Quảng Ngãi trong cuộc mưu khởi Duy Tân năm 1916

Lê Hồng Khánh

26/07/2021 02:48

Cuộc mưu khởi Duy Tân[1] tháng 5/1916, là đỉnh cao của một cuộc vận động chống Pháp, giành độc lập dân tộc có quy mô lan rộng từ kinh đô Huế đến các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Huế, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Quảng Bình do các sĩ phu yêu nước, đứng đầu là Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung, Nguyễn Thuỵ (Sủy, Suý, Sụy)… lãnh đạo.

h2-gian-tho-ong-le-ngung-1627242150.JPG
Gian thờ ông Lê Ngung tại nhà thờ ông (thôn Phước Hoà, xã Bình Thanh Tây, huyện Bình Sơn)

Huế, Quảng Nam và Quảng Ngãi là những địa phương có phong trào mạnh nhất, có nhiều sĩ phu nhiệt huyết, tích cực tham gia cuộc mưu khởi, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cứu nước của toàn dân tộc.

  1. Phong trào đấu tranh yêu nước chống áp bức thực dân từ sau sự tan rã của Phong trào Duy tân và Duy tân hội.

Sự đàn áp khốc liệt của thực dân Pháp đối với cuộc kháng thuế, cự sưu năm 1908 làm cho phong trào yêu nước ở Trung Kỳ rơi vào tình thế khó khăn, song nhân dân và sĩ phu yêu nước vẫn nung nấu nhiệt tình ái quốc, nuôi chí căm thù, chờ cơ hội vùng lên. Những người bị bắt bớ, giam cầm trong lao tù, xem nhà tù là "trường học thiên nhiên" để rèn luyện, học tập, xem xét lại phương châm hành động cứu nước, bàn luận chính trị. Trong gian khổ lao tù, các nhà yêu nước kiên gan vững chí, chờ ngày ra tù để tiếp tục cuộc vận động cứu nước, trong số đó có các nhà yêu nước người Quảng Ngãi như Phạm Cao Chẩm, Nguyễn Thuỵ, Trần Kỳ Phong, Lê Ngung…

Đến năm 1909, các hoạt động ái quốc đã bắt đầu sôi động trở lại ở Quảng Ngãi. Từ kinh nghiệm phong trào chống sưu thuế năm 1908, các sĩ phu yêu nước chủ động tăng cường phối hợp với các lực lượng chống Pháp tại các tỉnh lân cận. Cùng với các nhân sĩ Trung Kỳ, các nhân sĩ Quảng Ngãi (như Nguyễn Diễn, Lê Tựu Khiết, Bùi Phụ Thiệu, Nguyễn Công Mậu...) một mặt tìm bắt liên lạc với Thái Phiên - một yếu nhân của Duy tân hội trước đây và là người được Phan Bội Châu tin cậy, để bàn kế hoạch tiếp tục chống Pháp; mặt khác bí mật vận động thanh niên xuất dương du học.

Về tình hình chung trong cả nước, sau khi phong trào Đông du tan rã, từ cuối năm 1908 đến năm 1909, phần lớn lưu học sinh Việt Nam ở Nhật đã về nước. Con đường đào tạo nhân tài, củng cố tổ chức ở Nhật Bản đã khép lại với lãnh tụ có uy tín nhất của phong trào yêu nước lúc bấy giờ là Phan Bội Châu. Rời khỏi Nhật, Phan Sào Nam và một số đồng chí của ông quay lại Hương Cảng, sau đó là Quảng Đông và cuối cùng qua Đông Bắc Thái Lan. Ở đây, họ vừa làm ruộng để sinh sống, vừa âm thầm  liên lạc với quốc nội, nuôi dưỡng phong trào và chờ đợi thời cơ phục quốc.

