Văn hóa dân gian ứng dụng- Kỳ 22 (hết)

TS. Trần Hữu Sơn

27/06/2021 08:02

TS. Trần Hữu Sơn - Viện trưởng Viện Văn hóa dân gian ứng dụng, có nhiều năm nghiên cứu về văn hóa dân tộc. Ông đã có mười đầu sách, công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian. Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển giới thiệu tới độc giả công trình nghiên cứu Văn hóa dân gian ứng dụng của ông, dày 324 trang.

tran-huu-son-1622795553.jpg
TS. Trần Hữu Sơn

VĂN HÓA DÂN GIAN ỨNG DỤNG- Kỳ 22

NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ HOA VĂN TRÊN TRANG PHỤC

NGƯỜI DAO ĐỎ XÃ TẢ PHÌN

 

Người Dao cư trú tại Việt Nam được chia làm 4 nhóm, gồm: Đại bản, Tiểu bản, Khố bạch và Làn tiẻn[1]. Trong đó người Dao Đỏ ở Lào Cai hiện nay đến Việt Nam hồi thế kỷ XIII từ tỉnh Vân Nam Trung Quốc và thuộc nhóm Đại bản. Trang phục và hoa văn trang trí trên trang phục của người Dao Đỏ khác biệt với những nhóm Dao khác. Nghệ thuật dân tộc Dao rất ít thể hiện bằng phương pháp hội hoạ. Đến nay chỉ còn thấy được trên một số tranh thờ Tam Thanh và trên hoạ tiết in sáp ong của người Dao Tiền là còn sử dụng bút vẽ trên giấy bản và vải lanh. Hầu hết nghệ thuật trang trí của người Dao được thể hiện qua các mẫu thêu hoa văn trang trí trên trang phục mà không cần phải qua khâu vẽ tạo hình. Chiếc bút vẽ của họ chính là những mũi kim sợi chỉ. Mỗi mẫu hoa văn trang trí đều chứa đựng trong nó những kỹ thuật thêu, cách tổ chức bố cục và những biểu trưng về văn hoá được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Việc tìm hiểu nghệ thuật trang trí của họ không những giúp chúng ta bảo tồn được một truyền thống văn hoá riêng trong khối cộng đồng các dân tộc anh em mà còn đóng góp thêm cho sự phong phú của nền Mỹ thuật Việt Nam.

Đề tài viết về trang phục của người Dao đã có nhiều tác giả đề cập đến nhưng viết về nghệ thuật trang trí hoa văn trên trang phục của người Dao chưa nhiều. Tiêu biểu là: sách “Người Dao ở Việt Nam” do nhóm tác giả: Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến viết năm 1971, cũng chỉ nhắc đến hoa văn trang trí của người Dao trong mục 8 (Từ tr.313 đến tr.320) như một tiểu mục rất nhỏ. Hầu hết là sự thống kê về số lượng hoa văn chứ chưa phân tích mổ xẻ tri tiết cách tạo hình và kiểu dáng bố cục chứa đựng chúng.

Sách “Trang phục cổ truyền của người Dao ở Việt Nam” do PGS. TS. Nguyễn Khắc Tụng và TS. Nguyễn Anh Cường, NXB KHXH, (12-2004), được trình bày bằng phương pháp miêu tả dân tộc học để diễn tả bộ trang phục với mục đích phân loại nhóm Dao ở Việt Nam. Về mảng hoa văn trang trí chỉ được nhắc đến một cách khái quát như là một phần điểm xuyết, một bộ phận nhỏ trên toàn thể bộ trang phục. Nhưng gần về cuối của cuốn sách (Từ tr.109 đến tr.120) tác giả đưa ra một bảng thống kê các hoa văn trên trang phục người Dao những chú thích về phiên âm tiếng Dao, phiên âm tiếng Việt, nhóm Dao, tính biểu tượng, nơi trang trí và cách tạo hoa văn.

Trong mục cách tạo hoa văn trang trí chỉ đề cập đến màu sắc của chỉ thêu và vải thêu mà không đưa ra kỹ thuật thêu đối với từng mẫu hoa văn. Thiết nghĩ rằng vẫn chưa đủ vì kỹ thuật thêu chi phối đến toàn bộ kiểu dáng, nghệ thuật trang trí của người Dao.

Nhận thấy vấn đề nghệ thuật trang trí hoa văn trên trang phục người Dao cần được khai thác tách riêng chuyên sâu hơn và cần dành một bài viết riêng về vấn đề này là cần thiết. Do vậy chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài này. Mục đích của đề tài muốn làm rõ kỹ thuật thêu hoa văn trang trí và đặc biệt chú trọng đến những quy luật phổ biến trong cách tổ chức bố cục, tư duy về tạo hình, nghệ thuật phối màu dưới góc độ mỹ thuật.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là dân tộc Dao Đỏ và địa bàn nghiên cứu là xã Tả Phìn - thị trấn Sa pa. Thời gian nghiên cứu diễn ra trong một tháng  với phương pháp đi điền rã nghiên cứu là chủ đạo kết hợp với sự cảm quan của chuyên nghành mỹ thuật và phương pháp quan sát, tham dự, phỏng vấn.

I. Khái quát bộ trang phục thường ngày

Trong xã hội người Dao Đỏ trên cả nước nói chung và ở xã Tả Phìn nói riêng, nam giới không học thêu và may quần áo. Công việc này chỉ dành cho nữ giới. Do vậy những bộ quần áo được trang trí hoa văn trên trang phục nam giới đều do một tay người phụ nữ làm ra. Trước khi lập gia đình, người mẹ may quần áo cho họ. Sau khi lập gia đình, công việc này dành cho người vợ. Người Dao Đỏ ở Tả Phìn không trồng lanh dệt vải. Họ mua vải ở trên chợ thị trấn Sapa về tự cắt may, tự nhuộm chàm và thêu trang trí.

Trang phục thường ngày của người Dao Đỏ xã Tả Phìn bao gồm trang phục dành cho nam và nữ.

Trang phục của nam giới gồm có khăn quấn đầu (tiếng Dao: Goòng pêu). Khăn được dệt bằng vải lanh nhuộm chàm. Kiểu dáng có dạng băng dải, trung bình dài 1m50 trở lên. Chiều dài không hạn chế. Hai đầu khăn không có tua dua trang trí mà chỉ được thêu hoa văn (Nồng chiêu) màu xanh, đỏ, trắng. Khăn sau khi quấn lên đầu có hình dáng gần giống cách quấn khăn của người Ấn Độ nhưng một đầu khăn được vắt về phía trước mặt và một đầu được vắt về phía sau gáy. Áo mặc (tiếng Dao: Miềng cảng nuy). Dệt bằng sợi lanh nhuộm chàm. Tay áo hình ống đứng nối liền với cổ áo. Hai cổ tay áo trang trí hoa văn (Sồm ziằng). Cổ áo cao 3 cm khoét tròn. Nẹp ngực áo có một chùm khuy chạy dài đến gấu áo  hình quả chuông nhỏ bằng hạt lựu. Nẹp ngực áo được trang trí dải đường diềm màu trắng đỏ. Đằng sau chính tâm của lưng áo có một ô trang trí hình chữ nhật (tiếng Dao: Nuy tản). Gấu áo ngắn đến thắt lưng và hai bên có một đường xẻ nhỏ cao 5 cm. Quần của nam Dao Đỏ màu chàm hoặc đen cắt theo kiểu quần nữ (quần chân què, quần can đũng cạp lá toạ hoặc luồn dây rút[2].

