Văn hóa dân gian ứng dụng- Kỳ 8

TS. Trần Hữu Sơn

11/06/2021 08:56

TS. Trần Hữu Sơn - Viện trưởng Viện Văn hóa dân gian ứng dụng, có nhiều năm nghiên cứu về văn hóa dân tộc. Ông đã có mười đầu sách, công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian. Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển giới thiệu tới độc giả công trình nghiên cứu Văn hóa dân gian ứng dụng của ông, dày 324 trang.

tran-huu-son-1622795553.jpg
TS. Trần Hữu Sơn

VĂN HÓA DÂN GIAN ỨNG DỤNG- Kỳ 8

DU LỊCH DI SẢN Ở ĐIỆN BIÊN

                                                         

          Điện Biên Phủ là một trung tâm du lịch quan trọng của vùng Tây Bắc. Nguồn lực và thế mạnh của du lịch Điện Biên là du lịch di sản. Trong bản báo cáo này, chúng tôi tập trung phân tích về loại hình du lịch di sản, quan hệ giữa di sản và du lịch như thế nào? Từ đó có cái nhìn tổng quan về tình hình phát triển du lịch di sản ở Điện Biên, gợi mở về xây dựng sản phẩm, xây dựng cơ chế chính sách nhằm phát triển du lịch di sản Điện Biên.

          1. Một số vấn đề về du lịch di sản (Heritage tourism)

          Du lịch di sản là một loại hình du lịch mới được đặt tên nhưng các nhà khoa học đã ghi nhận du lịch di sản đã xuất hiện hơn 2.000 năm nay.

          1.1. Du lịch di sản bước đầu được nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu, nổi bật là các tác giả của Hoa Kỳ và các nước châu Âu (Di sản và du lịch trong “làng toàn cầu” – Boniface, Priscilla, Poweler, P.I – 1993; Điểm đến văn hóa: Du lịch, bảo tàng và di sản – Kirshenblatt-Gimbelt, Barbara – 1998..). Ở Trung Quốc cũng có nhiều nhà nghiên cứu về du lịch di sản (Chương Kiến Hoa – Khai thác và bảo vệ di sản văn hóa Trung Quốc đương đại, 2006; Trần Canh – Mô hình khai thác và bảo vệ di sản văn hóa Trung Quốc, 2010...). Ở Việt Nam, bước đầu đã có một số nhà khoa học quan tâm nghiên cứu loại hình du lịch này. Ngay từ năm 2004, Nguyễn Sự, Trần Ánh đã nghiên cứu bảo tồn phát huy các di sản phố cổ Hội An phát triển du lịch. Viện Nghiên cứu phát triển du lịch năm 2005 cũng tập trung “Nghiên cứu các di tích và Bảo tàng Hồ Chí Minh trong phát triển du lịch”. Đặc biệt từ năm 2010 đến nay du lịch di sản được nhiều nhà khoa học Việt Nam quan tâm. Năm 2012 và 2013, Tiến sĩ Hà Văn Siêu - Viện trưởng Viện nghiên cứu phát triển du lịch đã nghiên cứu du lịch di sản thành Nhà Hồ và di sản Phật giáo[1]. Vũ Hồng Hải (2010), Phạm Tuấn Long (2013), Nguyễn Văn Bốn (2013), Đào Duy Tuấn (2012)... Các tác giả chủ yếu đề cập đến di sản như một nguồn lực để phát triển du lịch, di sản cũng trở thành “chất liệu” để sản xuất ra sản phẩm du lịch. Tuy nhiên, chưa có tác giả nào đề cập đến du lịch di sản ở Điện Biên (ngoài một số bài viết mang tính chất thông tấn báo chí). Tỉnh Điện Biên ngay từ năm 2006 đã xây dựng và công bố quy hoạch du lịch Điện Biên (giai đoạn 2016 – 2020). Bản quy hoạch có đề cập đến du lịch di sản nhưng chưa đề cập sâu về mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy di sản ở Điện Biên cũng như tạo các sản phẩm du lịch mang tính đặc thù của Điện Biên. Từ góc nhìn trong Ban Chỉ đạo 8 tỉnh Tây Bắc mở rộng, chúng tôi cố gắng phân tích về du lịch di sản cũng như những vấn đề xây dựng sản phẩm du lịch di sản ở Điện Biên hiện nay.

