Văn hóa dân gian ứng dụng- Kỳ 20

TS, Trần Hữu Sơn

25/06/2021 23:18

TS. Trần Hữu Sơn - Viện trưởng Viện Văn hóa dân gian ứng dụng, có nhiều năm nghiên cứu về văn hóa dân tộc. Ông đã có mười đầu sách, công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian. Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển giới thiệu tới độc giả công trình nghiên cứu Văn hóa dân gian ứng dụng của ông, dày 324 trang.

tran-huu-son-1622795553.jpg
TS. Trần Hữu Sơn

VĂN HÓA DÂN GIAN ỨNG DỤNG- Kỳ 20

LÝ THUYẾT VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU BÓNG RỖI

 

Bóng rỗi là di sản văn hóa dân gian nổi tiếng ở Nam Bộ. Nghiên cứu bóng rỗi đã có nhiều tác giả đề cập đến nhưng chủ yếu các tác giả đều dựa vào hướng tiếp cận miêu thuật, ít vận dụng các lý thuyết nghiên cứu về văn hóa. Trong bản báo cáo này, tôi đề xuất một số hướng tiếp cận và lý thuyết trong nghiên cứu bóng rỗi.

1. Lý thuyết nghiên cứu

Lý thuyết đóng vai trò rất quan trọng trong nghiên cứu khoa học. Nhờ có lý thuyết, công trình nghiên cứu có chức năng định hướng, dựng quá trình. Lý thuyết đóng góp cho công trình nghiên cứu hệ thống hóa được tri thức (mô tả đối tượng, phân loại đối tượng theo một tiêu chí, nguyên tắc của lý thuyết quy định). Lý thuyết còn phân tích rõ đối tượng (làm rõ nguồn gốc, nguyên nhân, nhân tố tác động hoặc các yếu tố ảnh hưởng đến đối tượng nghiên cứu). Lý thuyết cũng tiên đoán dự báo xu hướng biến đổi tất yếu, đánh giá thực trạng, hiệu quả của đối tượng. Đặc biệt lý thuyết còn có chức năng chỉ đạo, định hướng (như kim chỉ nam) cho nghiên cứu[1].

Vậy lý thuyết là gì? Cấu trúc của lý thuyết gồm các thành tố gì ? Khái niệm về lý thuyết nhiều nhà khoa học đã đề cập đến. Tôi xin trích dẫn một số khái niệm :

- Nhà khoa học Vũ Cao Đàm trong Phương pháp nghiên cứu khoa học có định nghĩa: “Lý thuyết khoa học là một hệ thống luận điểm khoa học về mối liên hệ giữa các khái niệm khoa học. Lý thuyết cung cấp một quan niệm hoàn chỉnh về bản chất sự vật, những liên hệ bên trong của sự vật và mối liên hệ cơ bản giữa sự vật với thế giới hiện thực”[2].

- Theo Lê Ngọc Hùng, “Lý thuyết là hệ thống các khái niệm và các lập luận logic có thể kiểm chứng được để giải thích về những hiện thực nhất định”[3].

- Lý thuyết được Tô Duy Hợp định nghĩa như sau: “Lý thuyết là một hệ thống tư tưởng bao gồm các khái niệm/phạm trù, phán định (phán đoán/nhận định), và quá trình lập luận, như luận kết (suy diễn, quy nạp, loại tỷ) hoặc/và luận chứng (chứng minh, phủ bác) hợp logic nhằm làm sáng tỏ hệ thống đặc trưng, bản chất và các quy luật biến đổi của đối tượng nhất định trong Tự nhiên, Xã hội và Tư duy”[4].