Ngày nay, trang phục của bé trai và bé gái chỉ còn giữ lại được chiếc mũ. Mũ của bé gái (Sịa nhi mụa) và mũ của bé trai (Ton nhi mụa) có hình dáng gần giống nhau, hình quả dưa. Mũ được dệt bằng sợi lanh. Nếu có phân biệt giữa chúng chỉ có thể nhìn qua tua dua trang trí màu đỏ. Tua dua trên mũ của bé trai ngắn hơn của bé gái.

Trang phục của nữ giới cầu kỳ hơn gồm khăn đội đầu dệt bằng vải sợi bông màu đỏ (tiếng Dao: Bi ông hồng). Khăn dài và rộng, hai đầu có tua dua trang trí màu đỏ. Khi đội lên đầu, khăn được xếp như hình một chiếc gối. Áo trong là áo yếm (tiếng Dao: Chảng pẩu). Áo yếm dệt bằng vải lanh, thêu trang trí những đường sọc trắng và đỏ. Kiểu dáng hình băng dải dài từ ức đến bộ phận sinh dục, rộng 10 cm. Phía đầu trên đính một sợi dây màu đỏ quàng quanh cổ. Áo khoác ngoài (tiếng Dao: Miềng sịa nuy). Áo dệt từ sợi lanh màu chàm. Hai ống tay áo liền với cổ, nẹp ngực và nẹp cổ áo liền nhau. Gấu áo rất dài chia làm ba mảnh. Hai mảnh phía trước dài đến nửa ống chân dưới và vạt áo sau ngắn hơn một chút. Hai cổ tay áo trang trí hoa văn (Sồm pệ), hai đầu vạt áo phía trước trang trí hoa văn (Nồng chiêu). Phía sau áo giống của nam giới có ô trang trí hình chữ nhật (Nuy tản). Đặc biệt cả mảng lớn vạt áo phía sau trang trí một tổ hợp hoa văn gồm hoa văn chính là hoa (Trổng tròi) và các hoa văn phụ xung quanh như (Chằn ton, sồm  ziằng, Nhập ziằng). Quần của nữ cũng giống quần của nam được cắt theo kiểu chân què, cạp lá toạ. Dệt bằng sợi lanh màu chàm. Hai bên gấu quần trang trí hoa văn (Tông chổng). Thắt lưng (tiếng Dao: Lẩy sin). Được dệt từ vải lanh nhuộm chàm. Kiểu dáng của thắt lưng dạng băng dải dài. Hai đầu được thêu hoa văn (Nồng chiêu).

II. Khái quát kỹ thuật tạo màu chàm truyền thống

Sống trên cùng một địa bàn cư trú với người H’mông do vậy kỹ thuật nhuộm chàm của người Dao cũng gần giống kỹ thuật nhuộm chàm của người H’mông.

Nguồn nguyên liệu chuẩn bị cho công việc nhuộm chàm gồm: Lá chàm (Dàm), vôi bột (Huy), củ nâu (Chầm dàng), nước tro (Sai dia uâm), thóc nếp (Bèo nhiều), ớt quả đỏ (Phằn chiu). Quá trình nhuộm chàm diễn ra qua các công đoạn như sau:

Ngâm lá chàm trong một thùng gỗ Pơ mu trong một hoặc hai ngày. Khi lá chàm nát ra và phai màu xanh ngọc. Vớt bỏ hết lá chàm. Thêm một lượng vôi bột hoà tan với nước. Liều lượng vôi bột phụ thuộc vào kinh nghiệm của người nhuộm chàm. Dùng chiếc chậu nhỏ múc lên múc xuống nhiều lần đến khi mặt nước chuyển từ mầu xanh ngọc sang màu tím than. Đợi đến khi lớp bọt khí tan rồi vớt cao chàm cho vào bao tải lọc hết nước. Cao chàm giờ đây ở dạng sền sệt. Khuấy đều cao chàm với nước tro củi. Củi dùng để đốt lấy tro cũng phải là gỗ Pơ mu và trong khi đốt, bếp không được lẫn tạp chất. Nếu trong bếp có lẫn những thứ khác ngoài gỗ Pơ mu thì khi hoà nước tro với cao chàm sẽ không được màu chàm ưng ý (màu xanh đen). Và để nước tro bếp hoà quện hơn với cao chàm người Dao còn dùng một lượng rượu hoà lẫn với hỗn hợp trên. Mang vải lanh trắng nhúng vào hỗn hợp vừa pha chế. Vừa nhúng vừa phơi ra nắng đến khi nào được màu chàm ưng ý. Để cho tấm vải lanh không bị phai màu sau khi giặt và dễ nhìn thấy sợi vải hơn trong khi thêu trang trí, người Dao dùng củ nâu băm nhỏ cho vào chảo lớn đun sôi lên. Cho thêm ớt quả màu đỏ và một chút thóc nếp vào để tạo độ bám dính bề mặt. Sau đó nhúng vải lanh vừa được nhuộm chàm vào chảo lớn nhiều lần. Mỗi lần nhúng lại đem phơi khô và cuộn vào một thanh gỗ có tiết diện tròn. Dùng một tấm gỗ phẳng lăn qua lăn lại với mục đích làm cho tấm vải mềm hơn và những sợi lanh xếp đều hơn trên bề mặt vải. Công việc diễn ra nhiều lần như vậy cho đến khi người nhuộm cảm thấy ưng ý. Vải lanh sau khi được luộc với củ nâu, trên bề mặt vải có màu hơi ánh đỏ. Khi ra ngoài trời, dưới sự tác động của ánh nắng, những sợi vải ửng đỏ lên giúp các cô gái dễ nhìn, dễ đếm sợi vải hơn trong khi thêu. Quần áo được nhuộm chàm của người Dao Đỏ mềm hơn và không có độ bóng sáp ong như của người H’mông.

Trong quá trình nhuộm chàm, người Dao Đỏ rất kiêng kỵ người lạ mặt tới xem. Họ không sợ bị người khác biết được công thức nhuộm chàm mà vấn đề có liên quan đến văn hoá tín ngưỡng. Họ cho rằng khi có người lạ đến xem trong lúc nhuộm chàm thì mẻ chàm đó sẽ bị hỏng. Khi nhuộm chàm vào vải, màu chàm sẽ không ăn nhập với vải lanh.

Ngày nay tại xã Tả Phìn, còn rất ít gia đình người Dao tự nhuộm chàm cho quần áo. Đa phần họ mua vải lanh được nhuộm sẵn chàm rồi về thêu trang trí.

III. Khái quát kỹ thuật thêu trang trí hoa văn

Nguyên liệu và dụng cụ chuẩn bị gồm: Kim khâu (Chổng chổng sim), sợi tơ tằm (Chổng chổng phây), vải lanh chuyên dùng để thêu trang trí (Đia chổng).

Người Dao Đỏ xã Tả Phìn dùng kim khâu phổ biến thông thường loại nhỏ để thêu trang trí. Trong tất cả các mẫu trang trí đều sâu chỉ đơn. Và tấm vải lanh thêu hoa văn tuy nhìn bề ngoài rất giống với vải lanh may áo nhưng thực ra là một loại vải lanh cao cấp. Loại vải này được dệt kỹ hơn và có những ô sợi đan rất đều nhau. Phải có kinh nghiệm lâu năm mới phân biệt được hai loại vải này. Đặc biệt hơn cả là người Dao Đỏ có thói quen thêu hoa văn bằng chỉ tơ tằm. Nó là nguyên liệu chính trong tất cả các tổ hợp trang trí. Thêu bằng sợi tơ tằm có ưu điểm nhỏ sợi, óng ả và mịn màng trên bề mặt, vô cùng thích hợp với thị hiếu thích những mẫu hoa văn nhỏ và tế vi của người Dao Đỏ. Người Dao Đỏ không tự trồng dâu nuôi tằm mà họ mua chúng trên chợ thị trấn Sapa. Sợi tơ mua về ở dạng thô, màu ngà ngà vàng. Phải qua quá trình sơ chế và nhuộm phẩm màu mới dùng làm chỉ thêu được. Đem tơ tằm mua ở chợ về luộc với nước tro rơm nếp. Tro rơm nếp được bọc vào một cái khăn. Chiếc khăn có tác dụng lọc tro lấy nước. Sau khi sôi màu nước trở thành đen. Sợi tơ tằm chuyển từ màu ngà ngà vàng sang màu đen. Tiếp theo mang sợi tơ ra suối rũ. Sợi tơ sẽ trắng tinh không còn màu ngà ngà vàng nữa. Đó là kỹ thuật tẩy trắng tơ của người Dao Đỏ. Trong khi mang sợi tơ ra suối tẩy trắng, người Dao thường không nói cho người thứ hai biết và lặng lẽ đi một mình. Họ cho rằng nếu để người thứ hai biết được thì mẻ tơ đó sẽ không được trắng, sẽ không bắt màu. Sợi tơ sau khi nhuộm trắng dùng phẩm màu mua hoà với nước và nhuộm các màu theo sở thích.

