Văn hóa dân gian ứng dụng- Kỳ 10

TS. Trần Hữu Sơn

13/06/2021 09:58

TS. Trần Hữu Sơn - Viện trưởng Viện Văn hóa dân gian ứng dụng, có nhiều năm nghiên cứu về văn hóa dân tộc. Ông đã có mười đầu sách, công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian. Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển giới thiệu tới độc giả công trình nghiên cứu Văn hóa dân gian ứng dụng của ông, dày 324 trang.

tran-huu-son-1622795553.jpg
TS. Trần hữu Sơn

VĂN HÓA DÂN GIAN ỨNG DỤNG- KỲ 10

PHẦN 3- VĂN HÓA DÂN GIAN VỚI QUẢN LÝ VĂN HÓA

TÍNH ĐẶC THÙ VÙNG CAO VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

 

Công cuộc xây dựng nông thôn mới ở vùng cao gặp rất nhiều khó khăn. Hiện nay, nhiều huyện, tỉnh ở vùng cao chưa xây dựng được mô hình nông thôn mới phù hợp. Nguyên nhân chủ yếu là vùng cao có đặc điểm riêng về địa hình, kinh tế, văn hóa, xã hội tộc người. Tính đặc thù này đòi hỏi phải có chính sách, bước đi xây dựng nông thôn mới phù hợp với vùng cao. Nhưng trong thực tiễn không nghiên cứu xây dựng tiêu chí, cách làm phù hợp với vùng cao. Trong bài báo cáo này, chúng tôi tập trung nghiên cứu tính đặc thù vùng cao ảnh hưởng xây dựng các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, đề xuất một số nội dung sửa đổi, xây dựng các tiêu chí mới phù hợp với vùng cao.

Chương trình xây dựng nông thôn mới đang được triển khai mạnh mẽ từ năm 2010 đến nay nhưng thu hút nhiều nhà khoa học nghiên cứu đánh giá như Nguyễn Quang Dũng (2010), Nguyễn Minh Hoài (2011), Vũ Văn Phúc (2012), Hồ Xuân Hùng (2012), Phạm Thanh Thôi (2014), Nguyễn Ngọc Thanh (2015), Phạm Đi (2016)... Các công trình này đều phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn xây dựng nông thôn mới, hoặc đánh giá tổng kết xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, miền Trung. Các công trình nghiên cứu xây dựng nông thôn mới ở miền núi, vùng cao chưa được đề cập tới vẫn là khoảng trống cần các nhà nhân học nghiên cứu.

1. Bất cập về các tiêu chí nông thôn mới

Vùng cao là một khái niệm tương đối mang tính định lượng. Chỉ đến năm 1993 khi có Quyết định số 21/QĐ-UB vùng cao mới có đị bàn hành chính cụ thể[1]. Vùng cao là vùng có nhiều khó khăn, địa hình chủ yếu là núi cao, độ dốc cao, địa hình chia cắt mạnh, giao thông kém phát triển. Địa bàn các xã vùng cao có mật độ dân số thấp nhưng rất rộng, diện tích của một xã vùng cao bằng của một huyện vùng thấp. Tỷ lệ hộ nghèo ở vùng cao cao nhất toàn quốc. Đặc điểm khó khăn của vùng cao như vậy tạo nên tính đặc thù trong xây dựng nông thôn mới. Nhiều xã vùng cao chưa đạt được tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Nguyên nhân chủ yếu là thiếu các tiêu chí đặc thù. Các tiêu chí nông thôn mới đều mang tính toàn quốc, phù hợp với vùng thấp, không phù hợp với vùng cao.

Trước hết về các tiêu chí “cứng” như đường giao thông, nhà văn hóa, chợ, nghĩa trang (của tiêu chí môi trường)... đều bất cập, không phù hợp vùng cao.