Đề tài nghiên cứu khoa học đều cần lý thuyết. Thực tế chứng minh, cùng một đề tài nghiên cứu nhưng mỗi tác giả áp dụng một lý thuyết khác nhau sẽ đạt kết quả mới. Đề tài cũ, tư liệu cũ nhưng vận dụng lý thuyết mới sẽ phát hiện ra vấn đề mới. Cùng nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu, sau khi GS. Ngô Đức Thịnh xuất bản gần chục công trình, nhiều người cho rằng khó có thể nghiên cứu mới về đạo Mẫu nhưng các tác giả trẻ áp dụng các lý thuyết mới đều phát hiện những vấn đề mới. Nguyễn Ngọc Mai vận dụng hướng tiếp cận lịch sử đã nghiên cứu thành công đề tài “Nghi lễ lên đồng – Lịch sử và giá trị”; Mai Thị Hạnh lại vận dụng lý thuyết vốn xã hội để nghiên cứu đề tài Tiến sỹ “Bản hội trong đạo Mẫu: Tạo lập vốn xã hội trong quá trình chuyển đổi”; Vũ Thị Tú Anh vận dụng một số lý thuyết về quyền lực và quyền lực mềm để nghiên cứu đề tài “Quyền lực mềm của người phụ nữ trong văn hóa đạo Mẫu”. Theo tôi, cả 3 công trình này đều vận dụng thành công các lý thuyết mới và nghiên cứu đạo Mẫu, thổi làn gió mới vào lĩnh vực văn hóa tín ngưỡng.

2. Cấu trúc luận

Cấu trúc luận (structuralism) là trào lưu khoa học nổi bật trong thế kỷ XX. Trong nhân học, Claude Levi-Strauss (1908 – 2009) là người tiên phong phát triển lý thuyết cấu trúc. Trong các công trình nghiên cứu, Claude Levi-Strauss đưa ra và phân tích quan điểm Nhị nguyên luận về các cặp đối lập tạo thành hệ thống. Dựa vào cấu trúc luận trong ngôn ngữ của các tác giả Saussure và R.Jakovson, ông đưa ra quan điểm cho rằng những con người các bộ tộc thời cổ đều có trình độ tư duy nhận xét thế giới (các nền văn hóa) theo hình thức các cặp đối lập mà cơ bản nhất, nổi trội nhất là hai cặp Trời/ĐấtĐực/Cái[5]. Từ các cặp đối lập cơ bản này, xuất hiện hình thức đối lập theo kiểu nhị nguyên như văn hóa/tự nhiên, nóng/lạnh, sống/chín… Đặc biệt, ông cũng đề xuất nhân tố “trung gian”. Từ các cặp đối lập mặt trời/trái đất, tự nhiên/văn hóa, sự sống/cái chết… đều xuất hiện các yếu tố trung gian như: sương mù làm trung gian giữa trờiđất; áo quần là trung gian giữa tự nhiên văn hóa; rác thải là trung gian giữa một làng có người ởngoài rừng. Ở đây, vai trò của trung gian rất quan trọng, y phục (quần áo, giày) là trung gian giữa tự nhiên (hoang dã) và văn hóa (tốt lành).

Cấu trúc nhị nguyên phản ánh đậm nét trong diễn xướng bóng rỗi và chặp Địa nàng. Cấu trúc này thấm đậm ở trong không gian và thời gian, cả ở điện thần và các thành tố nghệ thuật như nghệ thuật âm nhạc, nghệ thuật múa, sân khấu, nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật ngôn từ, ẩm thực...

Diễn xướng bóng rỗi và chặp Địa nàng thường tổ chức ở các miếu thờ bà trong dịp lễ hội. Các miếu dành để thờ Mẫu (thờ Bà) nhưng khi tổ chức diễn xướng cúng bà thì các bóng đều mời Bà/ mời Ông hát rỗi bà trước, sau đó phải hát chầu Ông.

- Không gian diễn xướng bóng rỗi, chặp Địa nàng là khu vực ở ngay trước ngai thờ bà, giữa cửa miếu và bàn tiên. Đây là không gian thiêng. Vượt khỏi khu vực này là không gian trần tục – không gian của khán giả/người xem. Không gian thiêng đối lập với không gian trần tục. Trong phạm vi không gian thiêng có không gian nghệ thuật dành để biểu diễn bóng rỗi. Không gian nghệ thuật cũng đối lập với không gian sinh hoạt đời thường.

