đòi hỏi phải có nền là đất thịt nên sinh sống ở những khe, ngòi, và địa hình có độ dốc lớn người Dao vẫn có thể làm nhà sàn. Thêm vào đó, ngôi nhà sàn còn bảo vệ gia súc, gia cầm của họ khỏi các mối đe dọa từ hoang thú nhờ việc tận dụng các gian dưới của ngôi nhà để nhốt chúng và trữ các công cụ lao động cũng như các vật dụng sinh hoạt của gia đình tránh mưa gió và ẩm ướt làm hỏng.

2.4. Ngôi nhà và ứng xử với nước   

2.4.1. Lấy rừng để ứng phó với nước

Làng người Dao được bao bọc bởi một hệ thống rừng. Mỗi ngôi làng đều có các loại rừng với tên gọi, chức năng khác nhau.

Rừng thiêng (rừng cúng) người Dao Đỏ ở Sa Pa gọi là “kiềm trăng”, người Dao Đỏ ở Bát Xát gọi là “cong sư kềm”, người Dao Khâu gọi là “poăng kiềm”,… Rừng thiêng phải là khu rừng già nguyên sinh. Ở những vùng  không còn rừng nguyên sinh, rừng thiêng phải ở các khu rừng hoặc lùm cây có gốc cây to (dấu vết của rừng già). Rừng thiêng của người Dao Tuyển gọi là “blư ghênh”, người Dao Họ ở dọc sông Hồng gọi là “kiềm zằng”, người Dao Khâu ở Sìn Hồ gọi là “poăng kiềm”. Rừng thiêng là nơi đặt miếu thờ của cả làng, rừng có những quy định nghiêm ngặt, cấm người dân tự ý đi vào trong ngày thường. Chỉ những ngày thực hiện lễ cúng người dân mới được vào khu rừng này. Hiện nay, rừng thiêng của người Dao đã bị mất đi nhiều, chỉ còn một số làng giữ được. Xã Tả Phìn (huyện Sìn Hồ) toàn bộ 8 làng người Dao còn giữ được khu rừng này.

Rừng đầu nguồn là khu rừng ở phía đầu nguồn nước ở phía trên và sau làng. Khu rừng này không cấm đoán nghiêm ngặt như rừng thiêng nhưng cũng được bảo vệ rất nghiêm nhằm bảo vệ, duy trì nguồn nước sinh hoạt cho mỗi làng. Người Dao Họ gọi rừng này là “kiềm zầu woắm con”, người Dao Đỏ gọi là “kiềm nhuần”, người Dao Tuyển gọi là “kiềm wuôm cỏn”. Ở vùng người Dao Họ Lào Cai, rừng đầu nguồn lại được chia làm hai loại: rừng đầu nguồn nước ăn “kiềm zầu woắm con” và rừng đầu nguồn nước sản xuất “kiềm woằm zầu ái ghìn”.

Rừng ma ở vùng người Dao Khâu ở huyện Sìn Hồ còn khu rừng ma (nơi các ma rừng ở) gọi là “chia bánh kiềm”. Đây là một dạng của rừng thiêng cho cả vùng (gồm xã Xô Lin, Tả Phìn, Ma Quai) hoặc ở khu vực làng Tùng Chỉn (xã Trịnh Tường, huyện Bát Xát) có khu rừng ma “rùa phin mien soong”. Ngoài các loại rừng thiêng, rừng đầu nguồn được bảo vệ khá nghiêm ngặt thì những mảnh rừng còn lại của người Dao phần lớn là rừng để khai thác lâm sản, trồng trọt và chăn thả gia súc, gia cầm. Rừng này được người Dao Khâu gọi là rừng hoang “hoang kiềm”.

Các khu rừng thiêng, rừng đầu nguồn ở vùng người Dao đều có đặc điểm chung là nằm ở phía trên làng, cao hơn làng, dân làng đều có quy định nghiêm ngặt về việc chặt cây, khai thác rừng, luôn bảo vệ rừng. Nhờ vậy các làng người Dao cổ truyền du cư trú ở ven suối, ven khe nhưng trước đây rất ít khi xảy ra lũ quét, lũ ống. Điều tra hồi cố ở xã Dền Sáng, huyện Bát Xát, và xã Bản Khoang, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, trước thập kỷ 70 của thế kỷ 20 không có một đợt lũ quét, lũ ống nào xảy ra ở vùng người Dao. Khi chọn đất làm nhà, người Dao luôn chọn rừng nhằm bảo vệ làng đã phản ánh đặc trưng ứng xử của người Dao là tận dụng rừng và đất rừng để ứng phó với nước trong định canh, định cư và lập làng.