Ở vùng cao, người dân cư trú trên sườn núi, đỉnh đồi có độ dốc lớn, khó tạo được mặt bằng xây dựng các công trình như chợ, nhà văn hóa, trường học... Trong tiêu chí xây dựng nông thôn mới, mỗi xã có quy hoạch chợ phải có chợ đạt chuẩn của Bộ Xây dựng. Diện tích xây dựng chợ ở vùng cao bình quân có từ 2.000 – 3.000m2. Mỗi điểm kinh doanh phải có 12m2 (lại còn diện tích khu vực mua bán ngoài trời, diện tích đường giao thông nội bộ, bãi đỗ xe, nơi thu gom rác thải). Như vậy, diện tích mặt bằng của chợ vùng cao là rất lớn, các xã vùng cao khó có điều kiện thực hiện. Nhưng khó hơn là ở hầu hết các xã vùng cao kinh tế của đồng bào các dân tộc Hmông, Dao, Hà Nhì, Mảng, La Hủ, Cống, Si La... đều mang nặng tính chất tự cung, tự cấp. Mỗi hộ gia đình đều sản xuất tự đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. Họ làm ra tất cả, tự chăn nuôi, trồng trọt nên không có nhu cầu và khả năng buôn bán hàng hóa (ngoài nhu cầu mua một số hàng thiết yếu như xăng dầu, quần áo, muối...). Do đó, người dân không có nhu cầu đi chợ thường xuyên. Thiếu các mặt hàng yếu phẩm thì họ mua ở quán tạp hóa ở đầu bản, gần trường học. Chỉ có một số xã người dân trồng cây đặc sản, buôn bán qua biên giới mới có nhu cầu đi chợ thường xuyên. Chính vì đặc điểm này nên nhiều xã vùng cao xây dựng chợ xong lại bỏ hoang. Tỉnh Đăk Nông từ 2004 – 2012, xây dựng 44 chợ nhưng có tới 41 chợ bỏ hoang[2]. Ở tỉnh Lào Cai, huyện Văn Bàn có 5 chợ thì 4 chợ bỏ hoang hoặc hiệu quả rất thấp. Từ năm 2004 - 2013, Lào Cai có 18 chợ bỏ hoang hoặc hoạt động không hiệu quả. Tỉnh Cao Bằng riêng năm 2015 có tới 6 chợ bỏ hoang, không hoạt động[3]. Huyện miền núi Quỳ Châu của tỉnh Nghệ An xây được 4 chợ thì 3 chợ bị bỏ hoang[4]. Vì vậy, không nên đặt ra tiêu chí chợ trong xây dựng nông thôn mới ở vùng cao. Không nhất thiết quy hoạch nhiều chợ ở hầu hết các xã như hiện nay. Ở vùng cao, chỉ một số xã ở trung tâm cụm mới quy hoạch thành chợ. Còn các xã khác chỉ nên quy hoạch hoặc xây dựng các điểm bán hàng (vài ba cửa hàng tạp hóa, bán nhu yếu phẩm). Vì vậy, Bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới cần bỏ tiêu chí về xây dựng chợ hoặc bỏ phương thức quy hoạch chợ tràn lan như hiện nay.

Ở vùng cao, các thôn bản cư trú rải rác, từ thôn này đến thôn kia cách nhau khá xa. Địa bàn một xã rộng bằng một huyện, thậm chí vài huyện của một tỉnh đồng bằng. Người dân có phong tục chôn người chết ở trên rừng cấm, khu nương rẫy của gia đình... Vì vậy, trong tiêu chí số 17 về môi trường đòi hỏi mỗi xã phải có nghĩa trang xây dựng theo quy hoạch là không thực tế. Ngay trong tiêu chí về môi trường, vấn đề thu gom chất thải, nước thải xử lý theo quy định cũng không phù hợp với vùng cao. Người dân vùng cao đa số đều có môi trường tốt hơn là đồng bằng, việc thu gom xử lý rác thải các thôn bản đều tự làm. Do đó, tiêu chí mỗi xã đều phải có một đơn vị thu gom, tiêu hủy rác thải là không phù hợp. Trong các tiêu chí về giao thông thì tiêu chí cần phải có tỷ lệ 50% đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện là hoàn toàn bất cập. Ở các xã vùng cao không như đồng bằng hoặc ở các thung lũng vùng thấp có cánh đồng rộng. Các cánh đồng vùng cao rất nhỏ bé, nhiều nơi chỉ là những thửa ruộng bậc thang có bề ngang khoảng 3 – 5m chạy vòng vèo quanh núi. Diện tích ruộng bậc thang hạn hẹp nhưng quý hơn vàng. Vì thế người dân không bao giờ phá ruộng bậc thang để xây dựng đường nội đồng rộng cho xe cơ giới đi lại thuận tiện theo quy định.