- Thời gian diễn xướng có thời gian nghệ thuật/thời gian đời thường, có thời gian thiêng/thời gian trần tục. Khi thời gian thiêng bắt đầu (thời gian hành lễ), không gian thiêng đã tạo ra cơ chế vận hành của hệ thống các thành tố nghệ thuật dân gian trong rỗi, không gian diễn xướng chuyển động, không gian sinh hoạt đời thường chuyển hóa thành không gian nghệ thuật.

- Chủ thể diễn xướng là các bà bóng. Gọi là bà cứ nghĩ là giới nữ nhưng chủ thể diễn xướng ở đây phản ánh rất đậm nét thuyết nhị nguyên luận:

  + Bà bóng nữ

  + Bà bóng là nam giới nhưng “mang tính nữ nhiều hơn tính nam” (Nguyễn Thị Hải Phượng - 2014). Các bà bóng này là giới thứ ba – đặc trưng cho những người có “căn” làm bóng cũng như người hầu đồng ở ngoài bắc.

Các bà bóng nếu phân loại theo nghề nghiệp trình độ thì có Bóng vu vibóng tuồng. Bà bóng còn là nhân vật trung gian, biết hát và mang những lời khẩn cầu của người dân chuyển đến thần.

Tìm hiểu từng thành tố văn hóa dân gian càng thấy rõ đặc điểm nhị nguyên luận. Về nghệ thuật âm nhạc, Nguyễn Thị Hải Phượng phát hiện ra trong các bài hát rỗi, khi bắt đầu hát là hơi xuân (trang nghiêm, vui vẻ), giữa bài phải chuyển hơi Ai (diễn tả nỗi buồn). Kết cấu âm nhạc là Vui/Buồn, giai điệu cũng có nhanh/chậm, sáng/tối. Trong dàn nhạc các buổi lễ lớn cúng bà cũng có dàn nhạc phe Văn/phe Võ. Tiêu biểu là có trống Văn/trống Võ (Nguyễn Thị  Hải Phượng). Trong nơi thờ cúng Bà có mõ và chuông, mõ để bên trái/chuông để bên phải người hát cầu. Mõ và chuông là 2 nhạc cụ đối lập phản ánh quan niệm âm dương.

Trong nghệ thuật tạo hình dân gian, màu sắc trang phục đạo cụ đều có gam màu nóng đan xen gam màu lạnh (áo ông Địa màu chủ đạo là màu vàng đỏ, áo Nàng Tiên màu chủ đạo lại là xanh trắng). Đạo cụ dâng cúng có mâm vàng/mâm bạc. Mâm vàng cúng Bà, mâm bạc cúng Ông. Nghệ thuật sắp xếp trái cây thành hình các con vật long/ly và quy/phượng với màu sắc, biểu tượng mang tính đối lập với các cặp âm/dương, trên/dưới.

Như vậy từ thần linh đến các nhân vật trung gian (bà bóng), từ nghệ thuật tạo hình đến nghệ thuật diễn xướng đều mang đậm cấu trúc nhị nguyên của các cặp đối lập. Cấu trúc nhị nguyên các cặp đối lập nếu quan sát kỹ còn chi phối cả nghệ thuật ngôn từ (phần lời của các bài hát, bài cúng), phản ánh trong từng động tác, hình tượng của nghệ thuật múa, cả các đồ dâng cúng, văn hóa ẩm thực. Các cặp đối lập tạo ra bản sắc, phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan của cư dân Nam Bộ.

3. Nghiên cứu bóng rỗi, chặp Địa nàng dưới góc nhìn của thuyết Hệ thống

Hệ thống là “tập hợp nhiều yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng, có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ, làm thành một thể thống nhất” (Hoàng Phê chủ biên 1992 – Từ điển tiếng Việt).