2.4.2. Linh hoạt sử dụng nguồn nước

- Đặc điểm của nguồn nước, khe nước

Địa bàn cư trú của người Dao chủ yếu gần các khe suối nhỏ tạo nên mạng lưới thủy văn khá dày đặc và phân bố đồng đều. Do kiến tạo địa hình, đặc biệt là địa hình vùng cao như các xã thuộc huyện Bát Xát, Sa Pa (tỉnh Lào Cai), Sìn Hồ (tỉnh Lai Châu),... gây nên độ chia cắt về địa hình rất mạnh. Địa bàn cư trú của người Dao Họ cũng là các vùng đất hẹp ven các con suối. Người dân gọi chung là “khe”. Tên làng người Dao Họ hay người Dao Khâu cũng gắn liền với tên khe, ngòi. Độ dốc của núi cao, đều trên 250, địa hình bị chia cắt nhiều bởi khe sâu và các dãy núi cao. Các ngôi nhà người Dao không quây quần ở bến sông mà ẩn mình bên cánh rừng ven khe suối. Làng người Dao ở sườn núi, ven suối, có mặt bằng hẹp. Do đó, hầu hết các con suối ở ở vùng cư trú của người Dao đều có độ dốc lớn và chảy xiết. Nhiều nước vào mùa mưa và cạn nước về mùa khô, là nguồn cung cấp nước chính cho hoạt động canh tác sản xuất nông nghiệp và cũng tiềm tàng nhiều mối nguy hiểm như lũ lụt, lũ quét,...

- Linh hoạt dẫn nước ăn, sinh hoạt về nhà qua các loại địa hình

Người Dao Khâu ở xã Tả Phìn, huyện Sìn Hồ không dùng máng để dẫn nước về nhà như người Dao Tuyển, Dao Đỏ,… cũng không đào giếng mà nước sinh hoạt của họ được lấy từ các mạch nước chảy từ trong khe đá hoặc đất “wâm đùn”. Nước được vận chuyển về nhà  bằng ống nứa hoặc chiếc xô bằng gỗ. Các ống nứa to, dài 2 - 3 dóng, các dóng được đục cho thông suốt với nhau, để lại dóng dưới cùng làm đáy, miệng ống vát chéo để hứng nước thuận tiện. Sau đó, họ dùng dây mây bó ba ống nứa thành một bó tạo thành dụng cụ vận chuyển nước mà người Dao Khâu gọi là “xào đồng”. Khi đi lấy nước họ vác bó ống này để hứng nước, nước đầy các ống họ vận chuyển về nhà bằng cách xếp chúng vào gùi để gùi trên lưng hoặc vác bằng  cách dùng hai tay đỡ đáy ống nước và kê phần giữa ống vào vai rồi vận chuyển nước về nhà. Khoảng cách từ nhà đến mạch nước khoảng vài chục đến hàng trăm mét. Nước địu về nhà được tích trữ trong một chiếc thùng to để sử dụng hàng ngày. Những gia đình không có thùng to để dự trữ họ để nước ngay tại ống nứa, dựng chúng vào sát vách của ngôi nhà – nơi tích trữ nước ở gian bếp hoặc chái nhà.