Tháng 10/1911, cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc thắng lợi, lật đổ chế độ phong kiến Mãn Thanh, Trung Hoa Dân quốc được thành lập. Tin này đem đến cho Phan Bội Châu và đồng chí của ông một niềm tin mới. Ông đã viết thư chúc mừng những người bạn cũ ở Trung Quốc và đến tháng 12/1911, cùng với một số đồng chí trở lại hoạt động ở đó. Với sự giúp đỡ của những nhà cách mạng Trung Quốc, Phan Bội Châu bắt đầu thực hiện một phương sách cứu nước mới. Ông đoạn tuyệt hẳn với tư tưởng quân chủ từ thời còn lãnh đạo Duy tân hội và phong trào Đông Du để hướng theo ngọn cờ dân chủ của cách mạng Tân Hợi.

Vào tháng 2/1912, tại Quảng Đông (Trung Quốc), một hội nghị gồm đầy đủ đại biểu của cả ba kỳ Trung - Nam - Bắc đã quyết định thành lập một tổ chức mới lấy tên là Việt Nam Quang phục hội. Việt Nam Quang Phục Hội đề ra tôn chỉ “Khôi phục Việt Nam, kiến lập Việt Nam Dân Quốc”, đề xướng theo chủ nghĩa dân chủ, xác lập mục đích của Hội là đánh đuổi người Pháp ra khỏi Đông Dương. Lâm Quán Trung (tức Võ Quán, người huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi), được cử làm đại diện Việt Nam Quang phục hội ở Trung Kỳ.

h3-chan-dung-ong-pham-cao-cham-1872-1918-1627242150.JPG
Chân dung ông Phạm Cao Chẩm (1872 - 1918)
  1. Sự hình thành Kỳ bộ Việt Nam Quang phục hội Trung kỳ và vụ mưu khởi Duy Tân năm 1916.

Mùa hè năm 1912, Lâm Quán Trung về Trung Kỳ phổ biến chương trình hành động và tuyên ngôn của Hội đồng thời xúc tiến xây dựng tổ chức. Đông đảo các sĩ phu yêu nước tiến bộ Nam - Ngãi đã gia nhập và cùng sĩ phu các tỉnh thành lập ra Kỳ bộ Việt Nam Quang phục Hội Trung Kỳ. Những người có uy tín nhất và có trách nhiệm lãnh đạo là Thái Phiên, Trần Cao Vân, Phan Thành Tài (Quảng Nam), Lê Ngung, Nguyễn Thuỵ (Quảng Ngãi).

Sự thành lập Kỳ bộ Việt Nam Quang phục Hội Trung Kỳ thể hiện quyết tâm của các sĩ phu yêu nước tiến bộ Trung Kỳ đi theo con đường cách mạng dân chủ tư sản và phương thức hành động chủ yếu là đấu tranh vũ trang. Sự thật là, nội bộ các nhà yêu nước trong Kỳ bộ vẫn có những điểm khác biệt về mức độ và cách thức tiếp nhận tư tưởng cách mạng tư sản dân quyền, sự lựa chọn phương lược tiến hành đấu tranh. Tuy vậy, các phần tử ưu tú của phong trào yêu nước lúc bấy giờ đã nhanh chóng gác lại những bất đồng để cùng nhau chung tay vì mục tiêu ái quốc, đánh đuổi kẻ thù chung. Đây chính là điểm son ngời sáng về nhân cách, về chí khí, về tấm lòng yêu nước chân chính của các thành viên Việt Nam Quang phục hội.

Tháng 3/ 1914, Lê Ngung cùng Thái Phiên tổ chức một cuộc hội nghị gồm các nhà yêu nước Trung Kỳ ở Đà Nẵng để thống nhất chủ trương và phân công người chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa chống Pháp. Phương hướng hành động là vận động binh lính yêu nước người Việt, chủ yếu là lính khố xanh và binh lính bị động viên sắp đưa sang Pháp phản chiến, phối hợp với lực lượng dân binh, tiến hành "nội công, ngoại kích". Những người yêu nước Quảng Ngãi tán thành chủ trương trên và tích cực chuẩn bị cho ngày khởi sự. Từ đó trở đi, Quảng Ngãi cùng với Quảng Nam, Huế trở thành ba địa bàn trọng yếu trong việc xây dựng lực lượng và căn cứ địa của cuộc khởi nghĩa.