Ở hầu hết các xã vùng cao chưa đạt tiêu chí xây dựng nông thôn mới, chủ yếu là do các tiêu chí phần “cứng” như tiêu chí số 7 về xây dựng chợ, tiêu chí số 2 về xây dựng đường giao thông (nhất là sự cứng hóa đường giao thông nội đồng giúp xe cơ giới đi lại thuận tiện), tiêu chí số 6 về xây dựng cơ sở vật chất văn hóa (nhà văn hóa, khu luyện tập thể thao), tiêu chí số 17 về môi trường (xây dựng nghĩa trang). Trong đó, tiêu chí số 6 về xây dựng cơ sở vật chất văn hóa là tiêu chí khó khăn nhất. Ngày 09/10/2014, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có văn bản hướng dẫn về việc sửa đổi Thông tư số 12/2010/TT-BVHTTDL và Thông tư số 06/2011/TT-BVHTTDL nhưng các xã vùng cao cũng rất khó đạt được tiêu chí xây dựng nhà văn hóa xã. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là Bộ đầu tiên có tiêu chí dành riêng cho các xã vùng cao (Thông tư số 05/2014/TT-BVHTTDL), còn các Bộ khác chỉ nói chung chung về khu vực trung du miền núi. Tuy nhiên, tiêu chí xây dựng nhà văn hóa xã (với diện tích 200m2), khu luyện tập thể thao xã (với diện tích 500m2, chưa tính sân vận động) vẫn là một thách thức đối với vùng cao vì khó có xã nào tìm được mặt bằng ở vị trí trung tâm để xây dựng được khu luyện tập thể thao và nhà văn hóa. Mặt khác, các nhà văn hóa xã ở vùng cao xây dựng xong lại trở thành “nhà văn khóa” hoặc bỏ hoang hoặc chỉ sử dụng xuân thu nhị kỳ cho các đội thông tin tuyên truyền lưu động, chiếu bóng lưu động có buổi hoạt động. Có thực trạng như vậy vì ở vùng cao, cấp xã đóng vai trò rất mờ nhạt trong hoạt động văn hóa. Xã ở vùng cao có địa bàn rất rộng, diện tích bằng cả một, hai huyện vùng đồng bằng. Mỗi xã có hàng chục thôn bản, buôn làng khác nhau, các thôn bản, buôn làng lại mang tính khép kín, độc lập không có sự cố kết với nhau về văn hóa. Vì vậy, nhà văn hóa xã xây dựng ở địa bàn một làng cụ thể sẽ đứng chơ vơ, không có dân đến hoạt động. Hoặc chỉ đóng vai trò là nhà văn hóa của thôn sở tại – nơi có chính quyền xã đóng. Tính khép kín, cố kết cộng đồng theo đơn vị làng lớn nên người dân thôn bản, buôn làng, buôn này sẽ không sang thôn bên sinh hoạt văn hóa. Vả lại, khoảng cách giữa các thôn ở miền núi quá xa nên điều đó cũng khó thực hiện. Do đó, thiết chế nhà văn hóa xã khó phù hợp với vùng cao, chỉ nên xây dựng nhà văn hóa ở các xã trung tâm cụm dân cư, là thị tứ hoặc gắn liền với các cơ sở kinh tế nông lâm trường. Ở các điểm trung tâm này có cả cư dân phi nông nghiệp, có thời gian rỗi theo cấp ngày sẽ có nhiều điều kiện hoạt động nhà văn hóa, đến sinh hoạt ở các điểm bưu điện văn hóa xã.