Bóng rỗi, chặp Địa Nàng là sinh hoạt văn hóa dân gian có đặc trưng tổng thể - hệ thống. Bóng rỗi, chặp Địa nàng là một hệ thống văn hóa dân gian. Trong sinh hoạt văn hóa dân gian này có nhiều hệ thống (thành tố) khác nhau như nghi lễ, nghệ thuật âm nhạc, nghệ thuật múa, nghệ thuật sân khấu, nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật ẩm thực... Bao trùm toàn bộ là cái thiêng. Các thành tố này tạo thành từng tiểu hệ thống nhưng lại có quan hệ khăng khít với nhau cùng mang đặc trưng “chỉnh thể nguyên hợp”. Vì vậy, khi nghiên cứu bóng rỗi, chặp Địa nàng cần xác định sinh hoạt văn hóa này là một hệ thống gồm một số tiểu hệ thống khác nhau (các thành tố văn hóa). Mỗi tiểu hệ thống đó lại bao gồm các hệ thống nhỏ hơn. Ví dụ trong tiểu hệ thống nghi lễ có nghi thức Cầu An, nghi thức Đoàn Cả (trong ngày thứ hai). Ở nghi thức này lại có các nghi thức Khai Tràng; Chầu mời, thỉnh tổ; Dâng bông, dâng mâm; Bán lộc; An vị. Hoặc trong thành tố nghệ thuật âm nhạc của bóng rỗi, chặp Địa nàng còn có hệ thống giai điệu, tiết tấu, nhạc khí... Như vậy, nghiên cứu theo hướng tiếp cận lý thuyết hệ thống đòi hỏi người nghiên cứu cần xây dựng thao tác “bóc tách” các thành tố (các tiểu hệ thống và hệ thống nhỏ hơn) trong tổng thể để nghiên cứu. Nhà nghiên cứu Folklore người Nga V.la. Propp đã nghiên cứu “Những lễ hội nông nghiệp” theo phương pháp “bóc tách” này[6]. Ông chia mỗi thành tố của lễ hội nông nghiệp Nga thành các chương của công trình cụ thể như sau:

- Chương I: Lễ tưởng niệm người chết;

- Chương II: Các món ăn nghi lễ;

- Chương III: Lễ đón xuân;

- Chương IV: Những bài hát thần chú, chức mừng;

- Chương V: Tục thờ thực vật;

- Chương VI: Cái chết và tiếng cười;

- Chương VII: Trò diễn và trò chơi giải trí của lễ hội.

Ở Việt Nam, một số tác giả vận dụng lý thuyết hệ thống nghiên cứu về âm nhạc như Tô Ngọc Thanh[7], nghiên cứu về lễ hội như công trình của Ngô Văn Doanh[8]

Tuy nhiên, nghiên cứu Hệ thống cần chú ý nguyên tắc vận hành của sự kiện, lễ hội hoặc sinh hoạt văn hóa luôn vận hành theo Tổng thể. Các hệ thống, tiểu hệ thống luôn có mối quan hệ hữu cơ gắn chặt với nhau tạo thành đặc trưng “chỉnh thể nguyên hợp”. Trong thành tố nghi lễ luôn hòa quyện với thành tố âm nhạc và múa. Chất thiêng của không gian thiêng, thời gian thiêng chi phối mọi thành tố khác nhau. Do đó, dù người nghiên cứu có ý định “bóc tách” các thành tố để thuận lợi cho nghiên cứu thì luôn nắm rõ nguyên tắc vận hành và các mối quan hệ. Các hệ thống, tiểu hệ thống luôn “có mối quan hệ loại hình, quan hệ chi phối, quan hệ phân cấp hay quan hệ nhân quả”[9].