Tháng 8/1914, Chiến tranh Thế giới thứ nhất bùng nổ. Quân Pháp liên tiếp bại trận. Bắt đầu từ tháng giêng năm 1916, nhiều lớp thanh niên tại Trung kỳ bị gọi nhập ngũ, được huấn luyện vội vã trước khi xuống tàu sang Pháp. Thanh niên thuộc hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi phải tập trung về kinh đô Huế, tạm trú rải rác tại nha Hộ thành, tại tòa Hậu bổ, đồn Mang Cá…Mỗi ngày hai lần, họ tập dượt tại Trường thi, trong thành nội. Việc tuyển mộ gần như cưỡng bách này, tiến hành trong một phạm vi rộng lớn, đã gây nhiều sự xáo trộn về phương diện xã hội, làm cho mọi tầng lớp dân chúng ta than. Họ trông đợi và sẵn sàng hưởng ứng nếu một cuộc khởi nghĩa được phát động.

Nhân cơ hội này, các nhà yêu nước lãnh đạo cuộc vận động đẩy mạnh công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa. Ngoài việc xây dựng lực lượng ở địa phương, Quảng Ngãi còn được giao trách nhiệm xây dựng lực lượng ở Kon Tum và Bình Định. Căn cứ địa đã được xây dựng ở vùng Minh Long, Giá Vụt (Ba Tơ), Mang Đen (Kon Tum), An Lão (Bình Định). Đến tháng 7/1915, ở Quảng Ngãi có hơn 80% (450 người) lính khố xanh đã ngả về phía những người yêu nước và sẵn sàng nổi dậy. Đến đầu năm 1916, số dân binh ở Quảng Ngãi lên tới 600 người. Theo nhận định của các tỉnh bộ Việt Nam Quang phục hội, thời cơ khởi nghia đã đến và họ phải cấp tốc hoạt động. Tháng 3/1916, các nhân vật trọng yếu của Việt Nam Quang Phục hội Trung kỳ họp tại làng Xuân Yên (huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi) để bàn kế hoạch bạo động. Lê Ngung, Nguyễn Thuỵ, Phạm Cao Chẩm, Nguyễn Công Mậu được phân công chịu trách nhiệm chỉ huy cuộc nổi dậy ở Quảng Ngãi. Cũng trong thời gian này, biết được vua Duy Tân là người có lòng yêu nước và không chịu khuất phục người Pháp nên Việt Nam Quang phục hội quyết định bắt liên lạc. Hai nhà lãnh đạo của Hội là Trần Cao Vân và Thái Phiên nhận nhiệm vụ trực tiếp tiếp cận và thuyết phục Nhà vua. Tháng 4 năm 1916, vua Duy Tân đồng ý tham gia khởi nghĩa.

Những người lãnh đạo cuộc mưu khởi quyết định khởi sự vào trung tuần tháng 5/1916, nhưng sau đó lại chọn tối ngày 3 rạng ngày 4 tháng 5 năm 1916. Không may, kế hoạch bị lộ do sự bất cẩn của một thành viên của Việt Nam Quang phục hội ở Quảng Ngãi. Số là, Võ An, người phủ Tư Nghĩa (là lính tập đóng trong thành Quảng Ngãi, được tổ chức vận động và trở thành đảng viên của Việt Nam Quang phục hội), trước khi bị đổi đi đã dặn người anh em trong họ là Võ Huệ: Đến ngày 1 tháng 4 Bính Thìn (tức ngày 3-5-1916), hãy về quê và xa lánh công đường vì hôm đó tất có biến.

Nghe được tin này, Võ Huệ bối rối, lo sợ, đến bẩm báo với Án sát Quảng Ngãi là Phạm Liệu, liền bị Phạm Liệu bắt tra khảo để dò tìm kế hoạch khởi nghĩa.

Chiều ngày mùng 2 tháng 5, công sứ Pháp ở Quảng Ngãi là Taste ra lệnh thu súng ở các trại lính người Việt cất vào kho và cấm trại, lính tập người Việt bị cấm ra khỏi doanh trại và chịu sự kiểm soát gắt gao.

