Điện Biên Phủ - Bản hùng ca chiến thắng (Tiểu thuyết lịch sử) - (Kỳ 6)

Trân trọng giới thiệu tiếp tiểu thuyết lịch sử  “Điện Biên Phủ - Bản hùng ca chiến thắng” của PGS TS Cao Văn Liên.

dbp3ad-1660995865.jpg
Bộ Chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 bàn kế hoạch tác chiến dưới sự chỉ đạo của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Ảnh: Triệu Đại – TTXVN

 

Kỳ 6.

V

 Tháng 3 năm 1954, nắng rải chan hòa xuống Điện Biên Phủ và Mường Phăng, khu rừng giáp với cánh đồng Mường Thanh nhưng cao hơn. Trong khu rừng rậm rạp nhưng bằng phẳng, nhiều chiến hào, hầm ngầm kiên cố, nhà cửa đã được công binh xây dựng xong. Đây là Tổng hành dinh của Bộ Chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ của Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ Mường Phăng, do địa thế cao hơn nên có thể quan sát rõ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ và các trận đánh vào từng phân khu. Trong một căn nhà lợp lá cọ vách nứa, gian giữa đặt những chiếc bàn gỗ đơn sơ, trên bàn đặt những chiếc ấm và chén uống nước màu nâu. Vách giữa của gian nhà trên cao treo Quốc kỳ đỏ sao vàng và lá cờ có chữ “Quyết chiến quyết thắng”, dưới cờ là chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong căn nhà này, hôm nay có cuộc họp của Bộ Chỉ huy chiến dịch. Ngồi ở ghế có chiếc bàn kê ngang gần vách là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ngồi dưới là hai dãy ghế, giữa có bàn kê dọc vuông góc với bàn chủ tọa là các đồng chí trong Bộ Chỉ huy gồm Hoàng Văn Thái, Lê Liêm, Đặng Kim Giang.  Dự họp còn có Ban Chỉ huy Đại đoàn 308, Tư lệnh trưởng Đại tá Vương Thừa Vũ, Chính ủy Song Hào, Tham mưu trưởng Nguyễn Hải, Ban Chỉ huy Đại đoàn 304, tư lệnh trưởng Đại tá Hoàng Minh Thảo, Chính ủy Lê Chưởng, Tham mưu trưởng Nam Long, Ban Chỉ huy Đại đoàn 312: Tư lệnh trưởng Đại tá Lê Trọng Tấn, Chính ủy Trần Độ, Tham mưu trưởng Hoàng Kiên, Ban Chỉ huy Đại đoàn 316, Tư lệnh trưởng Đại tá Lê Quảng Ba, Chính ủy Chu Huy Mân, Tham mưu trưởng Vũ Lập, Đại đoàn công binh pháo binh 351 gồm Tư lệnh trưởng Đào Văn Trường, Quyền Chính ủy Phạm Ngọc Mậu. Đại tướng nói:

-Sau hai tuần hành quân khó nhọc, 11 Trung đoàn bộ binh thuộc các Đại đoàn  304, 308, 312, 316, Trung đoàn 367, Trung đoàn 151 pháo cao xạ và Trung đoàn 237 công binh pháo binh thuộc Đại đoàn 351 đã tập kết đến Điện Biên Phủ, hoàn thành nhiệm vụ hành quân thần tốc, bí mật, gian nan vất vả lên chiến trường. Chúng ta có 1 Trung đoàn công binh, 1 Trung đoàn pháo binh với 24 khẩu trọng pháo 105 ly, một Trung đoàn pháo với 24 khẩu sơn pháo 75 ly và 16 khẩu cối. Một Trung đoàn pháo cao xạ gồm 24 pháo cao xạ 61K-37 ly. Sau này chúng ta sẽ được tăng cường thêm một Tiểu đoàn với 12 khẩu 61K.