Sau khi “bóc tách” các thành tố, dựng khuôn hình các hệ thống, tiểu hệ thống cần tiến hành miêu thuật sinh hoạt bóng rỗi và chặp Địa nàng. Hiện nay, khi nghiên cứu về văn hóa, một số tác giả phê phán về phương pháp miêu thuật, cho rằng phương pháp này đã lạc hậu. Điều đó có phần đúng nhưng nếu phủ nhận miêu thuật là hành động cực đoan trong nghiên cứu văn hóa. Miêu thuật là yêu cầu tất yếu của nghiên cứu văn hóa. Tuy nhiên hầu hết các công trình nghiên cứu về bóng rỗi, chặp Địa nàng hiện nay đều miêu thuật quá khái quát, chưa sâu. Các lễ nghi, tập quán miêu thuật không rõ địa điểm, thời gian, nhân vật cụ thể. Đọc một bài về bóng rỗi chung chung không biết ở các tỉnh, các địa phương khác nhau nhưng không nêu bật được tính đặc thù. Trước thực trạng miêu thuật này cần đề cao các phương pháp định tính kết hợp với định lượng trong điền dã, không nên ỷ lại vào phiếu điều tra mà coi nhẹ phương pháp quan sát tham dự, phỏng vấn sâu, câu chuyện cuộc đời... Nhà Nhân học Mỹ nổi tiếng Clifford Geerts đã đề ra phương pháp miêu thuật mới có sự tham gia đối thoại của cả ba nhân vật là người nghiên cứu, người được nghiên cứu (người bản địa) và độc giả[10]. Ông cũng đề xuất phương pháp miêu tả sâu, gắn miêu tả các hành vi, ứng xử với các bối cảnh cụ thể sản sinh ra các hành vi, ứng xử. Trong thực tiễn nghiên cứu lễ hội và các sự kiện văn hóa, tôi có kinh nghiệm khi quan sát, miêu tả cần chú ý 9 yếu tố: 1) Thời gian nảy sinh sự kiện; 2) Địa điểm (không gian); 3) Lực lượng tham gia sự kiện; 4) Các động tác, hành động xảy ra; 5) Các hiện vật, đạo cụ; 6) Các lời nói (lời khấn, cúng, hát); 7) Các mục đích được phản ánh; 8) Các tình cảm thể hiện các đối tượng tham gia sự kiện; 9) Quá trình hình thành và phát triển của sự kiện.

Bên cạnh phương pháp miêu thuật sâu các thành tố văn hóa dân gian của bóng rỗi, chặp Địa nàng cần áp dụng các phương pháp phân tích và ứng dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể với từng thành tố văn hóa dân gian. Trong thành tố nghi lễ của bóng rỗi, chặp Địa nàng có thể vận dụng cái nhìn cấu trúc sự kiện và cấu trúc xã hội của Beverly J.Stoeltje. Ông ta cho rằng lễ hội được vận hành bởi 2 kiểu cấu trúc là cấu trúc sự kiệncấu trúc xã hội. Trong cấu trúc sự kiện bao gồm các thành tố sự kiện khác nhau:

- Nghi thức mở đầu

- Nghi lễ

- Kịch và thi tranh tài

- Yến tiệc (ẩm thực)

- Múa và âm nhạc

- Sự kiện kết thúc

Cấu trúc xã hội của thành phần tham dự như theo lứa tuổi (già, trẻ, trẻ em…), theo giới (nam, nữ), theo địa bàn cư trú (người địa phương sở tại hay khách vãng lai), theo địa vị kinh tế (giàu hay nghèo)… Vận dụng mô hình cấu trúc lễ hội của Beverly J.Stoeltje trong nghiên cứu thành tố nghi lễ bóng rỗi chắc chắn sẽ phát hiện nhiều điểm thú vị[11].

Trong thành tố nghệ thuật ngôn từ (nghệ thuật ngữ văn) có thể vận dụng một số lý thuyết nghiên cứu văn học dân gian để phân tích. Hiện nay, Thi pháp học đang thịnh hành và được ứng dụng ở nhiều công trình ngữ văn. Ứng dụng thi pháp học vào việc nghiên cứu nghệ thuật ngôn từ bóng rỗi chắc sẽ gặt hái được kết quả. Nghệ thuật ngôn từ trong bóng rỗi, chặp Địa nàng chủ yếu là phần lời các bài hát, các bài cúng, cầu khấn… Tùy từng loại hình có thể nghiên cứu về kết cấu thơ, lối đối đáp, lối kể chuyện, thể thơ cũng như các thủ pháp nghệ thuật về xây dựng hình tượng bằng so sánh, bằng lối miêu tả… Từ đó tìm ra đặc trưng của nghệ thuật ngôn từ. Trong nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật múa chắc chắn sẽ xuất hiện các hệ thống biểu tượng đặc sắc như biểu tượng về mẹ, biểu tượng về phồn thực, biểu tượng về đất, nước… Nghiên cứu các biểu tượng này, giải mã các biểu tượng cũng là hướng nghiên cứu quan trọng trong nghiên cứu sinh hoạt bóng rỗi, chặp Địa nàng.

