Việt Nam diễn nghĩa - Tập VI (Tiểu thuyết lịch sử) (Kỳ 12)

05/06/2022 06:00

Trân trọng giới thiệu tiếp tiểu thuyết lịch sử “Việt Nam diễn nghĩa” - Tập VI  “PHONG KIẾN VIỆT NAM CHỐNG PHÁP” của PGS TS Cao Văn Liên.     

ch150px-ptgian-1654353594.jpg
Phan Thanh Giản, người đã tuẫn tiết sau khi thành Vĩnh Long thất thủ lần hai. Nguồn: vi.wikipedia.org

 

Kỳ 12

Hai ngày sau, thám mã lại về báo:

-Dạ, bẩm Tổng đốc, hai đồn Vĩnh Tùng và Thanh Mỹ đã mất, toàn bộ các Lãnh binh và binh sĩ ở hai đồn đã hy sinh.

Trương Văn Uyển ra lệnh:

-Phát lệnh cho tướng sĩ trong thành chuẩn bị chiến đấu.

-Dạ, tuân lệnh.

Ngày 20-3-1862, Trương Văn Uyển nghe đại bác nổ ầm bên ngoài, thuộc hạ chạy vào báo:

-Dạ, bẩm Tổng đốc, nguy cấp rồi, tàu chiến quân Pháp đã áp sát và đang nã pháo tấn công thành Vĩnh Long.

Trương Văn Uyển cùng các tùy thuộc lên mặt thành đốc chiến. Tổng đốc ra lệnh:

-Bắn vào tàu Pháp.

-Tuân lệnh.

Đại bác trên mặt thành đồng loạt nã đạn xuống tàu Pháp. Quân Đại Nam chống cự kịch liệt trên các kênh rạch và trên mặt thành. Tới sáng 23-3-1862, các ụ đại bác trên thành bị đại bác Pháp tiêu diệt, sức đề kháng của quân Việt yếu dần. Tổng đốc Trương Văn Uyển ra lệnh:

-Đốt tất cả dinh thự, kho tàng, không để lọt vào tay quân giặc.

-Tuân lệnh.

Sau Thành Gia Định, Định Tường, Đại Đồn, Biên Hòa, đến lượt thành Vĩnh Long bốc cháy ngùn ngụt, dinh thự, kho tàng quân lương, doanh trại bị lửa thiêu trụi, lửa khói sáng rực suốt một vùng rộng lớn Tiền Giang và cả Hậu Giang. Nhìn thành trì chìm trong lửa, nhân dân miền Tây kêu lên đau xót:

-Vĩnh Long thất thủ rồi, than ôi!!!

Tổng đốc Trương Văn Uyển cùng tùy thuộc sau đó chạy về Duy Minh. Quân Pháp tràn vào thành vẫn còn thu được 68 đại bác chưa cháy hết.

Được tin Vĩnh Long thất thủ, Tự Đức kinh hoàng vội họp với các đại thần bàn việc đối phó với giặc. Khi đó triều đình chia làm hai luồng ý kiến khác nhau của phái chủ hòa và phái chủ chiến. Nhưng phái chủ hòa chiếm ưu thế. Phan Thanh Giản nói:

-Tâu hoàng thượng, nay chỉ có thể thương thuyết với Pháp để chuộc lại các tỉnh đã mất.

Tôn Thất Thuyết nói:

-Tâu hoàng thượng, dã tâm của Pháp là chiếm bằng được nước ta, thương thuyết chúng khó mà trả lại đất. Vũ khí chúng tuy mạnh nhưng quân số không nhiều, nếu phối hợp chiến đấu giữa quan quân triều đình với những đội quân ứng nghĩa của bách tính thì có thể tiêu diệt được quân pháp.

Lâm Duy Hiệp nói:

-Tâu hoàng thượng, thần nghĩ nên nghị hòa với pháp, nếu không chuộc được các tỉnh đã mất thì cũng ngăn không cho Pháp đánh chiếm các tỉnh khác như An Giang và Hà Tiên.

Vốn chìm đắm mê muội trong học thuyết hủ Nho lạc hậu, phi thực tiễn, không đủ năng lực phân tích tình hình chính trị  thế giới và trong nước, lại thêm ám ảnh nỗi sợ hãi nông dân hơn sợ giặc, Tự Đức nghiêng về phe chủ hòa. Tự Đức nói:

-Thôi thì hãy nghị hòa với Pháp may ra thì chuộc lại một số tỉnh đã mất.

Tôn Thất Thuyết nói:

-Tâu hoàng thượng…

Tự Đức gạt đi:

-Thôi, ý ta đã quyết. Phan Thanh Giản.

Phan Thanh Giản vội quỳ:

-Tâu hoàng thượng, có thần:

-Khanh hãy viết thư cho tướng Pháp đề nghị giảng hòa. Nếu Pháp đồng ý thì khanh và Lâm Duy Hiệp tự lo liệu cuộc đàm phán.