Trong khi đó, thôn bản, buôn làng vùng cao tuy không phải là một cấp hành chính nhưng lại đóng vai trò rất quan trọng cả về kinh tế - xã hội – văn hóa. Cần xác định rõ thôn bản, buôn làng là đơn vị cơ sở của văn hóa. Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở vùng cao chính là xây dựng các thôn bản, buôn làng văn hóa. Thôn bản, buôn làng là đơn vị cộng đồng, cố kết được các hoạt động văn hóa chung. Thôn bản, buôn làng cũng là cấp gần dân nhất. Mọi chủ trương chính sách của hệ thống Đảng và chính quyền (từ trung ương đến xã) có đến được với người dân hay không đều thông qua cấp thôn bản, buôn làng. Mặt khác, hiện nay các thôn bản, buôn làng miền núi không có một công trình công cộng để hội họp, hoạt động chung của cộng đồng. Nhu cầu về thông tin, khai trí, giáo dục, sáng tạo, tiêu dùng văn hóa, giải trí... của người dân khó được đáp ứng nếu không có nhà văn hóa cộng đồng. Điều này phản ánh thực trạng bùng nổ việc xây dựng thiết chế văn hóa thôn bản, buôn làng trong thời gian qua ở vùng cao. Hầu hết các nhà văn hóa thôn bản, buôn làng ở các tỉnh Tây Bắc đều được sử dụng. Khảo sát ở xã Tả Ngảo, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu là một xã vùng cao xây dựng được 7 nhà văn hóa thôn bản, buôn làng. Trong tháng 5/2016, khảo sát hoạt động của các nhà văn hóa này, chúng tôi nhận thấy nhà văn hóa hoạt động nhiều nhất là 8 lần/tháng (nhà văn hóa thôn Thà Giàng Chải). Còn các nhà văn hóa ở các thôn khác đều hoạt động từ 3-5 lần/tháng (chủ yếu là hội họp, mở các lớp tập huấn, điểm tuyên truyền của các đoàn thể, các dự án, biểu diễn văn nghệ của thiếu nhi...). Khác với nhà văn hóa thôn, các nhà văn hóa xã hoạt động không hiệu quả. Xã Tả Ngảo, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xây dựng một nhà văn hóa xã chủ yếu dùng cho hoạt động của cán bộ xã. Nhà văn hóa xã trở thành nhà thi đấu cầu lông của công chức, viên chức xã. Người dân ở các thôn khác chưa bao giờ tham gia các hoạt động ở đây. Đến năm 2015, tỉnh Lào Cai đã xây dựng được 68 nhà văn hóa xã, phường, thị trấn và 1.332 nhà văn hóa thôn bản, buôn làng, tổ dân phố, nhưng nhiều nhà văn hóa xã hoạt động không hiệu quả. Đặc biệt, chưa có xã vùng cao (xã đặc biệt khó khăn – xã vùng III) xây dựng được nhà văn hóa xã. Các xã vùng thấp xây dựng được nhà văn hóa xã nhưng chỉ có xã ở trung tâm cụm dân cư, thị tứ mới hoạt động thường xuyên, còn các xã nông thôn ít hoạt động. Bởi lẽ ở khu vực thị tứ, trung tâm cụm có một bộ phận cư dân mang tính chất phi nông nghiệp nên họ làm việc và sinh hoạt theo tính chất đô thị, có thời gian rỗi cấp ngày, họ có thể tham gia thể thao vào buổi chiều, tổ chức các sinh hoạt văn nghệ, hát karaoke vào buổi tối. Ở đây, các trạm internet, bưu điện văn hóa xã cũng có điều kiện hoạt động, thu hút được người dân tham gia. Còn hầu hết các xã ở miền núi, nhà văn hóa xây xong không hoạt động. Hàng năm, chỉ có vài buổi đội thông tin lưu động, chiếu bóng lưu động hoặc đoàn nghệ thuật tổ chức hoạt động, người dân mới đến nhà văn hóa.

Như vậy, nhà văn hóa xã ở miền núi hoạt động không hiệu quả nên trong chương trình nông thôn mới chỉ lựa chọn một số xã để xây dựng nhà văn hóa xã. Đó là các xã mang tính chất trung tâm cụm, địa bàn xã là địa bàn thị tứ có cư dân phi nông nghiệp phát triển. Còn hầu hết các xã nông nghiệp không nên xây dựng nhà văn hóa xã. Cần tập trung lựa chọn xây dựng nhà văn hóa thôn hoặc liên thôn, khu vui chơi gắn với trường học.