Kỹ thuật se tơ và cách sâu chỉ đơn của người Dao Đỏ cũng có những nét riêng. Đặc biệt là kỹ thuật se tơ. Se tơ tằm thành chỉ không cần bất kỳ một máy móc nào. Họ có thể se sợi ở bất kỳ nơi nào, mọi lúc mọi nơi bằng chính chân, tay, và miệng của mình. Theo kinh nghiệm thông thường thì số lượng tơ phải se từ ít nhất 3 sợi đến nhiều nhất 12 sợi mới đảm bảo được yêu cầu chất lượng. Nếu ít hơn 3 thì sợi chỉ quá mỏng rễ bị đứt. Nếu quá 12 thì sợi chỉ quá to không thích hợp với những mẫu hoa văn mà người Dao quen thêu. Có hai cách se sợi, se tổ hợp sợi đơn và se tổ hợp sợi đôi. Nếu se tổ hợp sợi đơn thì chỉ se được nhiều nhất là 4 sợi đơn. Cách se như sau: Thông thường họ lấy 4 sợi tơ dài 1m chập vào nhau và chia đôi mỗi bên 50 cm. Đoạn chia đôi ở giữa được quấn 2 vòng vào ngón chân trỏ (ngón áp sát ngón cái). Vậy là có hai đoạn dây được nối với nhau qua ngón chân trỏ. Luồn 4 đầu dây của đoạn thứ nhất vào 4 khe ngón tay của bàn tay trái và kéo căng. Luồn 3 ngón tay của bàn tay phải vào 3 khe sợi (3 khe sợi được tạo bởi 4 sợi dây) đưa lên đưa xuống dọc theo chiều dài của sợi tơ (tạm gọi là thao tác duỗi đều sợi) Mục đích làm cho 4 sợi tơ không bị rối vào nhau và cách đều nhau. Sau đó, vẫn giữ nguyên tư thế của bàn tay trái đang kẹp 4 sợi tơ rồi đặt sát, vuông góc lên bề mặt trên của đùi trái. Dùng cả lòng bàn tay phải lăn, miết nhiều lần 2 sợi một theo chiều tiến của mũi bàn tay. Vậy là có hai cặp đôi được miết với nhau. Mỗi lần lăn được một đôi sợi lại thực hiện thao tác duỗi đều sợi. Sau khi miết được hai đôi sợi theo chiều tiến của mũi bàn tay phải, lúc này miết 2 sợi đôi chập vào nhau theo chiều ngược lại. Đối với nửa đoạn dây 50cm còn lại cũng thực hiện tuần tự theo những thao tác như trên. Vậy là đã kết thúc quá trình se 4 sợi đơn thành một sợi.

Kỹ thuật se sợi đôi cũng tương tự như kỹ thuật se sợi đơn nhưng số lượng sợi kẹp ở mỗi khe ngón tay của bàn tay trái là 2 sợi. Công thức phân chia số lượng sợi tơ được se như sau: Họ căn cứ vào 4 khe ngón tay của bàn tay trái. Thông thường họ se khoảng 8 sợi là phổ biến. Tức là 4 khe ngón mỗi khe kẹp hai sợi. Đây là số lượng và kỹ thuật phổ biến hiện nay.

Sau khi se sợi thì đến kỹ thuật sâu kim. Khác với người Kinh thường sâu chỉ đôi. Người Dao Đỏ lại sâu chỉ đơn. Có một điều chú ý là sau khi se sợi phải nhớ se đoạn nào trước thì lấy đoạn đó làm đầu để luồn vào lỗ kim. Nếu đảo lộn thứ tự trên sẽ không sâu được kim và sợi tơ sẽ bị rối. Cách sâu chỉ đơn như sau: Dùng tay trái cầm lấy đầu chỉ và tay phải dùng mũi kim tước bông đầu sợi chỉ. Đưa đầu sợi chỉ vào miệng nhấm cho ẩm, xoắn chúng lại thành một đầu nhọn và sâu vào lỗ kim. Sau khi đầu chỉ luồn qua lỗ kim được 3 cm, dùng ngón tay trải đều đầu chỉ vừa được sâu lên bề mặt của ngón tay trỏ của bàn tay trái. Dùng tay phải điều khiển mũi kim đâm xuyên vuông góc qua sườn của các sợi chỉ và thắt nút tại lỗ kim.

Kỹ thuật thêu trang trí của người Dao Đỏ về cơ bản, họ tạo hình trên cơ sở đếm những ô vải lanh. Có hai hình thức thêu đó là thêu ở mặt trái của vải nhưng kết quả cuối cùng lại ở mặt phải. Hình thức này áp dụng cho việc thêu những hoạ tiết hoa văn. Hình thức thứ hai là thêu trực tiếp lên mặt phải. Hình thức này dùng để thêu những đường diềm phân cách các dải ô trang trí. Ở mỗi hình hình thức có các kỹ thuật thêu khác nhau.

Ở hình thức thứ nhất, thêu trên mặt trái của vải và kết quả cuối cùng ở mặt phải, theo thống kê sơ bộ có 3 kỹ thuật thêu: Kỹ thuật thêu ô vuông, kỹ thuật thêu theo dạng đan long đôi và kỹ thuật thêu chữ “X”. Kỹ thuật thêu ô vuông có điểm đặc trưng là hình thể được tạo bởi rất nhiều các ô vuông nhỏ đứng sát nhau. Người Dao đỏ thường thể hiện chúng trên hoa văn (Sồm ziằng, sồm pệ và nhập ziằng). (Xem hình 1).

vhdg1-1624754353.jpg

Hoa văn Dao đỏ 1

Chú thích:

  • Đường màu trắng biểu trưng đường đi của sợi chỉ.
  • Màu đen là vải lanh nhuộm chàm.
  • Điểm màu đỏ là đầu kim mũi chỉ.

Hình 1- Mô phỏng hoa văn (Sồm ziằng) bằng kỹ thuật thêu ô vuông.

Kỹ thuật thêu theo dạng đan long đôi gồm những đường chỉ đặt hàng dọc liên tiếp sát nhau. Đường phía sau bao giờ cũng lùi lại một ô vải so với đường phía trước. Kỹ thuật này thường áp dụng cho hoa văn (Trổng tròi, tông chổng, chằn ton, tồng xiền chông miên và chụ tịa hiêu). Xem (hình 2).

vhdg2-1624754354.jpg
Hoa văn Dao đỏ 2
vhdg3-1624754353.jpg
Hoa văn Dao đỏ 3

Chú thích:

  • Đường màu trắng là đường chỉ thêu.
  • Màu đen là vải lanh.
  • Đường kẻ màu ghi là những ô vải.