-Thần tuân chỉ.

Trong khi đó, tại Tổng hành dinh quân Pháp ở Sài Gòn, Bonard đang ngồi lo lắng cho chiến cuộc ở miền Nam. Khi Pháp đánh chiếm các thành thì các thành thất thủ dưới tầm đại bác mạnh của Pháp, nhiều quan lại hèn nhát bỏ chạy. Trong khi đó, những đạo quân ứng nghĩa của dân chúng tự đứng dậy đánh pháp ngày càng lan rộng khắp nơi, ngày càng mạnh mẽ, họ dùng chiến thuật du kích tiêu hao, tiêu diệt quân Pháp mà không một đại bác nào có thể tiêu diệt hết được. Hơn nữa, họ lại thông thuộc địa hình sông nước, họ được sự ủng hộ của hàng triệu nhân dân. Vài nghìn quân Pháp chắc chắn sẽ bị tiêu diệt trong biển cả chiến tranh của dân Việt. Những đội quân này đã làm cho Đô đốc Sác lơ Đơ giơ nu di, kẻ đã dày dạn trong cuộc xâm lược Trung Quốc, kẻ đã hạ thành Gia Định mà cuối cùng bất lực, bị triệu hồi về Pháp. Bo na lo nhất là nếu triều đình Huế kêu gọi toàn dân đứng dậy đánh Pháp, quân triều đình kết hợp với những đội quân ứng nghĩa thì công cuộc chinh phục Đại Nam có khả năng thất bại và tương lai của y sẽ giống như của Sác lơ Đơ giơ nu di. Y đang cầm chai săm pa nhơ tu một ngụm thì có lính vào báo:

-Dạ, bẩm Đô đốc, có sứ thần của triều đình Tự Đức là đại thần Phan Thanh Giản tới xin được nghị hòa với chúng ta.

Bô na mừng rỡ:

-Lạy Chúa, thực là Chúa giúp con và giúp quân viễn chinh Pháp trong cuộc chinh phục này. Cho ông ta vào ngay.

-Dạ, thuộc cấp tuân lệnh.

 Phan Thanh Giàn và Lâm Duy Hiệp mặc triều phục Đại Nam bước vào. Năm sĩ quan pháp quân hàm quân hiệu vàng chóe trên quân phục màu xám, khác xa với quân phục võ tướng Đại Nam mà lần đầu tiên Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp trông thấy. Cuộc hòa đàm do Trương Vĩnh Ký (1837-1896), một người Việt ở phủ Hoàng An, tỉnh Vĩnh Long (Chợ Lách, Bến Tre), theo công giáo, được Pháp đưa sang châu Âu đào tạo khi còn niên thiếu, thông thạo hơn 20 ngoại ngữ, người duy nhất của xứ Đông Dương ăn lương của Hội đồng bác học thế giới làm phiên dịch. Bô na qua phiện dịch mời Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp và phái bộ của triều đình Huế ngồi. Trên bàn đã rót săm pa nhơ đầy vào bảy cốc thủy tinh. Rượu màu đỏ sóng sánh bốc mùi thơm nức. Bô na nói:

-Xin mời hai đại thần Phan-Lâm và tùy tùng, xin mời các ngài sĩ quan của quân đội viễn chinh Pháp nâng cốc mừng cuộc hội ngộ của chúng ta với hai ngài chánh phó sứ của triều đình Đại Nam.

-Xin mời…

-Xin mời…

Mọi người đứng dậy cạn ly, đặt cốc xuống bàn và ngồi xuống. Bô na nói:

-Nghe nói hoàng đế Tự Đức cử hai ngài tới gặp chúng tôi là để hòa đàm chấm dứt chiến tranh?

Phan Thanh Giản nói:

-Đúng vậy, vâng theo ý chỉ của hoàng thượng Tự Đức, chúng tôi tới đây xin các ngài trả lại các tỉnh mà các ngài đã chiếm đóng.

 Bô na hỏi:

-Đáp lại điều kiện các ngài đòi hỏi, chúng tôi được gì?

Lâm Duy Hiệp đáp:

-Các ngài sẽ được tự do truyền đạo Thiên Chúa khắp Đại Nam, các giáo sĩ được tự do đi lại, không bị bắt, không bị kết tội như trước đây.