2. Bổ sung một số yếu tố đặc thù vùng cao vào hệ thống tiêu chí nông thôn mới

Trong bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới, ban chỉ đạo quá chú trọng vào các tiêu chí phần cứng hoặc rải đều ra các mặt, chỉ mang tính phổ cập cho toàn quốc nhưng lại thiếu tính đặc thù ở vùng cao. Trong khi đó, ở vùng cao nhiều vấn đề an sinh cấp bách được đặt ra nhưng bộ tiêu chí không đề cập. Trong các giải pháp xóa đói giảm nghèo, người dân vùng cao thường được các ban chỉ đạo hướng dẫn về nhập giống mới, kỹ thuật gieo trồng mới. Điều này quan trọng nhưng chưa đủ. Vùng cao là vùng đa dạng văn hóa tộc người, đa dạng sinh học. Trải qua hàng nghìn năm ứng xử với môi trường tự nhiên, người vùng cao đã biết chắt lọc, gìn giữ, sáng tạo ra những loại cây con đặc sản, những ngành nghề thủ công tinh xảo hoặc tri thức dân gian về phòng chống thiên tai, dịch bệnh, bảo vệ rừng... Nhưng rất tiếc, toàn bộ các tri thức dân gian này lại ít được bảo tồn, phát huy. Nhiều loại cây con đặc sản đang bị mai một. Ở Nhật Bản, có chương trình mỗi một làng đều có nghề thủ công. Ở Thái Lan, phát động phong trào mỗi một cộng đồng thôn bản có một sản phẩm hàng hóa đặc sắc. Nhưng ở nước ta, chỉ một vài địa phương như Quảng Ninh, Lào Cai biết phát huy lợi thế này, còn hầu hết các địa phương ở vùng cao ít coi trọng phát huy tri thức dân gian, tri thức bản địa. Vì vậy, trong chương trình sửa đổi bộ tiêu chí nông thôn mới của Chính phủ, chúng tôi đề nghị cần phải nghiên cứu đưa các tri thức dân gian, tri thức bản địa trở thành một phần của các tiêu chí xây dựng nông thôn mới.

3. Đổi mới cơ chế vận hành xây dựng bản văn hóa

Bộ máy tổ chức và cơ chế vận hành của thôn bản, buôn làng miền núi (từ Tây Bắc vào Tây Nguyên) truyền thống bao gồm 3 thành tố tổ chức:

- Trưởng thôn là nguồi điều hành công việc chung của thôn bản, buôn làng, giải quyết những việc nội bộ trong thôn bản, buôn làng và thay mặt thôn bản, buôn làng giải quyết với các thôn bản, buôn làng khác. Nhưng trước khi giải quyết những việc lớn, xây dựng các hương ước, tổ chức hội nghị hằng năm của đại diện các gia đình thôn bản, buôn làng thì trưởng thôn đều xin ý kiến của hội đồng già làng, những người có uy tín.

- - Hội đồng già làng là những người cao niên trong thôn bản, buôn làng. Đồng thời, họ là những người có uy tín, am hiểu phong tục tập quán, tín ngưỡng, có kinh nghiệm sản xuất, có kinh nghiệm trong đối nhân xử thế, quan hệ với các thôn bản, buôn làng láng giềng, với chính quyền. Vì vậy, hội đồng già làng trước kia thường có các nhiệm vụ cụ thể đề ra các nhiệm vụ và biện pháp tổ chức thực hiện cho trưởng thôn cùng dân bản thực hiện.

- Hội nghị dân bản, buôn làng: Hàng năm, các thôn bản, buôn làng miền núi đều có hội nghị thường kỳ họp vào dịp đầu năm (có thôn họp vào ngày Thìn tháng Giêng, có thôn họp vào ngày 2 tháng Hai âm lịch...). Hội nghị dân bản, buôn làng (thực chất là hội nghị của các chủ hộ trong thôn bản, buôn làng) chủ yếu đề xuất các nhiệm vụ trọng tâm của thôn bản, buôn làng trong một năm, bàn bạc xây dựng các hương ước của thôn bản, buôn làng và chế tài xử phạt. Ngoài ra, hội nghị có thể tổ chức các hội nghị bất thường khi có yêu cầu của trưởng thôn bản, buôn làng hoặc hội đồng già làng đề nghị.