Hình 2- Mô phỏng hoa văn (Chụ tịa hiêu) bằng kỹ thuật thêu đan long đôi

Kỹ thuật thêu chữ “X” gồm những mũi thêu theo dạng chữ “X” nằm liên tiếp nhau. Kỹ thuật thêu này phổ biến dùng để thêu mẫu hoa văn hình zíc zắc và đặc biệt ứng dụng hầu như toàn bộ trên bề mặt tấm khăn () phủ trên mũ cô dâu.

 

vhdg4-1624754354.jpg
Hoa văn Dao đỏ 4

 

Hình 3- Mô phỏng hoa văn hình zíc zắc bằng kỹ thuật thêu chữ “X”.

 

Ở hình thức thứ 2, kỹ thuật thêu buộc được ứng dụng thêu những đường diềm phân cách các băng dải trang trí. Mỗi một mũi thêu buộc giống với bím tóc đuối sam chạy dài. Đối với kỹ thuật này, người thêu phải thêu trực tiếp trên mặt phải của vải. Thông thường cứ mỗi một băng dải trang trí lại được phân cách một dải đường diềm. Ngoài hai hình thức trên, người Dao Đỏ còn áp dụng thêm kỹ thuật may ghép vải bằng máy khâu. họ dùng những băng dải bằng vải đỏ và trắng khâu ở mặt trái của vải và hiện hình chính ở mặt phải. Những băng dải này được can vào nhằm phân cách các tổ hợp đường diềm trang trí. Xem (hình 4).

Nhìn chung kỹ thuật thêu của người Dao Đỏ khác với người H’mông ở chất liệu chỉ thêu. Người Dao dùng sợi tơ tằm để thêu trong khi người H’mông thêu bằng chỉ sợi bông. Người H’mông thích thêu những hoa văn lớn mang tính khoẻ khoắn thì người Dao Đỏ lại lựa chọn những mẫu hoa văn nhỏ được sắp xếp với nhau với một mật độ dày đặc mang tính chất tinh tế. Một điều khác biệt nữa là người Dao thêu các băng dải hoạ tiết hoa văn trước rồi thêu đường diềm phân tách sau. Vậy quy trình này hoàn toàn đi ngược với quy trình thêu trang trí của người H’mông. Và hơn hết thông qua các mẫu hoa văn thêu cũng phần nào phản ánh được tư duy và cá tính của một dân tộc.

vhdg5-1624754355.jpg
 

 

Chú thích:

Số 1: Đường diềm phân cách thực hiện bằng kỹ thuật thêu buộc.

Số 2: Đường can vải thực hiện bằng máy khâu.

Hình 4- Ảnh minh hoạ kỹ thuật thêu buộc và may can vải

IV. Nghệ thuật tạo hình, bố cục và hoà sắc

1. Bố cục

Trong nghệ thuật thêu trang trí của người Dao Đỏ, có thể nói tính ổn định về bố cục là rất cao. Qua nhiều thế hệ, những mẫu bố cục mà ngày nay các cô gái Dao Đỏ vẫn thêu hầu như không thay đổi. Có lẽ nó là một quy chuẩn được đúc kết qua nhiều thế hệ. Ngày nay, đến xã Tả Phìn chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp rất nhiều mẫu bố cục giống nhau trên trang phục của nam và nữ. Nếu như có sự khác biệt thì chỉ là sự gia tăng về số lượng ô băng dải trang trí và số lượng hoa văn theo sở thích của mỗi người mà thôi. Trên trang phục của nam giới, những khu vực như hai đầu khăn quấn đầu, hai cổ tay áo và đằng sau lưng có chứa bố cục hoa văn trang trí. Đối với nữ giới những khu vực tập chung bố cục hoa văn trang trí là khu đằng sau lưng áo, vạt áo sau, hai cổ tay áo và 2 ống quần. Bố cục hoa văn trang trí của nam giới và nữ giới hoàn toàn giống nhau. Nguyên nhân do quần áo và hoa văn trang trí đều từ một tay người phụ nữ làm cho. Nhưng mỗi vùng bố cục trang trí trên trang phục đều hoàn toàn khác nhau.

Bố cục trên cổ tay áo được tổ chức theo dạng băng tầng. Trên đó được xếp rất nhiều tầng trồng lên nhau từ trên xuống dưới. Mỗi một băng tầng lại được phân cách bởi hai dải đường diềm thêu sát nhau bằng kỹ thuật thêu buộc. Và mỗi một tổ hợp băng tầng như vậy lại được cách nhau bởi một dải đường diềm bằng vải đỏ trắng được khâu bởi máy khâu. Thông thường mỗi một cổ tay áo chứa khoảng hai tổ hợp băng tầng trang trí. Mỗi một tổ hợp băng tầng thường chứ từ bốn đến năm băng tầng nhỏ trồng lên nhau. Số lượng tổ hợp băng tầng còn tuỳ thuộc vào sở thích và kích thước chiều dài cánh tay của người mặc. Xem (Hình 5).

Có thể nói rằng nếu bỏ qua mẫu bố cục trang trí đằng sau lưng áo thì quả là một thiếu xót. Trên bất kỳ một bộ trang phục nào của nam và nữ, từ trẻ con đến người cao tuổi đều có một ô hình chữ nhật nằm dọc đằng sau lưng (tiếng Dao: Nuy tản). Kích thước của ô trang trí tùy thuộc vào kích thước của người mặc chúng. Ô trang trí nằm ở giữa lưng áo có kết cấu bố cục gồm hai hình chữ nhật nội tiếp nằm dọc trong một hình chữ nhật lớn. Bên trong hình chữ nhật nội tiếp cuối cùng, lại chia ra hai hình chữ nhật nội tiếp nằm ngang đối xứng nhau trên dưới và tạo thành một hình vuông ở chính tâm.

vhdg6-1624754354.jpg
Bố cục hoa văn Dao đỏ 1

Chú thích:

Số 1: Ô băng tầng chứa hoạ tiết hoa văn (Sồm ziằng).

Số 2: Băng dải thêu buộc phân cách mỗi băng tầng trang trí.

Số 3: Băng dải may bằng vải đỏ, trắng (Đi hỏn) phân cách các tổ hợp băng tầng trang trí.

Hình 5- Minh hoạ bố cục cơ bản trên cổ tay áo

Tất cả các hình chữ nhật nội tiếp đều có cùng chung một tâm điểm ở chính giữa với hình chữ nhật lớn bên ngoài. Xem (Hình 6). Xung quanh ô trang trí này còn chứa đựng trong nó những câu truyện cổ, ý nghĩa biểu trưng về văn hoá, gắn liền với tín ngưỡng và nguồn gốc của người Dao. Trong cuốn sách Trang phục cổ truyền của người Dao ở Việt Nam của PGS. TS. Nguyễn Khắc Tụng và TS. Nguyễn Anh Cường đã trích dẫn một sự tích, một truyền thuyết có liên quan đến thuỷ tổ của người Dao biểu trưng qua ô bố cục trang trí này. Sách nói rằng thuỷ tổ người Dao chính là Bàn Hồ[3]. Bàn Hồ là một con Long khuyển từ trên trời xuống giúp Bình Hoàng giết Cao Vương đánh thắng giặc. Về sau được Bình Hoàng gả công chúa và phong vương. Từ đó người ta gọi là Bàn Vương. Do vậy cũng chính từ đó người Dao coi chiếc ô trang trí đằng sau lưng áo là dấu ấn của Bàn Vương, dấu ấn tượng trưng cho thuỷ tổ của người Dao. Phàm hễ đã là người Dao, dù trẻ là trẻ con hay người già, dấu ấn Bàn Vương luôn luôn không thể thiếu được trên mỗi bộ trang phục.

vhdg7-1624754354.jpg
Bố cục hoa văn Dao đỏ 2

Chú thích:

Số 1: Ô vuông nằm ở chính tâm chứa hoa văn trang trí lớn.