Người Dao Tuyển, Dao Đỏ và Dao Họ rất chú ý nguồn nước sinh hoạt và thưởng chọn nguồn nước sinh hoạt ở cao hơn so với ngôi nhà. Họ thường chọn nguồn nước mạch chảy từ trong khe đá ra làm nguồn nước ăn. Tìm được mạch nước, họ sẽ khơi thành một hố nhỏ rộng khoảng 40 - 50cm2 chứa nước mạch. Đồng thời làm hàng rào tre quây xung quanh bảo vệ. Người Dao thường chọn mạch cấp nước sinh hoạt ở phía cao. Sau đó họ làm máng hứng trực tiếp nước chảy từ khe dẫn về nhà. Máng dẫn nước thường làm bằng các loại cây họ tre (mai, vầu, bương) hoặc cây móc. Người Dao có 2 cách làm máng tre, vầu. Cách thứ nhất là dùng máng hở. Đồng bào chọn cây tre dài từ 7 - 10m bổ đôi cây tre (mai, vầu), khoét hết mấu tạo thành máng dẫn nước nhẵn. Họ làm hệ thống cọc tre tạo thành giá đỡ nâng máng nước. Khoảng 3 - 4m lại có giá đỡ. độ cao của giá đỡ nâng máng phụ thuộc vào vị trí độ cao của mạch nước nguồn dẫn về nhà, trung bình cao khoảng 1,3 - 1,6m nhằm tránh gia súc phá hoại. Loại máng hở chỉ dùng khi nguồn nước mạch ở vị trí đầu nguồn cao hơn nhà dùng nước. Cách thứ hai là dùng máng kín. Họ không bổ đôi cây mai mà sử dụng cả cây mai làm máng. Họ dùng 1 chiếc đục tròn lắp vào đầu 1 cây sào gỗ (hoặc tre nhỏ), đẩy đục thông hết các mấu của cây mai (tre, vầu) tạo thành ống dẫn nước tròn kín. Loại máng kín này thường dùng dẫn nguồn nước từ vị trí thấp dâng lên vị trí cao. Để dâng máng dẫn nước lên khu vực cao, người Dao làm 1 cột tre thẳng đứng, ống tre có mấu đục lỗ nhỏ gọi là ống đón nước. Mỗi một mấu làm một ống đóng nước nhỏ. Khi nước từ ống máng kín đổ vào ống đón nước, nước dâng cao đổ sang ống đón nước thứ hai, đổ tiếp vào ống đón nước thứ ba, thứ tư. Như vậy nước được dâng cao lên từ 10 - 40cm. Nhưng các mối lắp ống dẫn nước phải thật kín tránh rò rỉ để áp lực nước mới khỏe dâng nước lên cao. Cách dẫn nước này người Dao Họ gọi là “oẳm sến đòng”. Ống dẫn nước kín còn được chôn ngầm dưới đất dẫn nước đi ngầm. Cách dẫn nước chảy ngầm trong ống chôn dưới đất gọi là “Sóng lau đành chá oẳm”.

Một số hộ gia đình cùng sử dụng chung một máng dẫn nước nhưng có cách phân chia nước độc đáo. Họ dùng 1 đoạn cây dài khoảng 30 – 40m làm ống đón nước chôn đứng. Trên ống đón nước đó khoét 4 lỗ ở 4 góc và mỗi lỗ lắp 1 ống dẫn nước nhỏ ra ngoài. Khi máng dẫn nước chính đổ vào ống đón nước thì nguồn nước lại phân chia chảy theo 4 phía vào 4 ống dẫn nước về 4 gia đình. Nếu có nhiều gia đình cùng lấy nước ở trải dài theo sườn núi thì đồng bào lại làm tiếp các ống đón nước khoét 4 lỗ ở 4 góc tiếp tục phân chia nguồn nước cho gia đình. Cứ như vậy, hệ thống dẫn nước của người Dao sẽ cung cấp nước tới từng bếp ăn của từng gia đình trong làng. Trường hợp nguồn nước khan hiếm hoặc ở xa địa bàn cư trú, người Dao tập trung làm 1 ống dẫn nước lớn chạy dài vài trăm mét đến một bến nước chung. Từ đó họ dùng ống nước phân chia nguồn nước đến từng hộ gia đình. Người Dao Họ có quy định quản lý nguồn nước sinh hoạt chung. Đồng bào coi trọng việc bảo vệ vệ sinh ở nước mạch nói chung. Hàng năm vào ngày 2 tháng 2 âm lịch và ngày 6 tháng 6, người Dao tổ chức cúng làng, cúng thần nông cầu mùa. Trong lễ cúng, đại diện các gia đình dự lễ phải bàn bạc xây dựng các quy ước bảo vệ rừng, bảo đảm an ninh trật tự, bảo vệ nguồn nước. Trong đời sống hàng ngày, người Dao Họ cũng có một số kiêng kỵ liên quan đến nguồn nước sinh hoạt. Các gia đình người Dao Họ không bao giờ đặt bàn thờ song song với hướng nước chảy. Vì vậy đồng bào kiêng không khơi rãnh thoát nước chạy song song phía sau ngôi nhà. Nguồn nước ăn và máng dẫn nước có những quy định kiêng cấm riêng. Phụ nữ có kinh nguyệt không được đến gần nguồn nước sạch. Người mới được cấp sắc (độ giới) có 3 năm liền kiêng không được chui qua máng nước ăn. Trong các lễ cấp sắc, lễ làm chay người Dao Họ phải thực hiện nghi lễ cúng Long Vương, làm thuyền đón tổ tiên ở bờ suối,...