-Để đưa được số pháo hạng nặng này qua 300km đường nhỏ hẹp, dốc là một kỳ tích của chúng ta, bộ đội ta không chỉ kéo pháo lên đèo lên dốc mà còn sáng kiến tháo rời pháo ra từng bộ phận có thể để vận chuyển cho dễ. Có những chiến sĩ anh dũng như Tô Vĩnh Diện đã lấy thân mình chèn pháo để cứu pháo khi pháo lăn xuống vực và đã hy sinh. Pháo vào được trận địa còn là nhờ sức lực của hàng vạn thanh niên xung phong mở đường không quản ngày đêm mưa nắng dưới tầm bom của máy bay địch.

  Đại tướng ngừng lại bê chén nước uống và nói tiếp:

-Đồng chí Đặng Kim Giang, Chủ nhiệm hậu cần báo cáo xem lương thực do hàng vạn dân công vận chuyển hai tháng nay đã đủ chưa?

  Thiếu tướng Đặng Kim Giang đáp:

-Thưa Đại tướng, trừ số tiêu hao dọc đường cho dân công vận chuyển ăn, hiện nay số lương thực, thực phẩm giành cho bộ đội tới được chiến trường là 14.950 tấn gạo, 266 tấn muối, 62 tấn đường, 577 tấn thịt, 565 tấn lương khô. Số lương thực thực phẩm này bảo đảm cho gần 90.000 người ăn để tham gia chiến dịch.                 

  Thiếu tướng Hoàng Văn Thái hỏi:

-Thế còn đạn dược?

-Chúng ta đã đưa được tới mặt trận 1.200 tấn đạn, trong đó có 1 vạn viên đại bác, 1.733 tấn xăng dầu và 177 tấn vật chất khác.

  Thiếu tướng Đặng Kim Giang dừng lại uống chén nước và nói tiếp:

-Có thành tựu kỳ diệu như vậy vì Bác và Chính phủ đã phát động phong trào thi đua yêu nước và huy động nhân dân đi dân công phục vụ chiến dịch bằng mọi phương tiện vận chuyển. Đã huy động 20.991 xe đạp thồ, 7.000 xe cút kít, 1.800 xe trâu, 325 xe ngựa. Một xe đạp năng suất gấp 10 lần gánh bộ bằng quang gánh. Ngoài ra còn huy động hàng chục vạn dân công gồng gánh, gấp 5 lần so với số lượng quân đội chủ lực và được tổ chức biên chế như quân đội. Vận tải ra chiến trường còn có lực lượng cơ giới gồm 16 đại đội ô tô vận tải gồm 446 xe của Tổng Cục Hậu Cần cung cấp đã được sử dụng.

-Thưa Đại tướng và các đồng chí, vận tải lập kỳ công còn do dân công và bộ đội công binh mở đường, đã huy động 14.000 người chuyên mở đường, đường mở rộng 3 tới 4 m như đường số 13 từ Yên Bái lên Tạ Khoa, đường từ Mộc Châu lên Lai Châu. Bộ Giao thông công chính phụ trách sửa đường 13 lên tới Cò Nòi, đường 14 từ Mộc Châu lên Sơn La. Bộ đội phụ trách mở đường từ Sơn La đi Tuần Giáo, đường số 42 từ Tuần Giáo đi Điện Biên Phủ, đã sửa 100 cầu hư hỏng, đã sửa và nâng cấp 308 km đường ô tô, làm mới 63 km đường, mở đường kéo pháo, phá 102 thác để tổ chức vận tải đường thủy. Tổng khối lượng đất đào làm sửa đường lên lên 35.000 m3 đất, 15.000 m3 đá, phá hàng nghìn quả bom nổ chậm do máy may bay Pháp thả xuống. Đường từ hậu phương ra mặt trận luôn bảo đảm thông suốt, dù Pháp có đánh phá cũng chỉ ách tắc 1 đến 2 giờ là được sửa chữa.

  Đại tướng hỏi Thiếu tướng Hoàng Văn Thái:

-Việc vận chuyển pháo hạng nặng vào mặt trận đã hoàn tất chưa đồng chí Tham mưu trưởng?