Về diễn biến tình hình vụ mưu khởi ở Quảng Ngãi năm 1916, chúng tôi xin chép lại theo đây nguyên văn từ tập “Quảng ngãi tỉnh chí” do Tuần vũ Quảng Ngãi Nguyễn Bá Trác chủ trương (cùng Án sát Nguyễn Đình Chi, các vị Hàn lâm viện sĩ  Khiếu Hữu Kiều, Nguyễn Trân, Phan Đình Thi) biên soạn, như sau:.

“Các mầm phiến -loạn ấu chưa phải dứt tuyệt đâu, chỉ chờ một cơ- hội tốt thì nẩy ra. Cơ- hội ấy ở Quảng ngãi xảy ra năm 1916, trong lúc Âu- chiến đương kịch- liệt.

Lần này không may thì nổ ra to lắm, sẽ lan khắp các tỉnh Trung- kỳ, vì họ lợi dụng khi Âu -chiến và cổ - động binh -lính phần nhiều nghe theo, nhưng vì sao mà khỏi nổ ra?

Định tối mồng 3 tháng 5 là một đêm không trăng thời khởi lệnh khắp tất cả trong nước. Nhưng ban chiều ngày mồng 3 ấy, nhân vì đổi gác, nên một tên lính tập ở tỉnh phải đổi lên đồn Ba- tơ.

Tên lính này có một người anh tên là Võ Huệ lính dõng ở ty “niết”, nó mới chạy tin với anh nó rằng tối nay có giặc, để cho anh nó biết trước mà tìm đường lánh thân. Không ngờ anh nó chạy báo với quan án- sát Phạm Liệu. Khi ấy quan Sứ và quan Tuần - vũ đi hành hạt chưa về, quan Án ra đón báo tại cửa tây, xe điện gần tới nơi về đến tỉnh. Tức- thì quan sứ De Taste điện tòa  khâm biết và xin một toán lính tây. Chiều ấy phòng- vệ mười phần nghiêm - mật, bắt được mấy tên đầu đảng và mấy tên lính tập sắp sửa ra khẩu -hiệu. Tiếp đến toán lính thuộc- địa thứ chín kéo đến giúp sức để cầm -phòng. Ở hạt Sơn -tịnh có một tốp dân đã kéo đến huyện- lỵ, bị lính ví chạy tản hết, bắt được ít tên có dao, áo. Ngày mồng 10, đem đầu đảng nguyễn Súy, hai tên lính tập, do một tên làm long toong tòa Sứ và hai tên phạm khác xử tử tại Quảng ngãi.”[2]

Nhà biên khảo Phạm Trung Việt (trong cuốn “Non nước xứ Quảng”) tường thuật diễn biến vụ mưu khởi có một vài khác biệt, so với “Quảng Ngãi tỉnh chí”:

“Nguyên do ngày 30 tháng 3 âm lịch (1916) tại Quảng- Ngãi, viên cai lính khố xanh tên là Võ- Cử bị đổi đi Đức- Phổ đã dại dột dặn người em họ tên là Trung làm lính quản ở dinh Án-sát đừng đi làm việc sẽ gặp biến. Tên này gặp Án -sát Phạm- Liên [đúng ra là Phạm Liệu- LHK] với một bộ điệu lúng túng nên bị điều tra. Y phải thú nhận rằng biết cách-mạng sẽ nổ sung vào đầu tháng 4 tới, có tùy phái Cẩn tại Tòa- sứ lãnh công tác đầu độc viên Công- sứ và cai Thiểm có nhiệm vụ chiếm trại lính khố xanh.

Tức tốc, bọn Pháp cho thiết quân luật ngay ở khắp thành phố, quân Lê- dương tuần hành ngày đêm cẩn thận khác thường.