Số 2: Khu vực chứa hoa văn (Sồm ziằng).

Số 3: Hai ô hình chữ nhật trang trí nội tiếp.

Hình 6- Minh hoạ bố cục cơ bản ở sau lưng áo

Nhưng qua cuộc khảo sát điền dã mới đây tại xã Tả Phìn, bài viết đã thu thập thêm được một câu chuyện khác có liên quan đến chiếc ô trang trí sau lưng áo này. Một số người cho rằng: Chiếc ô vuông này tượng trưng cho hình ảnh của cây đèn mà cây đèn lại tượng trưng cho sự thông minh, trí tuệ và sự may mắn trong cuộc sống. Người Dao Đỏ ở Tả Phìn quan niệm rằng trong mỗi chu kỳ của đời người đều diễn ra 3 giai đoạn. Đó là giai đoạn lập gia đình, giai đoạn cúng đèn và giai đoạn kết thúc một đời người (sự chết). Phong tục cúng đèn là phong tục không thể thiếu được trong cuộc đời của mỗi người Dao Đỏ và đặc biệt đối với đàn ông. Lễ cúng đèn diễn ra sau khi người con trai lập gia đình. Lễ cúng đèn không bắt buộc phải diễn ra ngay sau khi lấy vợ mà có thể đợi đến khi nào người con trai có đủ kinh tế mới tiến hành được. Đối với con gái khi lấy chồng phải theo chồng do vậy chỉ cần người chồng đứng ra làm chủ sự cho lễ cúng là đủ. Để chuẩn bị cho lễ cúng đèn rất phức tạp và tốn kém, gồm: 3 con lợn đực (6- 7 kg), 150 lít rượu, 4 con gà trống (2 kg), tiền công cho thầy cúng (7 đồng bạc trắng), và dựng một cây đèn cao 1m50 bằng ống tre. Hai bên ống tre từ trên xuống dưới xuyên mỗi bên 3 lỗ tròn. Dùng 3 đoạn trúc nhỏ tiết diện tròn gắn xuyên ngang qua 3 lỗ. Kích thước của ba đoạn trúc dài dần theo chiều từ trên xuống dưới. Gắn 6 cây nến chia đều mỗi bên cột 3 cây. Đây là hình dạng cơ bản của cây đèn cúng. Thời gian thực hiện lễ cúng liên tục trong ba ngày ba đêm. Do vậy người chủ sự phải mời ba thầy giỏi có pháp hiệu từ 7 đến 12 đèn. Ba thầy thay nhau cúng liên tục không nghỉ. Trong lễ cúng đèn có hai điểm chú ý sau: Người chủ sự phải thức cùng ba thầy cúng và trong ba ngày đó không được ăn mỡ mà chỉ được ăn đậu và thịt nạc. Bên cạnh đó nếu trong thời gian cúng đèn, một trong hai bên đèn bị tắt thì sẽ không may mắn và lễ cúng không được thành công.

Người Dao quan niệm ba cây đèn bên trái là tượng trưng cho người chồng và ba cây bên phải là tượng trưng cho người vợ. Nếu một trong hai bên bị tắt thì cuộc sống sẽ không may mắn. Nếu tắt hai cây thì hay ốm đau bệnh tật và nếu tắt cả ba cây thì sẽ mắc bệnh hiểm nghèo khó lòng cứu chữa.

Lễ cúng đèn của người Dao Đỏ ở xã Tả Phìn chỉ là một nghi thức sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng lưu truyền trong dân gian qua nhiều thế hệ nhưng nó phản ánh khát vọng mưu cầu sự bình yên tốt lành đến với con người trong cuộc sống. Cũng chính vì vậy chiếc ô trang trí đó xuất hiện trên trang phục cũng mang một ý nghĩa biểu trưng cho sự may mắn.

Chú thích:

Số 1: Ô hình chữ nhật chứa hoa văn (Trổng tròi).

Số 2: Khu vực chứa hoa văn (Chằn ton).

Số 3: Ô chứa hoa văn (Nhập ziằng).

Số 4: Ô    Số 4: Ô chứa hoa văn (Sồm ziằng).

Số 5: Nẹp vải (Đi hỏn).

Trên bộ trang phục của người Dao Đỏ ở Tả Phìn, nơi tập chung mật độ hoa văn nhiều nhất, diện tích trang trí lớn nhất chính là khu vực vạt áo phía sau. Người Dao gọi chúng là (Nuy kịa). Cách tổ chức bố cục trên vạt áo phía sau gần giống với ô hoa (Nuy tản) nhưng có mật độ băng tầng trang trí nhiều hơn, nhiều hình chữ nhật nội tiếp dọc hơn. Đặc biệt hình chữ nhật nội tiếp dọc ở chính giữa chứa rất nhiều băng tầng trang trí hoa văn (Sồm ziằng) xếp từ trên xuống. Một băng tầng lớn nhất có diện tích lớn nhất nằm chia đôi các tổ hợp băng tầng trang trí chứa hoạ tiết hoa văn chính (Trổng tròi). Căn cứ vào đường chỉ thêu buộc phân tách các băng tầng trang trí mà ta có thể hình dung được một mẫu bố cục cơ bản trên đuôi áo như sau:        

vhdg9b-1624755588.jpg
 

          Hình 7- Minh hoạ bố cục cơ bản trên vạt áo sau.

Ô số 1 chính là điểm nhấn của bố cục và là nơi chứa đựng hoạ tiết chính, hoa văn (Trổng tròi). Số lượng ô số 4 có thể thay đổi nhiều lên và ít đi. Điều này còn tuỳ thuộc vào sở thích và kích thước số đo của mỗi người. Nhưng cho dù số lượng ô số 4 có gia tăng hay giảm đi đến đâu cũng không thể thiếu được ô số 1, 2 và 3. Nhìn chung xét về hình thức bố cục ở vạt áo sau luôn tuân theo một trật tự như ở (hình 7).

        2. Nghệ thuật tạo hình:

Theo thống kê sơ bộ trên trang phục thường ngày của người Dao Đỏ xã Tả Phìn, có 12 mẫu hoa văn luôn được các cô gái sử dụng làm mẫu hoa văn trang trí. Trong số đó có 10 mẫu hoa văn được người Dao đặt tên và 2 mẫu còn lại chưa biết gọi như thế nào. 10 mẫu hoa văn được đặt tên gồm: (Sồm ziằng, chằn ton, nhập ziằng, sồm pệ, nồng chiêu, tồng xiền chồng miên, tông chổng, chụ tịa hiêu, trổng tròi và chằn mìu ngau). Và chúng có kiểu dáng như sau:

vhdg10-1624754354.jpg
 

Hình 8- Bảng liệt kê các mẫu hoa văn cơ bản trên trang phục Dao Đỏ.