Bô na suy nghĩ: “Hiện nay quân Pháp đang gặp khó khăn, thậm chí nguy ngập bởi các đội quân ứng nghĩa. Sứ thần của triều đình đến đàm phán là vô tình đang cứu quân đội Pháp. Cần phải có một hiệp định để buộc triều đình quay lưng lại với những đội quân ứng nghĩa, vô hình chung đứng về phía Pháp bởi ràng buộc của hiệp định, chính triều đình lại giúp Pháp đánh tan các đội quân ứng nghĩa bằng các chỉ dụ của vua, vì ở Đại Việt, chống lại chỉ dụ của vua là phản nghịch”. Nghĩ như vậy nên La Bo na nói:

-Thôi được, trả lại tất cả các tỉnh cho các ngài thì không được, nhưng chúng tôi sẽ trả lại cho các ngài tỉnh Vĩnh Long. Thứ hai chúng tôi sẽ không đánh chiếm các vùng còn lại như là An Giang, Hà Tiên và các tỉnh Nam Trung Bộ. Bù lại, các ngài thứ nhất, phải để cho chúng tôi quyền bảo hộ ở ba tỉnh miền Đông vì chúng tôi cũng phải có chỗ đứng chân, thứ hai các ngài phải ra lệnh cho các đội quân ứng nghĩa chấm dứt hoạt động. Nếu không đáp ứng những điều kiện đó, chúng tôi sẽ tấn công An Giang, Hà Tiên và Nam Trung Bộ.

Lâm Duy Hiệp và Phan Thanh Giản quá bất ngờ khi được trả lại Vĩnh Long, các tỉnh khác lại không bị Pháp tấn công, sẽ vĩnh viễn không mất. Quá choáng ngợp trước kết quả của đàm phán, Lâm Duy Hiệp hứng khởi nói:

-Quân ứng nghĩa là thần dân của triều đình, họ sẽ tuân theo chỉ dụ của triều đình mà không đánh Pháp nữa.

Phan Thanh Giản nói thêm:

-Chỉ mong các ngài giữ lời hứa, trả lại Vĩnh Long và không đánh chiếm An Giang, Hà Tiên và các tỉnh Nam Trung Bộ.

La Bo na đập bàn nói gay gắt:

-Các ngài xem thường danh dự và chữ ký của chúng tôi chăng?

Phan Thanh Giản vội nói:

-Không dám, không dám.

 Bô na dịu giọng:

-Không sao, không sao, tôi biết các ngài rất tin tưởng và tôn trọng chúng tôi thì mới tới đây đàm phán. Người đâu:

-Dạ.

-Đem giấy mực ra đây.

-Dạ.

Khi có giấy mực, Bô na nói:

-Ngài Lâm Duy Hiệp cùng với ngài đại tá Le bơ  ri thảo ra bản hòa ước, sớm mai tại đây xin các ngài có mặt để chứng kiến sự ký kết của hai bên vào văn bản.

Lâm Duy Hiệp nói:

-Thôi, chúng tôi tin cậy ở các ngài, cứ theo nội dung của nghị sự chiều nay, ngài đại tá Le bơ ri cứ thế mà chấp bút.

 Bô na rót rượu ra đầy các cốc và nói:

-Cảm ơn các ngài đã tin cậy chúng tôi. Nào xin mời các ngài nâng cốc chúc cuộc hòa đàm thành công tốt đẹp.

Sớm hôm sau, ngày 5 tháng 6 năm 1862, tại căn phòng của con tàu Pháp, hai ông chánh sứ Phan Thanh Giản và Phó sứ Lâm Duy Hiêp cùng Đô đốc Bo na đặt bút ký vào văn bản cái gọi là Hòa ước Nhâm Thân (1862). Đó là hiệp ước bất bình đẳng đầu tiên, mở đầu cho quá trình đầu hàng bán nước của nhà Nguyễn. Ký xong, hai ông Giản và Hiệp phấn khởi mà không biết rằng đã trúng vào quỷ kế gian tà của tên thực dân cáo già  Bô na. Hiệp định đã cắt đứt ba tỉnh miền Đông cho Pháp, thừa nhận người phương Tây được tự do truyền bá đạo Thiên chúa giáo. Người Pháp được tự tự do buôn bán ở Nam kỳ, tự do đi lại trên các con sông ở xứ này, kể cả các lưu vực các sông. Đại Nam phải mở các cửa biển Đà Nẵng, Ba Lát, Quảng Yên. Hoàng đế Đại Nam phải bồi thường chiến phí 4 triệu Piaste, 72 % của 4 triệu Piaste được trả bằng bạc. Triều đình Huế bước đầu mất chủ quyền ngoại giao. Triều đình Huế phải cùng Pháp đàn áp quân “nổi loạn” (quân khởi nghĩa chống pháp). Triều đình đã cứu nguy cho Pháp, đã đứng về phía quân Pháp để chống lại phong trào kháng chiến của nhân dân đang làm cho quân Pháp nguy khốn. Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp đã trở thành tội đồ không thể tha thứ được của lịch sử dân tộc.

(Còn nữa)

CVL                                                                    

Bạn đang đọc bài viết "Việt Nam diễn nghĩa - Tập VI (Tiểu thuyết lịch sử) (Kỳ 12)" tại chuyên mục Nghiên cứu. | Hotline: 08.4646.0404 | Email: toasoan@vanhoavaphattrien.vn