          1.2. Du lịch di sản (Heritage tourism) là một loại hình chủ yếu của du lịch văn hóa (Cultural tourism). Du lịch di sản là những hình thức tổ chức tham quan trải nghiệm, thưởng thức ở các không gian, địa điểm có di sản. Di sản là tổng thể những gì còn lại bao gồm cả những sản phẩm do con người làm ra và cả những giá trị do thiên nhiên ban tặng. Luật Di sản văn hóa (2001) định nghĩa về di sản văn hóa như sau: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác”[2]. Như vậy di sản bao gồm di sản văn hóa (di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể) và di sản thiên nhiên. Di sản thiên nhiên là tài sản kế thừa các đối tượng tự nhiên trong quá khứ, được duy trì trong hiện tại và lưu truyền giá trị, lợi ích cho tương lai.

          1.3. Du lịch và di sản có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Du lịch tác động mạnh mẽ đến di sản. Di sản là nguồn lực để phát triển du lịch. Du lịch có những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến di sản.

          - Ảnh hưởng tích cực của du lịch đến di sản:

          + Du lịch quảng bá sinh động và hiệu quả cho di sản

          + Du lịch có thể khôi phục, phục dựng một số di sản đã nguy cơ mai một

          + Du lịch đã tạo nguồn kinh phí tiếp sức cho vấn đề bảo tồn di sản, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho di sản

          - Ảnh hưởng tiêu cực của du lịch đến di sản:

          + Du lịch tạo ra sự quá tải với di tích (nhất là các mùa vụ, các lễ kỷ niệm)

          + Du khách gây ra những hành vi xâm hại di sản

          + Vì lợi ích của du lịch và nhu cầu du khách, các nhà quản lý đôi khi còn làm biến dạng di sản (nhất là di sản văn hóa phi vật thể)

          + Du lịch tác động làm cho vấn đề bảo tồn di sản phải phục thuộc quá nhiều vào khả năng thu của các di tích, di sản

          + Du lịch khiến cho di sản bị mất bản quyền, mất tài sản văn hóa[3]

          Ảnh hưởng của du lịch với di sản đang diễn ra ở Điện Biên cũng phản ánh trong mối quan hệ này.

          2. Một số vấn đề về du lịch di sản ở Điện Biên

          2.1. Điện Biên Phủ là nơi có nhiều di sản văn hóa độc đáo, phong phú, thậm chí là độc nhất vô nhị. Điện Biên có 18 dân tộc anh em, mỗi dân tộc đều bảo lưu được kho tàng văn hóa phi vật thể khổng lồ. Nhiều di sản phi vật thể có giá trị quốc gia và có khả năng trở thành di sản thế giới như: di sản xòe của người Thái, di sản “văn hóa nước” của người Thái, di sản nghệ thuật của người Mông, người Khơ Mú, người Hà Nhì... Đặc biệt, trong kho tàng thần thoại dân tộc Thái vùng Điện Biên – Mường Then luôn được coi là quê cha đất tổ của người Thái. Hiện nay người Thái ở các quốc gia, nhất là Thái Lan, Lào, Myanmar...đều cho rằng người Thái từ Mường Then di cư. Nhiều địa phương khi người Thái mất đều đưa hồn người chết về với Mường Then – Điện Biên. Di sản phi vật thể về “quê cha đất tổ” là di sản độc đáo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và chỉ có ở Điện Biên. Di sản văn hóa phi vật thể luôn hòa quyện với các di tích tạo thành một không gian, môi trường di sản hấp dẫn. Du khách tham quan các di tích ở Mường Phăng, ở thung lũng Mường Thanh không thể không muốn khám phá di sản văn hóa phi vật thể.