Người Dao Đỏ, Dao Tuyển cũng dẫn nước sinh hoạt về gia đình tương tự như cách dẫn nước của người Dao Họ. Họ cũng có các luật tục quy định bảo vệ nguồn nước sinh hoạt, cũng tổ chức cúng và dọn dẹp nguồn nước hàng năm. Riêng người Dao Đỏ còn kiêng dẫn nước đi qua trước cửa nhà mà chỉ được phép dân nước vào nhà từ phía sau. Nước dẫn về nhà được cho vào một thùng chứa khoét từ thân cây gỗ, nếu là gỗ pơ mu hoặc gỗ thông thì họ ghép cách mảnh lại với nhau. Dưới đáy thùng nước người Dao Đỏ luôn xếp những hòn đá quậy nhỏ, tròn, nhẵn mịn với mong muốn thần nước không để cho nước của gia đình bị khô cạn. Gáo múc nước của người Dao trước đây cũng được làm bằng gỗ. Họ khoét rỗng một đầu để múc nước, còn đầu kia đẽo thành cán cầm. Vào mùa mưa, nguồn nước dồi dào, bếp nhà người Dao luôn có nước thừa chảy đi. Nhưng vào mùa khô, nguồn nước khan hiếm thì người Dao phải tích trữ nước. Ngoài chiếc thùng chứa nước sử dụng hàng ngày thì họ còn tích trữ nước vào các ống mai, vầu,… dựng cạnh vách nhà đề phòng khi nguồn cạn không có nước. Thậm chí, các gia đình còn hứng nước mưa giỏ từ giọt danh xuống để dự trữ làm nước sinh hoạt trong mùa khô hạn, thậm chí là sử dụng cả băng tuyết tan để lấy nước sinh hoạt.

 Hiện nay, phương pháp dẫn nước truyền thống bằng máng vầu, mai còn tồn tại rất ít trong các ngôi nhà của người Dao, chúng được thay bằng các ống cao su, ống nhựa khá tiện dụng và rất bền. Nhưng có điều đặc biệt là dù đã dẫn nước về nhà bằng các máng dẫn nhưng trong lễ vào nhà mới người Dao Tuyển ở Lào Cai vẫn chuẩn bị các ống nứa to để đựng nước gọi là “đoòng wắm” đựng đầy nước. Họ nhờ những người gia đình phúc đức mang nước vào nhà, người phụ nữ của gia đình đó sẽ xách nước, người đàn ông xách củi, nước được đặt vào vị trí trữ nước trong nhà. Người phụ nữ đó sẽ rót đầy một ấm nước đặt lên bếp đun sôi. Đây là một nghi thức quan trọng trong lễ vào nhà mới của người Dao Tuyển nhưng nó cũng cho thấy rằng có thể trước đây, người Dao Tuyển không dùng máng dẫn nước sinh hoạt như hiện nay mà sử dụng phương pháp xách nước về nhà bằng các ống nứa giống như người Dao Khâu.

- Linh hoạt sử dụng nước trong sản xuất

Khi sinh sống ở trong các thung lũng ven khe suối người Dao có nhiều kinh nghiệm, phong tục gắn liền với việc bảo vệ nguồn nước, bảo vệ suối phục vụ sản xuất. Trước khi phát nương hoặc khai thác ruộng bậc thang, người Dao Họ thường lựa chọn địa hình nương ruộng ở điểm giao nhau của đồi núi hoặc ven khe, trên đó có nhiều cây to. Đặc biệt là có nhiều cây chuối mọc dầy. Khu vực đó sẽ có nguồn nước, khai thác phục vụ sản xuất. Khi phát nương phía trên đỉnh đồi phải giữ lại một số cây cổ thụ. Việc bảo vệ cây nhằm giữ nguồn nước đã trở thành luật tục của người Dao ở Khe Mụ. Làng Khe Mụ quy định, các khu rừng trong tầm mắt phía trước làng và sau làng đều không được khai thác gỗ, củi, đồng thời cũng không chặt cây ở đầu nguồn suối. Ở các mạch nước của làng phải bảo vệ cây cối mọc xung quanh. Trong phạm vi mỗi bên mạch nước có độ dài từ 2 đến 3 ngôi nhà đều không được chặt, phát cây cối, không được đốt nương gần mạch nước. Ở thôn Khe Mụ, thôn Trà Chẩu người Dao còn trồng thêm các dãy chuối quanh mạch nước và phía trên mạch nước nhằm bảo vệ nguồn nước.