Không được báo tin về diễn biến bất lợi và nhanh chóng của tình hình, các lực lượng cách mạng nhanh chóng tiến về địa điểm tập trung (đội lính khố xanh ở Nghĩa- hành do cai Xứ chỉ huy đã kéo đến cách thành Quảng -ngãi 2 cây số) và các đoàn thể dân chúng võ trang không có hiệu lệnh phải vội vã rút lui và phân tán.”  [3]

Tại kinh thành Huế, đêm mùng  2 tháng 5, Trần Cao Vân và Thái Phiên đưa thuyền đến bến Thương Bạc đón vua Duy Tân. Nhà vua cải trang ăn mặc theo lối thường dân đi cùng hai người hộ vệ tới làng Hà Trung, đến nhà một hội viên Việt Nam Quang Phục hội để chờ giờ phát lệnh bằng súng thần công . Chờ đến 3 giờ sáng vẫn không nghe hiệu lệnh, biết âm mưu quật khởi đã thất bại, Trần Cao Vân và Thái Phiên tính kế đưa vua Duy Tân vào Quảng NamQuảng Ngãi, nhưng sáng ngày 6 tháng 5 năm 1916, họ bị bắt.

Trong các địa phương của tỉnh Quảng Nam và trong các tỉnh Trung Trung kỳ chỉ duy nhất ở phủ Tam Kỳ Quảng Nam là đã xảy ra cuộc khởi nghĩa thực sự.

Cuộc khởi nghĩa thất bại. Tại Huế, Khâm sứ Egène Charles và Toàn quyền Đông Dương thuyết phục vua Duy Tân trở lại ngai vàng nhưng nhà vua không đồng ý. Vì vậy, chúng gây áp lực buộc Triều đình Huế phải xử nặng những người yêu nước. Thái PhiênTrần Cao VânTôn Thất Đề và Nguyễn Quang Siêu bị xử chém ở An Hòa. Vua Duy Tân bị đày đi đảo La Réunion (Ấn Độ Dương) cùng với vua cha Thành Thái vào năm 1916.

Ở Quảng Ngãi, các nhà yêu nước Nguyễn Thuỵ, Trần Thêm, Võ Cẩn, Võ Cư, Mai Tuấn, Hứa Thọ, Phạn Tuân đều lần lượt sa vào tay giặc.

Lê Ngung về nhà uống thuốc độc tự tử sau khi đã hủy toàn bộ tài liệu, nhưng thực dân Pháp và Nam Triều vẫn đem thi hài ông chém lấy đầu, bêu ở thành Quảng Ngãi.

Nguyễn Thuỵ trốn thoát và bị tầm nã gắt gao. Không  thể tìm được tung tích ông, kẻ thù hèn hạ bắt mẹ ông và truy bức dân làng. Để cứu mẹ, giải thoát cho những người vô tội, Nguyễn Thuỵ tự nộp mình cho phủ đường Tư Nghĩa.

Ngày 9/4 năm Bính Thìn (10/5/1916), các thủ lĩnh khởi nghĩa Duy Tân người Quảng Ngãi bị kẻ thù đem ra hành quyết tại bãi cát sông Trà Khúc.

Phạm Cao Chẩm bị kết án tù chung thân và đày ra Côn Đảo lần thứ hai. Mồng 4 tết nguyên Đán, năm Mậu Ngọ (1918) ông cùng với Nguyễn Trọng Thường (con trai thủ lĩnh Cần Vương ở Hưng Yên Nguyễn Thiện Thuật) lãnh đạo những người tù chung thân nổi dậy khởi nghĩa cướp đảo. Việc lớn bất thành, hai ông bị giặc hành hạ tàn bạo rồi đem ra xử bắn, vùi xác ở nghĩa địa Hàng Keo (Côn Đảo).

h1-mo-ong-nguyen-thuy-1627242151.JPG
Mộ ông Nguyễn Thụy tại làng Hổ Tiếu, xã Nghĩa Hà, TP Quảng Ngãi
  1. Ý nghĩa

Tuy thất bại nhưng cuộc mưu khởi Duy Tân năm 1916 đã một lần nữa thể hiện ý chí kiên cường, tinh thần quật khởi của nhân dân Việt Nam nói chung, nhân dân các tỉnh Trung kỳ nói riêng, làm cho bọn thống trị thực dân phải chật vật đối phó, đồng thời góp phần đặt cơ sở cho các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc về sau.