Nhà Dân tộc học Từ Chi đã xây dựng sơ đồ 3 vòng tròn đồng tâm của mô hình này cụ thể như sau: Vòng I là trưởng thôn bản, buôn làng, vòng II là hội nghị các già làng, vòng III là hội nghị của dân bản[5].

vong-tron-1623552861.jpg
Sơ đồ 3 vòng tròn đồng tâm

Đấy là mô hình về tổ chức thôn bản, buôn làng miền núi cổ truyền. Các tổ chức này đều có nhiệm vụ vận hành xây dựng và quản lý thôn bản, buôn làng. Hiện nay, mô hình này đã có sự biến đổi. Hội đồng già làng không còn tồn tại, thay vào đó là vai trò của người có uy tín (mỗi thôn có 1 người được hưởng chế độ người có uy tín). Đồng thời, mỗi thôn có chi bộ Đảng (hoặc tổ Đảng), hệ thống tổ chức các đoàn thể chính trị như Hội nông dân, Mặt trận tổ quốc, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên... Trong đó, Bí thư chi bộ thường kiêm trưởng đại diện Mặt trận thôn bản, buôn làng. Khi tổ chức các hoạt động xây dựng nông thôn mới, xây dựng làng văn hóa, xây dựng các thiết chế văn hóa... trưởng thôn đều xin ý kiến của chi bộ Đảng và các đoàn thể, người có uy tín. Chỉ đến khi có sự đồng thuận, trưởng thôn mới tổ chức dân làng thực hiện. Mặt khác, hội nghị đại diện các chủ hộ gia đình cũng tổ chức sinh hoạt thường xuyên. Mỗi khi thôn bản, buôn làng triển khai các nhiệm vụ, trưởng thôn đều xin ý kiến của người có uy tín và triệu tập cuộc họp bàn bạc thống nhất trong cộng đồng.

4. Đổi mới phương thức xây dựng hương ước

Vấn đề quản lý xã hội là vấn đề quan trọng và cấp bách ở khu vực nông thôn nhưng chế tài quản lý hiệu quả trong xã hội truyền thống là hương ước của các thôn bản lại chưa được chú trọng hoặc biên soạn thực hiện mang tính chất hình thức. Trong xã hội truyền thống, các hương ước đóng vai trò như một nguyên tắc định hướng chung của cả cộng đồng. Đây cũng là văn bản thể hiện chuẩn mực, chế tài thực hiện mà cộng đồng thôn bản, buôn làng phải tuân theo. Các hương ước này đã định hướng những nội dung cần phải thực hiện của thôn bản, buôn làng. Trong xã hội cổ truyền, hương ước thường ngắn gọn, đề cập đến những vấn đề thiết thân của thôn bản, buôn làng như giải quyết các tranh chấp lợi ích của các hộ gia đình trong thôn, vấn đề bảo vệ an ninh trật tự, vấn đề bảo vệ rừng... Các nội dung này đều được hội nghị chủ hộ gia đình chủ động đưa ra bàn bạc. Sau khi thảo luận dưới sự điều hành của trưởng thôn, sự góp ý của hội đồng già làng, bản hương ước được thông qua dưới hình thức truyền miệng là chủ yếu (một số dân tộc có chữ viết có ghi chép thành từng điều khoản ngắn gọn). Hương ước được thông qua trong cúng các vị thần chung của làng có các vị thần làng về chứng giám. Do đó, hương ước cũng mang tính thiêng. Hương ước không chỉ cư dân làng ủng hộ mà còn được sự bảo trợ của các thần linh của làng. Nhờ có tính thiêng, trong một không gian bối cảnh thiêng (người trưởng làng đọc hương ước và toàn dân làng xin thề thực hiện) nên hương ước càng được tôn vinh trở thành một cương lĩnh, một lời thề thiêng của cả thôn bản, buôn làng. Mỗi hương ước đều có điều khoản mang tính chất chế tài xử lý các hành vi vi phạm. Nhưng điều quan trọng hơn của hương ước là tiếng nói chung của cả thôn bản, buôn làng được thiêng hóa nên mọi thành viên đều nghiêm ngặt tuân theo hương ước.