  Hoàng Văn Thái đáp:

-Thưa đồng chí Đại tướng, bộ đội pháo binh của ta đã có sáng kiến tháo rời các bộ phận của pháo như bệ pháo, tấm chắn, quy lát v.v… rồi dùng sức người để vận chuyển. Khi đến trận địa lại tiến hành lắp ráp lại với nhau nhanh chóng và chính xác. Bằng cách đó bộ đội ta đã đưa được những khẩu pháo 105 ly nặng tới 2, 2 tấn, những khẩu pháo cao xạ 37 ly nặng 2, 1 tấn. Hiện nay tất cả các pháo của ta đã được đưa vào trong các hầm pháo  được công binh đào khoét sâu vào sườn đồi, an toàn và bí mật nhưng lại rất nguy hiểm đối với quân Pháp. Từ trên cao, pháo binh ta khống chế tốt lòng chảo Điện Biên Phủ. Các khẩu pháo của ta được đặt chỉ cách mục tiêu từ 5 đến 7 km, chỉ bằng nửa tầm bắn tối đa và như vậy bảo đảm bắn chính xác để tiết kiệm đạn, lại an toàn trước pháo và bom của máy bay địch, lại thực hiện được phương châm của Đại tướng là “Hỏa khí phân tán, hỏa lực tập trung". Kho đạn pháo của ta ở mặt trận hiện đã lên đến 10.000 viên đạn pháo 105 ly và hàng nghìn viên đạn cối các cỡ khác nhau.

-Đại tướng nói:

-Như vậy mọi điều kiện cho chiến dịch đã chuẩn bị xong. Riêng công tác hậu cần phải duy trì liên tục để bảo đảm cho toàn bộ chiến dịch.

  Thiếu tướng Đặng Kim Giang đáp:

-Tuân lệnh Đại tướng.

-Đồng chí Lê Liêm chuẩn bị công tác tư tưởng chính trị, nâng cao khí thế và quyết tâm chiến thắng cho toàn thể bộ đội để bắt đầu chiến dịch.

  Lê Liêm đáp:

-Tuân lệnh Đại tướng.

-Bây giờ mời các đồng chí nghe và nắm chắc sơ đồ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ và kế hoạch tác chiến.

  Mọi người đứng dậy, lại vây quanh sa bàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đại tướng cây cầm gậy tròn chỉ vào và nói:

-Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được chia thành bốn phân khu, mỗi phân khu có nhiều cứ điểm. Đây là phân khu Bắc. Chỉ huy trưởng là Trung tá Andr Trarcart. Phân khu Bắc gồm hai cứ điểm, cứ điểm Đồi Độc Lập, Pháp gọi là Gabrielle. Phòng thủ Đồi Độc lập có Tiều đoàn 5, Trung đoàn bộ binh thuộc địa Alaerie số 7, Tiểu đoàn trưởng là Thiếu tá Roland De Mecquenem.

  Cứ điểm thứ 2 của Phân khu Bắc là Bản Kéo, Pháp gọi là Annemarie. Phòng thủ ở đây có Tiểu đoàn Thái số 3 do Thiếu tá Leopolơ Thimonniel chỉ huy. Phân khu Bắc có tầm quan trọng, án ngữ phía bắc, ngăn chặn con đường từ Lai Châu về Điện Biên Phủ.

  Cứ điểm Him Lam thuộc phân khu Trung tâm, Pháp gọi là Beatrice. Phòng thủ Him Lam là Tiểu đoàn bán Lữ đoàn Lê Dương số 13, Chỉ huy là Thiếu tá Paul Pegot. Him Lam là trung tâm đề kháng thuộc phân khu Trung tâm nhưng lại cùng các cứ điểm đồi Độc Lập và Bản kéo là những vị trí cùng án ngữ phía đông-bắc, ngăn chặn còn đường từ Tuần Giáo đi Điện Biên Phủ.