Cuộc mưu khởi cũng cho thấy mối liên kết rộng rãi và hiệu quả của các nhà yêu nước Trung kỳ trong mưu đồ đại sự cứu nước, đặc biệt là các nhà yêu nước ở Quảng Nam, Quảng Ngãi và Huế. Thực ra mối liên kết giữa các nhà yêu nước 3 địa phương đã xuất hiện ngay từ thời kỳ Cần vương, song đến lúc này mối quan hệ càng trở nên rõ rệt với sự xuất hiện các cuộc hội nghị, các đầu mối liên lạc thường xuyên và cao điểm là cùng hoạch địch một kế hoạch khởi nghĩa thống nhất.

Về mặt tư tưởng, quá trình chuẩn bị vụ mưu khởi cũng chính là quá trình chuyển đổi và trưởng thành ý thức cứu dân, cứu nước theo đường lối cách mạng tư sản dân quyền, dần dần chối bỏ tư tưởng phong kiến- cần vương, vốn hằn sâu và chi phối rất nặng tư tưởng và hành động của sĩ phu Trung kỳ, nhất là ở kinh đô và vùng phụ cận.

Cùng với ông vua yêu nước Duy Tân và các nhà yêu nước Quảng Nam, Đà Nẵng, Huế, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Quảng Bình, các nhà yêu nước, tham gia vụ mưu khởi Duy Tân người Quảng Ngãi: Lê Ngung, Nguyễn Thuỵ, Phạm Tuân, Phạm Cao Chẩm, Mai Bá, Mai Tuấn… là những nghĩa liệt sĩ đã đem thân mình hiến dâng cho Tổ quốc – một hành động mà theo cụ Huỳnh Thúc Kháng là đã “ghi một vết khá sâu trong đoạn lịch sử Việt Nam thuộc Pháp”.

--------------

LHK

Tài liệu tham khảo chính:

- Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (chủ biên), Phan Đại Doãn, Chương Thâu; Từ điển các nhân vật lịch sử Việt Nam; Nxb Giáo dục; Hà Nội; 2000.

- Bùi Hồng Nhân (Chủ biên); Quảng Ngãi: Đất nước- Con người- Văn hóa; Sở Văn hóa và Thông tin Quảng Ngãi 1977.

- Nguyễn Bá Trác (chủ trương) và nhiều tác giả; Quảng Ngãi tỉnh chí; Nam Phong tạp chí; 1933.

- Phạm Trung Việt; Khuôn mặt Quảng Ngãi; Nam Quang; Sài Gòn; 1973.

- Phạm Trung Việt; Non nước xứ Quảng; tác giả tự xuất bản; Quảng Ngãi- 1965

- Phạm Trung Việt; Non nước xứ Quảng; Cẩm Thành thư xã tái bản (lần thứ 4); Quảng Ngãi- 1965

- Một số hồ sơ di tích lưu tại Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi.

 


[1] Còn có các tên gọi “Cuộc Khởi nghĩa Duy Tân”, “Cuộc vận động  khởi nghĩa của Việt Nam Quang phục hội”, “Cuộc vận động khởi nghĩa Duy Tân”, “Cuộc vận động khởi nghĩa năm 1916”

[2] Nam Phong tạp chí số 183, tháng 4/ 1933; Quảng Ngãi tỉnh chí, phần III, tr 376. Để thuận lợi cho việc kê cứu, tham khảo, chúng tôi xin chép nguyên văn, giữ nguyên cả cách viết chữ Quốc ngữ quen thuộc  trên báo chí thời bấy giờ.

[3]Phạm Trung Việt; Non nước xứ Quảng; tác giả tự xuất bản; Quảng Ngãi- 1965, tr 69.

 

Bạn đang đọc bài viết "Quảng Ngãi trong cuộc mưu khởi Duy Tân năm 1916" tại chuyên mục Nghiên cứu. | Hotline: 08.4646.0404