Hiện nay, vấn đề xây dựng hương ước theo tiêu chuẩn danh hiệu làng văn hóa có biến đổi và nảy sinh nhiều điều bất cập. Trước hết, bản hương ước đều do cán bộ Tư pháp xã soạn thảo theo các nội dung chung chung, vận dụng vào thôn bản, buôn làng nào cũng được. Nội dung của hương ước gồm rất nhiều điều. Khảo sát ở huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu và huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai, các bản hương ước có từ 28 – 35 điều khác nhau. Người soạn hương ước chọn lựa tất cả những yêu cầu của chính quyền đối với người dân để đưa vào hương ước (từ việc thực hiện chính sách, đóng nộp lệ phí đến việc phổ cập giáo dục tiểu học...). Hầu hết các bản hương ước đều nhắc lại các văn bản luật một cách không cần thiết. Bản hương ước thông qua hội nghị dân thôn bản, buôn làng một cách hình thức. Sau khi dân thôn bản, buôn làng đồng ý cho đúng thủ tục, bản hương ước được Ban Tư pháp xã trình lên Ủy ban nhân dân huyện có quyết định phê chuẩn. Bản hương ước của thôn Giàng Lân, xã Tả Phìn, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu có nhiều điều mang thuật ngữ “phát triển bền vững”, “bình đẳng giới” mà chúng tôi phỏng vấn trưởng thôn cũng không hiểu. Hương ước trở thành hình thức, na ná giống nhau, không đề cập những vấn đề cơ bản của thôn bản, buôn làng dẫn đến tình trạng cộng đồng coi thường hương ước. Thậm chí, khảo sát ở xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai và xã Thượng Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình; xã Tả Ngảo và xã Tả Phìn của huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu thì hầu hết các gia đình không nhớ hương ước đề cập đến vấn đề gì. Các tiêu chí xây dựng danh hiệu làng văn hóa được vận dụng vào nội dung hương ước cũng bị xem nhẹ. Có tình trạng như Chủ tịch UBND huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai năm 2009 không phê duyệt hương ước vì nội dung quá chung chung, không phù hợp với người Hmông. Như vậy, chuẩn mực nếp sống văn hóa của thôn bản, buôn làng không được cộng đồng thực hiện nghiêm túc mà chủ yếu là thực hiện lấy lệ.

Vấn đề thực hiện tiêu chí “làng văn hóa” trong công cuộc xây dựng nông thôn mới ở miền núi do cách làm thiếu khoa học nên trở thành hình thức. Trong xã hội cổ truyền, dư luận thôn bản, buôn làng đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện nếp sống của thôn bản, buôn làng. Sức mạnh của hương ước muốn cố kết mạnh mẽ các thành viên, chỉ đạo kiểm soát được mọi thành viên phải thông qua dư luận thôn bản, buôn làng. Dư luận thôn bản, buôn làng là tiếng nói chính thức của cộng đồng nhằm bảo vệ tập quán và hương ước. Nhất là các thôn bản, buôn làng miền núi có trình độ dân trí thấp, môi trường giao tiếp bị khuôn chặt trong các mối quan hệ giữa người trong thôn bản, buôn làng với nhau thì dư luận của thôn bản, buôn làng càng đóng vai trò quan trọng. Dư luận thôn bản, buôn làng trở thành lực lượng hướng dẫn và cưỡng chế các thành viên ứng xử theo đúng chuẩn mực của hương ước và tập quán pháp. Dư luận thôn bản, buôn làng còn góp phần cổ vũ, khích lệ các thành viên chấp hành các hương ước, đồng thời dư luận còn có tác dụng răn đe, ngăn ngừa những người có hành động vi phạm hương ước. Dư luận cũng góp phần quản lý từng con người cụ thể, có tác dụng bùng nổ nhanh, bao vây chặt các đối tượng vi phạm. Nó là sợi dây vô hình “trói chặt” mọi thành viên vào cơ chế vận hành của thôn bản, buôn làng. Sức mạnh của dư luận thôn bản, buôn làng càng trở nên mạnh mẽ khi hương ước trở thành mệnh lệnh thiêng, khi người tạo nguồn dư luận lại là những người có uy tín trong thôn bản, buôn làng. Nhưng rất tiếc trong những năm gần đây, do bệnh hình thức, do cách làm thiếu khoa học của ngành Tư pháp cũng như sự coi nhẹ của chính quyền cơ sở nên hương ước chưa trở thành một cương lĩnh chung, chưa tạo thành một tuyên ngôn của thôn bản, buôn làng để tạo cơ sở xây dựng dư luận thôn bản, buôn làng. Vì vậy, muốn xây dựng nông thôn mới, hình thành nếp sống mới đòi hỏi phải đổi mới hoàn toàn việc xây dựng hương ước.