Khi cư trú ở khe sâu, người Dao chủ yếu canh tác nương rẫy và làm ruộng bậc thang. Các gia đình có ruộng bậc thang gần nhau  thì cùng nhau xây dựng hệ thống máng dẫn nước hoặc đào rãnh nhỏ dẫn nước vào ruộng. Người Dao thường làm ruộng bậc thang hoặc khai khẩn ruộng nước ở thung lũng hẹp ven suối, ven suờn đồi thấp nên việc khai thác nguồn nước sản xuất cũng thuận lợi. Người Dao chỉ việc đào rãnh “đặp oẳm oa” dẫn nước men theo khe về ruộng. Hoặc làm máng dẫn nước từ trên đồi cao, luồn qua rừng cây đưa về ruộng. Cách làm máng dẫn nước về ruộng tương tự như cách làm máng dẫn nước sinh hoạt. Nhà nào có ruộng ở trên cao thì cho chảy nước xuống thấp hơn. Người Dao Họ quy định chủ ruộng trên có mức nước đủ dùng mới làm đập nhỏ cho tràn nước chảy xuống ruộng nhà dưới. Chủ ruộng dưới không được tự ý tháo hết nước của nhà có ruộng trên cao vào ruộng nhà mình. Hàng năm, các gia đình có ruộng gần nhau đều phải cùng nhau khơi rãnh, làm máng dẫn nước về ruộng cấy. Truyền thống người Dao Họ luôn nhường nguồn nước sản xuất, không xảy ra chuyện tranh giành nguồn nước trong cộng đồng.

2.4.3. Ngôi nhà phản ánh đặc trưng ứng xử của người Dao với nước

- Làng, ngôi nhà của người Dao phải gần nước mạch, nước nguồn

Gần nguồn nước là điều kiện tiên quyết khi chọn đất lập làng hoặc chọn đất làm nhà của người Dao. Bên cạnh đó thì nguồn nước luôn ở trên vị trí cao hơn so với đất lập làng hoặc làm nhà ở tạo điều kiện thuận lợi cho việc dẫn nước cho sinh hoạt cũng như trồng trọt. Tuy trong một làng có thể có nhiều mạch nước để dẫn nước sinh hoạt về cho các gia đình nhưng họ luôn có một nguồn nước chung của làng – còn gọi là nguồn nước thiêng.

Các gia đình người Dao ưu tiên chọn các khu đất thuận lợi nhất về nguồn nước để dựng nhà ở lâu dài. Nhiều hộ gia đình có thể sử dụng chung một nguồn nước. Tuy nhiên, họ cũng ưu tiên chọn nguồn nước sạch ở vị trí cao hơn đất làm nhà để dẫn nước về thuận tiện nhất. Những khu đất bằng phẳng đến mấy nhưng không thuận tiện về nguồn nước người Dao cũng không chọn để làm nhà. Vì nếu làm nhà ở khu đất đó họ có thể phải đi xách nước từ nơi khác về để sử dụng. Việc làm này tốn nhiều thời gian và công sức.

Không gian sinh hoạt trong ngôi nhà của người Dao cũng phụ thuộc nhiều vào nguồn nước. Khi chọn vị trí đặt nơi tích trữ nước người Dao luôn chọn phía đầu hồi nhà được làm trên nền đất thịt để tránh sạt lở về sau. Trong khi làm nhà họ cũng chú ý san nền ở vị trí dùng làm nơi tích trữ nước thấp hơn so với đầu hồi bên kia để nước không bao giờ chảy tràn ra nhà. Vị trí của bếp nấu luôn đặt ở phía dự trữ nước sinh hoạt, cũng chính là phía có thể dẫn nước sinh hoạt về nhà một cách thuận lợi nhất. Các không gian còn lại của ngôi nhà như gian chính, gian đặt bếp khách, phòng ngủ,… sẽ được quy định bởi vị trí đặt bếp. Không gian sinh hoạt của người Dao cũng được chia theo giới tính. Gian bếp là nơi nữ giới tiếp khách, gian có bếp khách chính là gian dành cho nam giới, khách là nam đến nhà sẽ được mời ngồi ở gian này. Không gian sinh hoạt phân theo giới cũng chịu sự chi phối của vị trí đặt bếp trong nhà. Như vậy, một cách gián tiếp yếu tố nguồn nước đã chi phối đến toàn bộ không gian mặt bằng sinh hoạt của ngôi nhà người Dao.