          Điện Biên có hệ thống di tích về chiến thắng “chấn động địa cầu” – Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954. Chiến thắng lẫy lừng này được phản ánh qua hệ thống cụm di tích Mường Phăng và Mường Thanh. Mỗi di tích là một điểm tham quan du lịch hấp dẫn. Các di tích đã trở thành nguồn lực phát triển cho du lịch Điện Biên trong nhiều năm qua. Nhờ phát huy được lợi thế về nguồn lực di sản hấp dẫn, du lịch Điện Biên đã đạt được kết quả khả quan, trở thành một trung tâm du lịch của vùng Tây Bắc. Trong 12 năm qua, Điện Biên đứng thứ 3 trong 8 tỉnh Tây Bắc về thu hút khách du lịch. Lượng khách quốc tế đến Điện Biên có xu hướng tăng mạnh trong nhiều năm. Điều đáng chú ý là lượng khách quốc tế tăng không phải theo chu kỳ về lễ kỷ niệm mà chủ yếu tăng theo sự quảng bá về di sản. Năm 2000 Điện Biên mới đón được 4.151 lượt khách quốc tế, thì năm 2004 đón được 10.000 lượt khách quốc tế, năm 2005 đón 12.000 lượt và đến năm 2012 thì đón 65.000 lượt khách quốc tê. Điện Biên cũng thu hút nhiều khách du lịch trong nước nhưng mức tăng lại theo chu kỳ của các dịp kỷ niệm 10 năm. Năm 2000, Điện Biên đón 73.900 lượt khách, đến dịp kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ thì Điện Biên đã đón 168.000 lượt khách. Nhưng suốt 3 năm tiếp theo lượng du khách nội địa đến Điện Biên lại giảm. Năm 2005, đón 118.000 lượt khách, năm 2006 đón 139.000 lượt, năm 2007 đón 158.000 lượt khách. Tuy nhiên, trong những năm gần đây lượng khách tăng nhanh. Năm 2010, Điện Biên đón 253.000 lượt khách nội địa thì đến năm 2012 đón 295.000 lượt. Tổng thu từ du lịch ở Điện Biên trong giai đoạn từ 2000 – 2012 cũng tăng cao. Năm 2000 Điện Biên mới thu được 4 tỷ 400 triệu đồng từ du lịch thì năm 2004 đã thu 30 tỷ 400 triệu đồng, năm 2009 thu được 80 tỷ đồng. Nhưng từ năm 2010 nguồn thu từ du lịch tăng đột biến, năm 2010 thu 150 tỷ, năm 2011 thu 215 tỷ, năm 2012 thu 300 tỷ. Cơ sở dịch vụ du lịch của Điện Biên trong những năm gần đây cũng phát triển mạnh. Năm 2007 Điện Biên có 37 cơ sở lưu trú và 800 buồng. Đến năm 2011 có 76 cơ sở lưu trú và 896 buồng. Năm 2012 có 88 cơ sở lưu trú và 1.300 buồng. Công suất sử dụng buồng ở Điện Biên cũng vào loại cao so với 14 tỉnh miền núi trung du Bắc Bộ. Năm 2007, công suất sử dụng buồng là 50%, đứng thứ 6 trong số 14 tỉnh. Nhưng năm 2008 đã tăng lên 60% và năm 2011, 2012 tăng lên 65%, đứng thứ 3 so với 14 tỉnh miền núi trung du Bắc Bộ. Số cơ sở lưu trú của Điện Biên được xếp hạng cũng bước đầu phát triển. Năm 2007 Điện Biên mới có 3 khách sạn 2 sao và 2 khách sạn 1 sao. Nhưng đến năm 2012 Điện Biên đã có 1 khách sạn 4 sao, 1 khách sạn 3 sao, 4 khách sạn 2 sao và 2 khách sạn 1 sao.

          Như vậy, Điện Biên đã phát triển lợi thế về du lịch gặt hái được nhiều thành công. Nhưng bên cạnh kết quả đạt được, du lịch Điện Biên vẫn còn khoảng trống. Trước hết, Điện Biên chưa tập trung nghiên cứu đầu tư xây dựng các sản phẩm du lịch di sản hấp dẫn. Du khách tham quan các di tích trong dịp kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ cũng giống như dịp kỷ niệm 50 năm. Đến du lịch ở Điện Biên, ban ngày du khách được tham quan di tích nhưng buổi tối ít có hoạt động. Chợ đêm ở Mường Thanh thành lập được khoảng 1 năm thì không tồn tại. Du khách tỏa về 18 làng du lịch cộng đồng thưởng thức các sản phẩm du lịch na ná giống nhau, cũng đều ngủ nhà sàn người Thái, thưởng thức ẩm thực Thái, xem xòe Thái... Mặt khác, di sản văn hóa phi vật thể rất phong phú nhưng chưa hòa quyện với các di tích. Các di tích vẫn chỉ giới thiệu với người xem bằng ngôn ngữ của bảo tàng, ít sinh động. Không gian di sản văn hóa phi vật thể chưa tạo thành sản phẩm du lịch hấp dẫn khách tham quan. Mặt khác, sự tham gia của cộng đồng chưa cao. Một số dự án được Bộ và tỉnh đầu tư rất lớn như: bảo tồn bản cổ truyền Che Lăn ở xã Mường Phăng nhưng thiếu sự tham gia chủ động của cộng đồng nên nơi đây chưa trở thành điểm du lịch. Sự không thành công của chợ đêm có nhiều nguyên nhân, nhưng có nguyên nhân quan trọng là thiếu sự tham gia chủ động của cộng đồng các dân tộc thiểu số. NGười Thái giàu bản sắc văn hóa nhưng chưa có điều kiện để đưa văn hóa phi vật thể thành sản phẩm du lịch.