Những hoạ tiết hoa văn nêu trên đã được người Dao Đỏ qua nhiều thế hệ kế thừa và sáng tạo cho đến ngày nay. Sự cách điệu mang tính biểu trưng rất cao, được phân vị thành những đường nét kỷ hà đơn giản mà không quá xa rời với tinh thần phản ánh hiện thực thiên nhiên cuộc sống là đặc điểm dễ thất nhất của những mô típ hoa văn này. Ta có thể phân loại những hoa văn trên theo từng nhóm và bằng nhiều cách khác nhau. Nếu phân loại theo kỹ thuật thêu thì ta sẽ có các nhóm đồng dạng sau: (hoa Sồm ziằng, Nhập ziằng, Sồm pệ, Nồng chiêu được thêu bằng kỹ thuật thêu ô vuông). (hoa Chằn ton, Chụ tịa hiêu, Tồng xiền chồng miên, Tông chổng, Trổng tròi, hoa văn trên lưng áo cô dâu và chú rể) được thêu bằng kỹ thuật đan long đôi). (hoa hình Con ngựa, Chằn mìu ngau được thêu bằng kỹ thuật thêu chữ “X”). Nếu phân loại theo hình tượng biểu trưng ta có các nhóm sau: Nhóm hoa văn Nhập ziằng, Sồm pệ và Sồm ziằng và mang hình tượng cây thông. Theo thứ tự thì Nhập ziằng được cách điệu hoá từ cây thông lớn, trưởng thành. Sồm pệ là cây thông có tuổi trung bình, Sồm ziằng là cây thông nhỏ và Tông chổng mang trong mình hình dáng và đường nét của một quả thông. Một điều đáng chú ý là mẫu hoa văn Sồm ziằng được người Dao sử dụng nhiều nhất và là lựa chọn không thể thay thế được trên bố cục cổ tay áo, trên các đường diềm trang trí ở ô hình chữ nhật phía sau lưng, phía sau đuôi áo. Hoa văn Nhập ziằng thường xuất hiện trên bố cục của vạt áo sau và trên ống quần. Mẫu hoa Tông trổng chỉ thấy xuất hiện trên ống quần và là hoạ tiết trang trí chủ đạo. Hoa văn Nồng chiêu giống hình một bông hoa bốn cánh, thường được dùng để trang trí trên hai đầu dây thắt lưng của nữ giới, hai đầu vạt áo phía trước, trên dải nẹp cổ liền nẹp ngực và khăn quấn đầu của nam giới. Chằn ton và Trổng tròi thường xuất hiện trên vạt áo sau trong bộ trang phục thường ngày. Chằn ton  được cách điệu gần gũi với thực tế, nó giống hình một người đang đứng. Nếu theo sự suy luận dân gian thông thường, ta có thể luận ra một hình người đội khăn đang đứng dạng chân chống hai tay vào hông. Xét ở thực tế thì giống một người phụ nữ Dao Đỏ với chiếc khăn đội đầu là căn cứ chủ yếu. Nhưng PGS. TS. Trần Hữu Sơn cho rằng: “Hình tượng hoa văn Chằn ton là hình tượng biểu trưng trong một nghi lễ tôn giáo. Nó biểu trưng cho một vị nữ thầy cúng hai tay đang cầm hai cây đèn. Tuy xã hội của người Dao Đỏ là xã hội phụ hệ nhưng chức vị thầy cúng luôn là nữ”. Hoa văn Chụ tịa hiêu Tồng xiền chồng miên thường xuất hiện trên ống quần và Tồng xiền chồng miên giống hình chữ Vạn trong Phật giáo. Nhưng đến hoa văn Tồng xiền chồng miên, nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Tụng lại cho đó là hình dấu chân chó, có liên quan mật thiết đến sự tích Bàn Vương- Thủy tổ người Dao. Dẫu sao cho dù những hoa văn nêu trên biểu trưng cho một hình tượng văn hoá tín ngưỡng nào đó hoặc chỉ đơn thuần là một mẫu trang trí mà người Dao sáng tạo ra với mục đích làm đẹp thì sự hiện hữu của nó đã có từ lâu. Đến ngày nay, chính người thêu những mẫu đó cũng không biết được nó có từ bao giờ và do ai sáng tạo ra. Nhưng nếu suy luận theo một lẽ thông thường thì người Dao Đỏ ở Tả Phìn đã mô phỏng lại những hình ảnh gần gũi nhất trong cuộc sống thiên nhiên nơi họ sinh sống bằng nghệ thuật cách điệu tượng trưng phân vị thành hình kỷ hà. Cụ thể qua hình tượng cây thông và quả thông (Nhập ziằng, Sồm ziằng, Sồm pệ và Tông chổng).

  1. Nghệ thuật phối màu

Bảng màu của người Dao Đỏ ở Tả Phìn không phong phú như người H’mông Đu. Người H’mông Đu dùng màu đen, trắng, đỏ, chàm, xanh lục và vàng. Họ ưa thích dùng hoà sắc tương phản rực rỡ với những cặp màu bổ túc đặt cạnh nhau. Trái lại người Dao Đỏ lại yêu thích hoà sắc trung hoà êm ái. Người Dao Đỏ dùng 4 màu gồm: Vàng (Ziằng), đen (Kịa), đỏ (Xị), trắng (Pẹ) và xanh lam trầm (?). Trong đó màu vàng là màu chủ đạo và chiếm đại đa số diện tích trang trí. Không hiểu sao người Dao Đỏ ở Tả Phìn lại thích màu vàng đến vậy. Nhìn tổng thể tất cả một màu vàng và những cung bậc sắc độ của nó.

Theo học thuyết Âm dương Ngũ hành phân chia màu trắng thuộc hành Kim, màu xanh thuộc hành Mộc, màu đen thuộc hành thuỷ, màu đỏ thuộc hành Hoả và màu vàng thuộc hành Thổ. Màu vàng là màu sang trọng quý phái và là màu tượng trưng cho quyền lực tước vị của đế vương. Do vậy ngày nay, người Dao Đỏ ở Tả Phìn dùng nhiều màu vàng như vậy để kế thừa và nhắc nhở con cháu về nguồn gốc của tổ tiên mình chăng…

Bên cạnh sự ngập tràn của sắc vàng người Dao còn thể hiện sự tinh tế của mình trong việc sử dụng màu đen. Cụ thể là trong tổ hợp trang trí trên chiếc quần cạp lá toạ của mình. Nếu nhìn từ xa chúng ta nhầm tưởng rằng các hoạ tiết hoa văn Tông chổng màu vàng hoặc thỉnh thoảng lại điểm xuyết thêm hoa màu trắng được xếp theo thứ tự trên dưới so le nhau. Thông thường sẽ có ba tầng hoa văn Tông chổng được phân cách bởi những đường diềm chứa hoa văn Sồm ziằng. Trên mỗi tầng hoa văn, màu sắc của hoa Tông chổng được bố chí theo thứ tự vàng- trắng- vàng… Nhưng khi tiến lại gần ta sẽ thấy những hoa văn này không so le nhau mà được xếp sát nhau và thẳng hàng theo tầng lớp từ trên xuống dưới. Sở dĩ có sự nhầm lẫn như vậy là do hiệu ứng của màu đen. Người Dao Đỏ phối màu cho hoa văn Tông chổng theo một quy tắc như sau: Hoa văn nằm sát kề hoa màu vàng và màu trắng là hoa màu đen. vậy ta sẽ có một nhịp hoà sắc của cả ba tầng hoa văn là: Tầng thứ nhất gồm (Đen- vàng- đen- trắng- đen- vàng-…), tầng thứ hai gồm (Trắng- đen- vàng- đen- trắng-…), tầng thứ ba gồm ( vàng- đen- trắng- đen- vàng-…). Số tầng cứ tăng dần lên tuỳ thuộc vào sở thích của mỗi người và kích thước của người mặc. Thông thường chỉ nhiều nhất là ba tầng hoa văn. Nhưng màu đen luôn luôn được xếp so le như vậy. Màu đen là sắc độ tối nhất trong bảng màu. Khi chúng nằm trên màu xanh đen của vải chàm thì độ chênh lệch về sắc độ không nhiều. Nếu nhìn từ xa không thể thấy được. Chỉ có thể thấy được khi có một cái nhìn cận cảnh. Tại sao lại vậy? Qua quá trình phỏng vấn một số người thêu, bài viết chỉ thu hoạch được một thông tin thống nhất là: “Tổ tiên đã làm vậy và làm vậy nó mới đẹp. Do vậy bây giờ cũng làm theo như vậy…”. Xét dưới góc độ Mỹ thuật, vai trò của màu đen trên hoa văn Tông chổng giúp tạo không gian tầng tầng lớp lớp cho một tổ hợp trang trí. Hoa văn màu sáng sẽ ở vị trí phía trước và hoa văn màu tối sẽ nằm ở vị trí phía sau. Lớp sau sẽ nhường chỗ cho lớp trước khoe sắc. Và màu đen trong tổ hợp này còn có chức năng mở rộng không gian trang trí. Nó khiến cho người xem rơi vào một mê cung thâm trầm và huyền ảo.