- Ngôi nhà ứng phó với mưa

Ứng phó với thời tiết vùng cao nhiều mưa nắng, số lượng ngày mưa dày và lượng nước mưa trung bình năm rất lớn, khí hậu lại ẩm ướt, sương mù nên các ngôi nhà của người Dao luôn được tôn nền cao, đào rãnh thoát nước và mái nhà được làm khá dốc.

Dù người Dao ở nhà trình tường hay nhà nền đất, nhà sàn hay nửa sàn nửa đất thì đều có một đặc trưng chung là có hệ thống rãnh thoát nước xung quanh nhà.  Nhà của người Dao ở Nậm Cang, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai đào rãnh thoát nước xung quanh nhà sâu đến 50cm và cách tả ly nhà 1 – 1,5m. Phía bên ngoài nền nhà của người Dao Khâu cũng đào rãnh sâu khoảng 40 – 50cm, rộng khoảng 60cm – 1m ở bốn xung quanh nhà và cách chân tường khoảng 1,5m để thoát nước mưa. Nhờ có kỹ thuật đào rãnh thoát nước nên các ngôi nhà của người Dao ít khi bị nước tràn vào nhà dù xảy ra mưa lớn. Đặc điểm của cơn mưa ở miền núi rất bất ngờ, có khi ào ạt tạo thành cơn lũ. Bên cạnh đó các ngôi nhà đều được làm ở sườn núi, ở chân rừng nên lượng nước mưa từ trên cao tràn xuống là khá lớn. Các rãnh thoát nước này thực sự là một sáng tạo linh hoạt và vô cùng quan trọng để người Dao thích ứng với điều kiện khí hậu khắc nghiệt.

Tôn nền cao cũng là một cách hữu hiệu để ngôi nhà của người Dao chống chọi với các cơn mưa thường xuyên diễn ra. Phương pháp này thường được áp dụng khi họ dựng nhà trên các mảnh đất rộng và tương đối bằng phẳng. Đôi khi để tăng thêm hiệu quả chống nước tràn vào nhà, người Dao còn kết hợp cả tôn nền nhà cao với đào rãnh thoát nước xung quanh nhà. Ngôi nhà của người Dao Tuyển Lào Cai thường sử dụng kêt hợp cả hai phương pháp này. Ngoài việc đào những rãnh thoát nước rộng 60cm, sâu 40cm, cách chân cột 1 – 2m, nền của ngôi nhà luôn được tôn cao 15 – 20cm. Chính vì vậy, nền nhà của người Dao Tuyển luôn cao hơn so với các rãnh thoát nước một khoảng. Khi nước mưa giỏ từ giọt gianh xuống sẽ lập tức chảy ngay xuống rãnh thoát nước theo quán tính chứ không chảy ngược vào trong nhà, không gây ẩm chân tường, vách.