  Phân khu thứ hai là phân khu Trung tâm, Chỉ huy trưởng là Trung tá pierre Lamlaistnay. Đây là phân khu mạnh nhất của tập đoàn cứ điểm, tập trung tới 2/3 lực lượng của Pháp ở Điện Biên Phủ, tới 8 Tiểu đoàn gồm 5 Tiểu đoàn chốt giữ và 3 Tiểu đoàn cơ động.

  Phân khu Trung tâm bao gồm cứ điểm Him Lam như tôi đã nói và 5 cao điểm phía đông, đó là A1 (Huguett), chốt giữ là Tiểu đoàn 3, Trung đoàn bộ binh thuộc địa số 2 Algieri do Thiếu tá tiểu đoàn trưởng Chemencon chỉ huy. Thứ 2 là cứ điểm Francoise do binh đoàn biệt kích cơ động Thái số 1, chỉ huy là Trung úy Reginald Wieme. Cứ điểm này còn có quân phụ lực Thái Trắng do một Đại úy chỉ huy.

 Phân khu Trung tâm gồm các dãy đồi phía đông bảo vệ cho cánh đồng Mường Thanh, là cách cửa vào vào Sở chỉ huy của De Castories.

-Phân khu Trung tâm khoảng 30 cứ điểm nằm hai bên bờ sông Nậm Rốm. Ở phía tây có 2 cụm cứ điểm, 2 cụm đó có 20 cứ điểm. Cụm thứ nhất Pháp gọi là Huguette, cụm thứ hai pháp gọi là Laudme. Hai cụm nằm trên cánh đồng bằng phẳng hữu ngạn sông Nậm Rốm. Ở phía đông, có hai cụm cứ điểm gồm 10 cứ điểm nằm bên tả  ngạn sông Nậm Rốm. Pháp gọi cụm cứ điểm thứ nhất là Dominique ở phía bắc và cụm thứ 2 là Elianne ở phía nam. Đó là những cao điểm nên kiểm soát được toàn bộ khu Trung tâm.

  -Trong 10 cứ điểm ở phía đông, đồi A1 giữ một vi trò rất quan trọng, nó khống chế một khu vực rộng lớn bao gồm toàn bộ phân khu Trung tâm, sân bay Mường Thanh, Hồng Cúm và cả Sở chỉ huy của De Castories, cả hai chiếc cầu qua sông Nậm Rốm.

Phân khu Trung tâm có sân bay Mương Thanh, có Sở chỉ huy tập đoàn cứ điểm của De Castơries.

  Phân khu thứ ba là phân khu Hồng Cúm, Pháp gọi là Sabelle gồm có ba đồn. Đồn A nằm ở phía bắc sông Nậm Rốm, đồn B và C nằm ở phía nam sông, có sân bay Hồng Cúm chạy dọc theo đường 41. Chỉ huy trưởng phân khu này là Trung tá Andre Lalande.

  Chỉ huy tập đoàn cứ điểm là Đại tá Christan De Castories, Phó Tư lệnh là Andre Trancart, Jules Gaucher, Pierre Langlais, Andre Lalande. Đóng giữ là Tiểu đoàn 3 Trung đoàn bộ binh hải ngoại số 3. Tiểu đoàn trưởng là thiếu tá Henri Grand Desnon.

  Lực lượng của Pháp hiện có tại Điện Biên Phủ là 16 Tiểu đoàn bộ binh, 7 Đại đội pháo binh, 1 Đại đội xe tăng, 1 phi đội máy bay. Tính tổng quân số hiện nay 10.814 người, 3.000 cu ly vận tải hậu cần, 30.000 công nhân kỹ thuật chuyên vận hành lực lượng không quân tại các sân bay đồng bằng Bắc Bộ như Gia Lâm Hà Nội, Cát Bi, Đồ Sơn Hải Phòng. Khoảng 420 máy bay yểm trợ thả hàng. Đã thả 4.000 tấn tới 5.000 tấn hàng.

(Còn nữa)

CVL

PGS TS Cao Văn Liên

Link nội dung: https://vanhoavaphattrien.vn/dien-bien-phu-ban-hung-ca-chien-thang-tieu-thuyet-lich-su-tap-viii-ky-5-a14766.html