Bàn về màu vàng và đen mà bỏ qua sắc đỏ đặc trưng của người Dao Đỏ thì quả là một thiếu sót lớn. Màu đỏ có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc sống của dân tộc này. Nó có chức năng phân biệt dân tộc Dao với dân tộc khác và phân biệt giữa các ngành Dao với nhau. Lý do dân tộc này chọn màu đỏ cho chiếc khăn đội đầu vẫn chưa có lời giải thích nhưng ta có thể cảm nhận được rằng màu đỏ là màu của tín hiệu, màu của sự năng động sôi nổi, màu của may mắn và hạnh phúc. Người Trung Hoa xưa dùng màu đỏ để trang trí lễ cưới và phòng tân hôn với hàm ý sâu xa thể hiện sự hạnh phúc, vui vẻ và sôi nổi. Qua khảo sát ở xã Tả Phìn thấy rằng người Dao Đỏ nơi đây rất năng động, tiếp thu cái mới rất nhanh và rất hiếu khách. Vậy màu đỏ phần nào đó đã phản ánh được yếu tố tính cách này của người Dao.

Nhìn chung nghệ thuật trang trí hoa văn trên trang phục của người Dao Đỏ xã Tả Phìn có những  đặc điểm chính sau: Về cách sắp xếp các hoa văn tuân theo thứ tự băng tầng trang trí. Mỗi một băng tầng chỉ chứa đựng một mẫu hoa văn. Về tạo hình trang trí số lượng có giới hạn, xoay quanh những hoa văn như: (Sồm ziằng, chằn ton, nhập ziằng, sồm pệ, nồng chiêu, tồng xiền chồng miên, tông chổng, chụ tịa hiêu, trổng tròi và chằn mìu ngau). Người Dao Đỏ chỉ kế thừa gìn giữ chúng đến ngày nay và sắp xếp vào những vị trí khác nhau. Có thể nói đây là dạng hoa văn khép kín khác với hoa văn dạng mở như của người H’mông. Về cách phối màu, người Dao Đỏ dùng màu vàng là màu chủ đạo trong các mẫu trang trí bên cạnh chiếc mũ đỏ đặc trưng. Đôi chỗ màu vàng kết hợp với màu trắng, màu đen, màu xanh để tạo sự phong phú trên bố cục hoà sắc.

V. Đôi nét về trang phục cưới của người Dao Đỏ

Thường ngày, con trai mặc áo ngắn nhưng khi làm chú rể thì phải mặc áo dài của nữ giới. Áo dài để duỗi thẳng không đeo thắt lưng. Mặc quần của nữ giới. Nhưng ngày nay, chú rể thường mặc quần Âu. Hai ống chân dưới quấn xà cạp (tiếng Dao: Lặp beng) màu trắng bằng vải lanh chưa nhuộm chàm. Hai đầu xà cạp thêu hoa văn (Trổng tròi).

Trên đường đón dâu từ nhà gái về nhà trai, cô dâu Dao Đỏ đội chiếc khăn đỏ Bi ông hồng. Nhưng khi đến cửa nhà trai cô dâu phải tháo chiếc khăn đó ra và đội chiếc mũ Goong. Chiếc mũ Goong được làm bằng gỗ và mây tre đan (xem thêm ở phụ lục ảnh). Cách thức đội mũ Goong phải trải qua nhiều công đoạn và cần sự trợ giúp của người khác. Đầu tiên cô dâu phải quấn chiếc khăn đỏ Câu hồng. Khăn dệt bằng vải bông màu đỏ, viền trắng, bề mặt không được thêu hoa văn trang trí. Kiểu dáng của khăn hình vuông. Gấp khăn theo đường chéo của hình vuông tạo thành một hình tam giác cân. Quay cạnh đáy của tam giác cân về phía trước trán và đội lên gần sát chân tóc. Hai đầu khăn vắt chéo qua đầu một vòng và quay lại thắt nút tại phía trước trán. Sau đó đội chiếc mũ Goong lên đầu. Quay phần đầu nhọn của mũ về phía trước mặt. Phủ một tấm khăn đỏ hình chữ nhật có tên Hồng gió  sang hai bên mũ, có chiều rộng bằng chiều rộng chiếc mũ Goong và chiều dài gần gấp đôi chiều cao cô dâu nằm Theo quan sát thực tế thì độ dài hai bên khăn sẽ dài tới nửa ống chân dưới. Trên khăn Hồng gió không trang trí hoa văn mà đơn thuần chỉ là một tấm vải đỏ che phủ kín khuôn mặt. Tiếp theo phủ xếp 7 chiếc khăn Bi ông hồng chồng lên nhau theo hình sao tám cánh và đặt chúng vào chính giữa của chiếc mũ Goong. Khăn Biông hồng có kiểu dáng hình chữ nhật hoàn toàn màu đỏ không có hoa văn trang trí. Hai đầu khăn có nhiều sợi tua dua trang trí màu đỏ. Cuối cùng phủ chiếc khăn có tên . Khăn là điểm nhấn trên chiếc mũ Goong. Kiểu dáng khăn hình chữ nhật, hai đầu góc khăn được gắn dây hạt cườm đen trắng xen lẫn nhau. Hai đầu dây hạt cườm gắn tua dua trang trí. Mọi hoa văn hoạ tiết trên bề mặt khăn được thêu bằng kỹ thuật thêu chữ “X”. Ở chính giữa khăn trang trí một ô hình vuông chứa hoạ tiết trang trí. Nội tiếp ô vuông này lại là một ô vuông nhỏ nữa chứa hoa văn chính và lớn nhất có tên Chằn mìu ngau. Hoa văn có tâm là hình chữ thập và bốn góc chữ thập là bốn hình dây leo xoắn hình ốc vặn màu trắng. Xung quanh bề mặt tấm khăn là những dải đường diềm hình zíc zắc và trong nó chứa đựng hoa văn trang trí hình con ngựa màu trắng. Nhìn tổng thể ta sẽ thấy chiếc khăn là sự tổng hoà của màu chàm xen lẫn điểm xuyết màu trắng và nâu đỏ. Chiếc mũ Goong không những mang gia trị về thẩm mỹ mà nó còn là nét văn hoá riêng của người Dao Đỏ ở Tả Phìn. Người Dao quan niệm rằng, khi chuẩn bị bước chân vào cửa nhà chú rể cô dâu phải đội mũ Goong. Việc đội nó mang hai ý nghĩa cơ bản sau. Theo phong tục truyền thống trước khi vào động phòng chú rể không được thấy mặt cô dâu. Và như trên đã trình bày, trước khi thành thân chú rể không bao giờ biết được mặt cô dâu ra sao. Ngày nay, thanh niên nam nữ người Dao đã không phụ thuộc quá nhiều vào sự sắp đặt của bố mẹ nữa. Họ thường tìm hiểu nhau trước khi thành hôn. Nhưng để gìn giữ phong tục của tổ tiên, cô dâu vẫn phải đội chiếc mũ Goong. Bên cạnh đó người Dao còn quan niệm rằng, trước khi cô dâu vào nhà chú rể, tức là vào một gia đình mới của mình phải tước bỏ những điều không may mắn, rủi ro từ bên ngoài và đội chiếc mũ Goong mới vào. Do vậy chiếc mũ còn tượng trưng cho sự may mắn hạnh phúc. Ngoài chiếc mũ Goong cô dâu còn quấn thắt lưng màu trắng, xà cạp màu trắng. Thắt lưng của cô dâu (tiếng Dao: Lẩy sin) rất khác biệt với chiếc thắt lưng thường ngày. Lẩy sin dệt bằng vải lanh không nhuộm chàm nên có màu trắng, kiểu dáng thình chữ “T”. Chiều dài đầu chữ “T” là 1m20, phần thân chữ “T” tách làm hai dây mỗi dây dài 60 cm. Ở phần đầu chữ và thân chữ có gắn tua dua trang trí màu trắng. Khắp thắt lưng trang trí đường diềm nằm ngang vuông góc với thắt lưng hình răng cưa màu đen. Khi thắt phải quay phần thân chữ “T” của thắt lưng về phía sau và nó là phần đuôi của thắt lưng. Màu trắng trong quan niệm của người Dao là màu của sự tinh khiết và trong trắng. Sau khi làm lễ bái đường, cô dâu và chú rể thay bộ trang phục như thường ngày. Nhưng có một điều đáng chú ý là trên chiếc khăn đỏ đội đầu Bi ông hồng của cô dâu phải thả tua dua màu đỏ xuống vai áo và phải thả xuôi chúng trong 3 ngày tiếp sau. Tại sao vậy? Trong tiệc cưới của người Dao Đỏ, khách đến dự lễ cưới trong đó con gái ai lấy đều đội khăn đỏ Bi ông hồng nhưng đều vén tua dua vào trong khăn cho gọn gàng. Do vậy để phân biệt giữa cô dâu và khách tới dự tiệc cưới cô dâu phải thả tua dua xuống vai áo. Đây là một quy định bắt buộc và là một trong những nghi thức không thể thiếu được đối với cô dâu trong lễ cưới.