4. Tiếp cận bóng rỗi, chặp Địa nàng dưới góc nhìn du lịch

Bóng rỗi, chặp Địa nàng thường xuyên tổ chức ở các lễ hội lớn như lễ hội miếu Bà Chúa Xứ núi Sam (An Giang), lễ hội Bà Đen (Tây Ninh), lễ hội chùa Bà Thiên Hậu (Bình Dương)… Các miếu thờ Bà này cũng là điểm du lịch tâm linh nổi tiếng. Vì vậy, nghiên cứu bóng rỗi, chặp Địa nàng cần gắn với góc nhìn du lịch, tiếp cận theo hướng phát triển du lịch bền vững. Trong các hướng nghiên cứu trước, ta chú trọng “chủ thể” của bóng rỗi, chặp Địa nàng thì theo hướng tiếp cận này ta cần coi trọng nghiên cứu khách thể - nghiên cứu các khán giả đến với bóng rỗi, chặp Địa nàng. Trước hết, cần vận dụng lý thuyết vốn xã hội, vốn văn hóa để nghiên cứu. Trong đó, xác định bóng rỗi, chặp Địa nàng là sản phẩm du lịch đặc thù trong các điểm đến của du lịch tâm linh. Đặc điểm nổi bật các điểm đến (các miếu thờ Bà) có sức thu hút du khách rất lớn trong mùa lễ hội, góp phần tăng nguồn thu cho địa phương. Vì thế dưới góc nhìn du lịch cần phân tích điểm mạnh, điểm yếu của sản phẩm du lịch đặc thù, chú ý phân tích các yếu tố sau:

- Sức hút của du khách khán giả đến sử dụng sản phẩm bóng rỗi, chặp Địa nàng. Các loại du khách và các nhu cầu khác nhau? Nghiên cứu phân khúc thị trường đến các lễ hội, các miếu Bà.

- Phân tích tính thời vụ của du lịch tâm linh. Ngày lễ hội quá tải sức chứa của điểm đến nhưng ngày thường lại vắng khách?

- Nghiên cứu xu hướng sự biến thiên, “tái sáng tạo” của bóng rỗi, chặp Địa nàng. Ảnh hưởng của du lịch với bản sắc di sản? Tác động của di sản khi đã trở thành tài sản du lịch, nguồn lực phát triển du lịch?...

- Đề xuất các giải pháp khắc phục tính mùa vụ, tăng khả năng lưu trú, sử dụng đa dạng các dịch vụ... từ đó tăng nguồn thu theo hướng bền vững...

Bên cạnh các hướng tiếp cận trên, có thể vận dụng một số lý thuyết, áp dụng các hướng tiếp cận mới cho vấn đề nghiên cứu bóng rỗi, chặp Địa nàng.

- Vận dụng lý thuyết về cấu trúc xã hội của nhà Xã hội học người Pháp Gaston Bouthoul nhằm nghiên cứu về cấu trúc các tầng lớp bà bóng. Từ đó tìm hiểu vai trò của đội ngũ này trong đời sống tín ngưỡng đương đại.

- Vận dụng lý thuyết về giới, về nữ quyền trong nhân học để nghiên cứu quyền lực của người phụ nữ, quyền lực đội ngũ bóng trong tín ngưỡng thờ Bà, trong thực hành bóng rỗi, chặp Địa nàng.

- Dưới góc độ quản lý, có thể vận dụng lý thuyết quyền lực của cái thiêng, quyền lực chính trị trong nhân học chính trị để nghiên cứu các chính sách, các phương thức quản lý sinh hoạt bóng rỗi, chặp Địa nàng phù hợp với thực tiễn, phù hợp với tính đặc thù của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Bộ.

Các lý thuyết vận dụng nghiên cứu bóng rỗi, chặp Địa nàng khá phong phú. Tùy theo yêu cầu của thực tiễn có thể vận dụng cho phù hợp và đạt hiệu quả. Cần có cái nhìn đa chiều, hướng tiếp cận đa diện trong việc nghiên cứu Bóng rỗi.