          2.2. Định hướng phát triển du lịch di sản của Điện Biên

          2.2.1. Về quan điểm nhận thức

          - Du lịch di sản cần phát huy tổng thể nguồn lực của di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể, không nên chỉ coi trọng di tích hoặc tách rời di tích với không gian, với môi trường di sản văn hóa phi vật thể.

          - Du lịch di sản cần phát triển theo hướng bền vững dựa vào 3 nguyên tắc chính:

          + Bảo tồn tài nguyên du lịch di sản, duy trì khả năng tái tạo một số nguồn tài nguyên du lịch di sản cho hiện tại và các thế hệ tương lai.

          + Phân chia lợi ích hài hòa, công bằng giữa các bên tham gia du lịch, trong đó đặc biệt coi trọng lợi ích của cộng đồng các dân tộc thiểu số - chủ nhân các di sản.

          + Phát triển du lịch di sản cần gắn liền với bảo vệ môi trường, có nhiều giải pháp khắc phục ảnh hưởng của sự quá tải trong các dịp ngày lễ, ngày kỷ niệm.

          - Trong điều kiện kinh phí còn ít không nên đầu tư dàn trải mà nên lựa chọn xây dựng một vài sản phẩm tiêu biểu, đặc trưng có sức thu hút du khách.

          2.2.2. Về xây dựng một số sản phẩm du lịch:

          Sản phẩm du lịch gắn với thị trường. Sản phẩm du lịch phải đáp ứng thị hiếu, nhu cầu của từng loại du khách. Vì vậy, trước khi xây dựng sản phẩm du lịch thì cần chú trọng đánh giá về các thành phần du khách cũng như thị hiếu của từng loại du khách.

          Tỷ lệ khách quốc tế đến với Điện Biên mỗi năm một tăng nhưng sự tăng trưởng đều đều chứ chưa phải mang tính đột phá và hấp dẫn. Trong đối tượng khách quốc tế cần chú ý các đối tượng khách Thái Lan, Lào, Trung Quốc và Pháp. Như phần trên chúng tôi phân tích, tài nguyên du lịch di sản ở Điện Biên có 2 loại hình nổi tiếng và độc nhất vô nhị. Đó là cụm di tích phản ánh Chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng “bốn biển năm châu”. Âm vang của chiến thắng có sức hút các du khách người Pháp (con cháu của các cựu chiến binh), Trung Quốc, đặc biệt là du khách nội địa. Vì thế cần xây dựng và đổi mới các chương trình tham quan di tích phù hợp với nhu cầu du khách theo hướng di tích gắn liền với môi trường di sản. Điểm nổi bật thứ hai trong nguồn lực du lịch di sản ở Điện Biên là kho tàng thần thoại của người Thái về “quê cha đất tổ” Mường Then. Rất tiếc nguồn lực này chưa được khai thác. Chúng ta cần xây dựng các chương trình sự kiện lớn về huyền thoại Mường Then như tổ chức Tuần văn hóa về thăm vùng đất tổ, tổ chức các lễ hội truyền thống, xây dựng các điểm, tour du lịch gắn với huyền thoại Mường Then, tổ chức các hội thảo khoa học về “Thái học”, tổ chức trải nghiệm về văn hóa Thái... Từ đó quảng bá, thu hút khách du lịch Thái Lan, Lào, Myanmar và vùng phía Nam Trung Quốc và khách nội địa tham dự. Nếu quảng bá và xây dựng sản phẩm tốt, Mường Then sẽ hấp dẫn như một “thánh địa”, như một vùng “đất tổ” thu hút cộng đồng người Thái xấp xỉ 100 triệu người trên thế giới. Bên cạnh việc đổi mới các sản phẩm du lịch gắn với di tích, xây dựng sản phẩm du lịch về huyền thoại đất tổ, Điện Biên cần tập trung đầu tư khôi phục và bảo tồn một làng người Thái cổ gắn với văn hóa nước hoặc có chủ đề “ứng xử của người Thái với nguồn nước” ở gần các di tích. Trong đó chú ý kiến trúc nhà sàn người Thái Đen với mái nhà hình mai rùa, kết hợp với khuôn viên của từng ngôi nhà cũng như cảnh quan kiến trúc của cả bản, đặc biệt là hệ thống thủy lợi của người Thái nổi tiếng như “mương, phai, lái, lin”. Trong đó phục dựng cả cái đập ngăn suối với “me nón xái” (mẹ nằm cát), “co chon phai” (dựng đầu phai) đến hệ thống các cọn nước “lốc” và “cọn”. Bản cổ này cũng phục dựng các công trình công cộng như các khu rừng cấm “đông tu sửa” (rừng cửa áo), các vũng cấm để mở hội đánh cả của cả làng “phá pà”, “sàn hặn khuống”... Nếu phục dựng được một làng Thái cổ với các công trình như vậy kết hợp với việc phát huy các di sản văn hóa phi vật thể như nghề thủ công, ẩm thực, diễn xướng dân gian, lễ hội, tín ngưỡng...chắc chắn đây sẽ trở thành môt điểm du lịch hấp dẫn, bổ sung cho các di tích.

          Nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa ban đêm của du khách cũng cần khôi phục lại chợ đêm nhưng phải lựa chọn địa điểm, thời gian và lực lượng tham gia chợ phù hợp và không nhất thiết phải họp thường xuyên mà họp theo phiên gắn với lịch tham quan du lịch. Đặc biệt các trí thức người Thái rất khao khát có một không gian biểu diễn nghệ thuật âm nhạc múa của người Thái, bán các sản phẩm thủ công Thái, phục vụ ẩm thực trong không gian văn hóa Thái. Nếu thành phố Điện Biên dành một không gian cho người Thái ở gần các di tích như kiểu một nhà sàn văn hóa Thái chắc chắn không gian đó sẽ trở thành một điểm du lịch mới. Bên cạnh xây dựng một số điểm du lịch trọng điểm cũng cần nghiên cứu xây dựng lại mô hình du lịch cộng đồng trên nguyên tắc người dân phải làm chủ và tránh các dịch vụ phục vụ na ná giống nhau. Điện Biên cũng như các tỉnh miền núi có nhiều bài học về xây dựng các dự án du lịch. Một số dự án du lịch do Nhà nước bao cấp, nghĩ hộ dân, đầu tư rất lớn tiền của nhưng thiếu sự chủ động của người dân tham gia nên không thành công. Hoặc có dự án do các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức chính trị tài trợ nhưng đến khi hết kinh phí của dự án thì dự án cũng bị tan. Vì vậy, cơ chế đầu tư xây dựng các sản phẩm du lịch cần chuyển mạnh từ mô hình Nhà nước đầu tư sang mô hình cộng đồng và doanh nghiệp đầu tư. Các dự án nhỏ cần khuyến khích cộng đồng chủ động tham gia dưới hình thức bản du lịch cộng đồng, nhà văn hóa cộng đồng hoặc các câu lạc bộ thổ cẩm... Nhà nước đóng vai trò hỗ trợ bằng các chính sách như giảm thuế hoặc cho người dân vay theo chế độ ưu đãi hoặc hỗ trợ một phần kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng... Còn doanh nghiệp tập trung khai thác lượng khách và cùng tham gia đầu tư với người dân, đào tạo nguồn nhân lực...

          Du lịch ở Điện Biên có nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển du lịch di sản, nếu có sự tham gia chủ động của cộng đồng, có định hướng phát triển bền vững hi vọng Điện Biên sẽ trở thành một trung tâm lớn của du lịch miền Tây Tổ quốc.

 

[1] Hà Văn Siêu, Phát triển sản phẩm du lịch gắn với di sản thế giới thành Nhà Hồ: cơ hội và thách thức, Viện Nghiên cứu phát triển du lịch http://www.itdr.org.vn/nghiencuu.

Hà Văn Siêu (2013), Di sản văn hóa Phật giáo với phát triển sản phẩm du lịch Việt Nam, Hội thảo khoa học Di sản văn hóa Phật giáo xứ Đông, tổ chức ngày 3/8/2013

[2] Luật Di sản văn hóa (2001) – NXB Chính trị Quốc gia – Trang 6

[3] Mckercher, Bob, Du Cros, Hilary – Du lịch văn hóa: Mối liên hệ giữa du lịch và quản lý di sản văn hóa – NXB New York, Hawoth Hospitality Press, 2002

Bạn đang đọc bài viết "Văn hóa dân gian ứng dụng- Kỳ 8" tại chuyên mục Nghiên cứu. | Hotline: 08.4646.0404