VI. Nhận xét tổng kết

Theo dòng chảy của thời đại, tới nay trong hình thức phục trang của người Dao Đỏ ở Tả Phìn đã có nhiều sự thay đổi. Cụ thể là: Đối với trang phục của trẻ em không còn đầy đủ nữa. Hiện nay phổ biến chỉ giữ lại được chiếc mũ của bé trai và bé gái. Nguyên nhân có thể do sự giao thoa văn hoá với người Kinh và khách nước ngoài mang lại. Hoặc nguyên nhân chủ yếu là do điều kiện kinh tế. Như đã biết để may và thêu được một bộ trang phục truyền thống mất nhiều thời gian và tốn kém về kinh phí. Hơn nữa người điều kiện kinh tế của người dân tộc thiểu số hiện nay vẫn rất khó khăn. Ăn chưa đủ no thì nghĩ gì đến mặc. Theo quan sát thấy rằng trong tương lai chiếc mũ của trẻ em cũng có thể được thay bằng chiếc mũ khác. Nguyên nhân là kiểu dáng chiếc mũ hình quả dưa khi đội ôm sát vào đầu. Dẫn đến hiện trạng hay bị nóng và nấm đầu. Khi đội thành mũ chụp sát vào hài mang tai khiến tai của trẻ nhỏ bị cụp xuống. Do phần sụn tai trẻ nhỏ vẫn còn mềm, lâu ngày khi bỏ mũ ra tai trẻ em bị biến dạng. Theo khảo sát tại địa bàn xã Tả Phìn, đai đa số trẻ nhỏ có đội mũ, tai đều bị biến dạng lạ thường. Một minh chứng rõ ràng hơn là đối với chiếc khăn đội đầu của nam và nữ trưởng thành. Ngày nay nam thanh niên người Dao không quấn khăn trong sinh hoạt hàng ngày nữa vì hai lý do nóng và cồng kềnh. Chiếc quần truyền thống cạp lá toạ kiểu chân què của nam giới thì hầu như không còn nữa. Thay vào đó là chiếc quần Jean hoặc quần âu. Áo ngắn truyền thống thường ngày cũng còn rất ít người mặc. Đối với nữ cũng vậy. Các cô gái trẻ hiện nay đã tự sáng tạo cho mình một chiếc khăn mới nhẹ nhàng hơn có tên là Câu hồng. Hình thức và cách đội chúng đã được trình bày kỹ ở phần Đôi nét về phong tục cưới của người Dao Đỏ. Nếu còn có người đội khăn truyền thống Bi ông hồng thì chỉ còn lẻ tẻ ở lớp người cao tuổi. Chiếc yếm dài Chảng pẩu được thay bằng áo lót trong của phương tây. Hoặc nếu còn giữ được chiếc yếm thì chỉ còn một đoạn khoảng 20cm ở phía dưới và khâu gắn vào cạp quần. Hai vạt áo dài phía trước của phụ nữ không thả buông xuống nữa mà được vén lên và thắt vòng về phía sau lưng cùng với thắt lưng. Dẫu sao sự thay đổi đó cũng chỉ để thích ứng với môi trường và điều kiện làm việc thường ngày mà thôi. Trong những ngày lễ của dân tộc Dao Đỏ, họ vẫn phục trang theo truyền thống như để gìn giữ và nhắc nhở con cháu về cội nguồn của dân tộc mình.

Trong những mẫu thêu hiện nay cũng có sự thay đổi về chất liệu. Đa phần chất liệu chỉ sợi bông được thay bằng chất liệu chỉ tơ tằm. Nguyên nhân do giá nguyên liệu tăng cao. Hiện nay giá 1 lạng chỉ tơ tằm là 40 nghìn và 1 lạng phẩm màu là 20 nghìn. Trong khi bữa ăn hàng ngày của người Dao chỉ khoảng 20 nghìn cho cả ngày. Để làm được một bộ quần áo đẹp và đầy đủ phải mất thời gian 1 năm và 1 triệu tiền chi phi cho nguyên liệu. Đây cũng là một khó khăn trong việc bảo tồn chất liệu thêu truyền thống.

Tuy điều kiện kinh tế của người Dao Đỏ ở Tả Phìn còn khó khăn do địa bàn cư có đặc thù rừng núi bạt ngàn, khó khăn trong việc thông thương trao đổi kinh tế. Đất canh tác rất ít, đồng bào phải làm ruộng bậc thang, kinh tế dựa vào sự phát triển của ngành du lịch và việc bán đồ thổ cẩm cho khách du lịch là chủ yếu. Nhận thấy rằng nên phát huy thế mạnh của người Dao nơi đây, đó là việc phát triển nghệ thêu thổ cẩm. Tác dụng của sự phát triển nghề thêu thổ cẩm giúp cải thiện đời sống sinh hoạt của người dân và gìn giữ được kỹ thuật thêu truyền thống ngay tại trong dân hay còn gọi là biện pháp bảo tồn sống.


[1] Sách “Trang phục cổ truyền của người Dao ở Việt Nam”, (tr. 132) của PGS. TS. Nguyễn Tụng và TS. Nguyễn Anh Cường, NXB KHXH.

[2] Viện KHXHVN, tác giả: PGS.TS. Nguyễn Khắc Tụng và TS. Nguyễn Anh Cường. Sách “Trang phục cổ truyền của người Dao ở Việt Nam” NXB KHXH. Mục 3.1.3- tr.45.

[3] Viện KHXHVN, tác giả: PGS.TS. Nguyễn Khắc Tụng và TS. Nguyễn Anh Cường. Sách “Trang phục cổ truyền của người Dao ở Việt Nam” NXB KHXH. Đoạn 3- tr.16.

Bạn đang đọc bài viết "Văn hóa dân gian ứng dụng- Kỳ 22 (hết)" tại chuyên mục Nghiên cứu. | Hotline: 08.4646.0404 | Email: toasoan@vanhoavaphattrien.vn