Từ những phân tích trên, bản báo cáo khuyến nghị các Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới đặc biệt việc xây dựng các tiêu chí về văn hóa gắn với việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở miền núi cần chú trọng:

- Thứ nhất, cần tiếp tục nghiên cứu tính đặc thù của miền núi nhằm đổi mới việc đề xuât các tiêu chí xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm miền núi, vùng cao. Trong đó, nên sửa đổi các tiêu chí “cứng” như xây dựng cơ sở vật chất văn hóa, xây dựng nghĩa trang, xây dựng chợ... Trong các tiêu chí xây dựng nông thôn mới về văn hóa cần nghiên cứu, thận trọng lựa chọn việc xây dựng các thiết chế văn hóa. Nhà văn hóa xã chỉ nên xây dựng ở các xã là thị tứ, trung tâm của khu vực, cụm kinh tế - xã hội trong vùng, chứ không nhất thiết xây dựng tràn lan như hiện nay, vừa không hiệu quả vừa tốn tiền của, công sức của người dân và ngân sách nhà nước. Nguồn ngân sách đó nên đầu tư hỗ trợ xây dựng các nhà văn hóa thôn bản, buôn làng. Bởi lẽ, người dân miền núi rất khó khăn, khó có điều kiện đóng góp để xây dựng nhà văn hóa thôn bản, buôn làng như ở miền xuôi.

- Thứ hai, vấn đề xây dựng nếp sống văn hóa, xây dựng danh hiệu các làng văn hóa ở nông thôn miền núi là vấn đề cực kỳ quan trọng, quyết định đến sự thành công của công cuộc xây dựng nông thôn mới. Nhưng muốn xây dựng nếp sống văn hóa, danh hiệu làng văn hóa đòi hỏi phải thay đổi cách xây dựng hương ước và cách vận động người dân thực hiện hương ước. Cần nghiên cứu bộ máy vận hành của cơ chế thôn bản, buôn làng miền núi để xây dựng nông thôn mới hiệu quả.

- Thứ ba, cần bổ sung về tri thức dân gian, tri thức bản địa ở vùng cao trở thành một phần trong các nội dung của các tiêu chí như kinh tế, quản lý xã hội.

Vùng cao là địa bàn khó khăn nhất, nơi có tỷ lệ hộ nghèo, tỷ lệ người dân không biết chữ cao nhất toàn quốc... Vùng cao cũng là địa bàn đa dạng văn hóa, đa dạng sinh học đòi hỏi phải có các chính sách đặc thù. Vì vậy, trong xây dựng nông thôn mới cần nghiên cứu xây dựng các tiêu chí, các cơ chế chính sách mang tính đặc thù cho vùng cao. Đây là vấn đề cấp bách và quan trọng cần quan tâm của các cơ quan quản lý và nghiên cứu khoa học./.


[1] Quyết định số 21/QĐ-UB ngày 26/1/1993 của Ủy ban dân tộc và miền núi ban hành công nhận danh sách các xã, huyện, tỉnh là miền núi và vùng cao. Sau này Ủy ban dân tộc và miền núi căn cứ vào điều kiện địa hình, đời sống kinh tế - xã hội ban hành danh sách các thôn, xã, huyện là khu vực I, II, III. Khư vực III là khu vực đặc biệt khó khăn.

[2] www.vietnamplus.vn/ truy cập ngày 25/9/2016.

[3] http://baotintuc.vn/tags/Cao%20b%E1%BA%B1ng.htm. Truy cập ngày 25/9/2016.

[5] Nguyễn Từ Chi (2013), Văn hóa tộc người Việt Nam, Nxb Thời đại và Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, trang 339.

 

Bạn đang đọc bài viết "Văn hóa dân gian ứng dụng- Kỳ 10" tại chuyên mục Nghiên cứu. | Hotline: 08.4646.0404