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

  1. Vũ Minh Chi (2004), Nhân học văn hóa con người với thiên nhiên xã hội và thế giới siêu nhiên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  2. Ngô Văn Doanh (1995), Lễ hội bỏ mả Bắc Tây Nguyên, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.
  3. Mai Mỹ Duyên (2014), Kỹ năng trình diễn múa bóng rỗi, Hội thảo tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Bộ.
  4. Vũ Cao Đàm (2015), Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.
  5. Trịnh Bá Đĩnh, Chủ nghĩa cấu trúc và văn học, Nxb Văn học.
  6. Georoges Balander (2016), Nhân học chính trị, Nxb Tri thức, Hà Nội.
  7. Gston Bouthoul (2011), Các cấu trúc xã hội học, Nxb Văn hóa Thông tin
  8. Lê Ngọc Hùng (2013), Lý thuyết xã hội học hiện đại.
  9. Nguyễn Xuân Kính (2004), Thi pháp ca dao, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội.
  10. Nhiều tác giả (2014), Lễ hội cộng đồng – truyền thống và biến đổi, Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.
  11. Nhiều tác giả (2014), Một số vấn đề về lịch sử và lý thuyết nhân học, Nxb Tri thức Hà Nội.
  12. Nguyễn Thị Hải Phượng (2014), Nghi thức diễn xướng bóng rỗi trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Nam Bộ, Hội thảo tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Bộ.
  13. Nguyễn Thị Hải Phượng (2014), Bóng rỗi và chặp Địa nàng trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Nam Bộ, Luận án Tiến sỹ.
  14. Võ Văn Sen – Ngô Đức Thịnh – Nguyễn Văn Lân (đồng chủ biên, 2016), Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Bộ - bản sắc và giá trị, Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.
  15. Tô Ngọc Thanh (1988), Âm nhạc dân gian Thái Tây Bắc, Nxb Âm nhạc, Hà Nội.
  16. Ngô Đức Thịnh – Frank Proschan (2005), Folklore một số thuật ngữ đương đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
  17. Huỳnh Tới (2014), Diễn xướng ở miếu Bà: Bóng rỗi Địa nàng, Hội thảo tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Bộ. 
  18. Yu.M.Lotman (2015), Ký hiệu học văn hóa, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội.
  19. V.la. Propp (2004), Tuyển tập V.la.Propp, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.
  20. Lê Trung Vũ – Lê Hồng Lý – Nguyễn Thị Phương Châm (2014), Lễ hội dân gian, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

 


[1] Tô Duy Hợp (2015), Khái niệm và quan niệm lý thuyết, https://danthan.wordpress.com/2015/03/28/khai-niem-va-quan-niem-ve-ly-thuyet/. Truy cập ngày 2/5/2017.

[2] Vũ Cao Đàm (2011), Giáo trình Phương pháp nghiên cứu khoa học, Nxb Giáo dục Việt Nam, trang 24.

[3] Lê Ngọc Hùng (2013), Lý thuyết xã hội học hiện đại, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, trang 13.

[4] Tô Duy Hợp (2015), Khái niệm và quan niệm về lý thuyết, tlđd.

[5] Trịnh Bá Đĩnh (2002), Chủ nghĩa cấu trúc và văn học, Nxb Văn học, tr.28.

[6] V.la. Propp (2004), Tuyển tập V.la. Propp (tập 2), Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội (trang 13-266).

[7] Tô Ngọc Thanh (1988), Âm nhạc dân gian Thái Tây Bắc, Nxb Âm nhạc.

[8] Ngô Văn Doanh (1995), Lễ hội bỏ mả Bắc Tây Nguyên, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.

[9] Nguyễn Văn Dân (2012), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, trang 339.

[10] Vũ Minh Chi (2004), Nhân học Văn hóa con người với thiên nhiên, xã hội và thế giới siêu nhiên, Nxb Chính trị quốc gia.

[11] Ngô Đức Thịnh – Frank Proschan (2005), Folklore một số thuật ngữ đương đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

Bạn đang đọc bài viết "Văn hóa dân gian ứng dụng- Kỳ 20" tại chuyên mục Nghiên cứu. | Hotline: 08.4646.0404 | Email: toasoan@vanhoavaphattrien.vn