Mái nhà của người Dao dốc theo từng vùng nhằm chống chọi với lượng mưa. Mái nhà người Dao Đỏ ở huyện Sa Pa, Dao Khâu ở huyện Sìn Hồ hay Dao Tuyển ở tỉnh Hà Giang thường có độ dốc trung bình từ 35 - 40 độ để nhanh chóng thoát nước khi gặp những cơn mưa lớn. Họ thường dùng góc của hiên nhà trước và sau để tính độ dốc của mái nhà. Họ làm mái nhà dốc như vậy để tăng độ bền của mái cỏ tranh, vì mái nhà càng dốc thì nước mưa khi rơi xuống sẽ chảy đi nhanh hơn không bị đọng lại lâu trên mái. Sau cơn mưa thì mái nhà sẽ nhanh chóng khô ráo, đặc biệt là đối với những mái cỏ tranh đã lợp lâu năm. Thêm vào đó, các mái nhà của các nhóm Dao luôn được làm đua ra ngoài 1 - 1,5m để ngăn nước mưa thấm vào chân tường làm hỏng tường, và nền nhà. Mái nhà truyền thống của các ngôi nhà sàn của người Dao Tuyển và các nhóm ngành Dao khác thường được kết cấu dạng rủ xuống, thấp dần sao cho gần ngang với mặt sàn của ngôi nhà làm cho không gian nhà khá tối. Nhưng do điều kiện thời tiết ở vùng cao khá nhiều sương mù và rất lạnh thì việc tạo những chiếc mái rủ lại rất hợp lý. Mái rủ thấp có tác dụng che chắn, ngăn sương mù và gió lạnh tràn vào nhà, giữ cho ngôi nhà ấm áp hơn. Đây là một cách xử lý nhạy bén trong cách ứng xử của người Dao với môi trường tự nhiên mang tính thích ứng.

Như vậy, nhà ở đã phản ánh rõ nét cách ứng xử rất linh hoạt của người Dao với môi trường tự nhiên đặc biệt là ứng xử với rừng, với nguồn nước và điều kiện khí hậu cũng như các điều kiện về địa hình. Ứng xử của người Dao với môi trường thứ nhất được thể hiện qua cách chọn địa bàn cư trú gồm chọn đất lập làng và chọn đất làm nhà ở. Các ngôi làng và nhà ở của người Dao luôn được làm ở gần rừng, sát rừng nhưng cũng tạo một khoảng cách nhất định với rừng. Rừng và núi cũng được chọn làm điểm tựa cho ngôi làng và ngôi nhà của người Dao. Đó là điểm tựa vững chắc, giúp bảo vệ con người khỏi khỏi các tai họa trong thực tế cũng như các quan niệm trong đời sống tâm linh. Sự hài hòa, thích ứng còn thể hiện cả trong công việc chọn đất, dựng nhà, lập làng. Nhà người Dao bao giờ cũng phải dựa lưng vào núi, dựa lưng vào rừng. Rừng ở phía trên làng, phía sau nhà được bảo vệ nghiêm ngặt. Các khu rừng ở đây trở thành các rừng thiêng, rừng cấm không ai được chặt phá. Nhờ vậy, rừng đã trở thành tấm áo giáp che chở cho các làng của người Dao. Yếu tố nước cũng có vai trò quan trọng như yếu tố rừng trong việc chọn đất định cư. Đó là một trong những điều kiện để người Dao chọn đất cư trú, là một trong ba yếu tố tạo nên thế kiềng ba chân vững chắc: rừng – nước – nơi ở của người Dao.

Ngôi nhà của người Dao chính là tấm gương phản chiếu rõ nét nguồn tài nguyên rừng, điều kiện khí hậu, thủy văn,... Toàn bộ kết cấu ngôi nhà cho đến các công được sử dụng để làm nhà đều do rừng cung cấp. Các kiểu nhà ở phong phú và đa dạng đã phản ánh điều kiện khí hậu, địa hình và khả năng thích ứng cao của người Dao với các môi trường và địa vực cư trú khác nhau. Người Dao đã tận dụng các yếu tố tự nhiên thuận lợi để khống chế các mối hiểm họa từ chính môi trường đó tạo nên. Họ sử dụng rừng để ứng phó với nước, lại sử dụng các nguyên liệu từ rừng để tạo nên ngôi nhà ứng phó với điều kiện khí hậu nóng, ẩm, nhiều mưa bão và mùa đông lạnh giá, sáng tạo kiểu nhà sàn, tận dụng chính các nguyên liệu từ rừng để chống chọi với thú dữ, côn trùng,... Qua ngôi nhà, qua cách chọn nơi cư trú đã phản ánh cơ chế ứng xử môi trường tự nhiên của người Dao vô cùng linh hoạt. Đó là một cơ chế ứng xử mềm, nghiêng về tận dụng, thích ứng với môi trường tự nhiên nhiều hơn là đối chọi.

 

 

 

 

 

 

 

Bạn đang đọc bài viết "Văn hóa dân gian ứng dụng- Kỳ 13" tại chuyên mục Nghiên cứu. | Hotline: 08.4646.0404 | Email: toasoan@vanhoavaphattrien.vn