Văn hóa dân gian ứng dụng- Kỳ 19

TS. Trần Hữu Sơn

24/06/2021 08:58

TS. Trần Hữu Sơn - Viện trưởng Viện Văn hóa dân gian ứng dụng, có nhiều năm nghiên cứu về văn hóa dân tộc. Ông đã có mười đầu sách, công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian. Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển giới thiệu tới độc giả công trình nghiên cứu Văn hóa dân gian ứng dụng của ông, dày 324 trang.

tran-huu-son-1622795553.jpg
TS. Trần Hữu Sơn

VĂN HÓA DÂN GIAN ỨNG DỤNG- Kỳ 19

LỄ HỘI GẦU TÀO

 

Lễ hội Gầu Tào nổi tiếng của người Hmông được nhiều nhà nghiên cứu đề cập tới (Saviona – 1924; Lê Trung Vũ – 1971, 1984; Mã A Lềnh – Lý Sao Chúng – 1997; Bùi Xuân Tiệp – 2005, 2016…). Trong bài viết này, chúng tôi không miêu thuật lại lễ hội Gầu Tào mà chủ yếu vận dụng quan điểm về cấu trúc nhị phân của Claude Levi-Strauss để phân tích lễ hội. Từ đó xác định lại mục đích lễ hội Gầu Tào.

Địa bàn nghiên cứu của chúng tôi là lễ hội Gầu Tào ở xã Pha Long, huyện Mường Khương và xã Mản Thẩu, huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai. Đây là hai xã người Hmông vùng biên giới Việt - Trung, có truyền thống thường xuyên mở hội Gầu Tào.

Hội Gầu Tào là lễ hội của người Hmông ở vùng biên giới Việt – Trung đã phản ánh đậm nét cấu trúc nhị nguyên luận trong các thành tố của lễ hội từ nghi lễ, nghệ thuật, trang trí cây nêu đến nghệ thuật ngôn từ, diễn xướng, ẩm thực…

1. Các nghi lễ trong hội Gầu Tào

Hội Gầu Tào là hệ thống các nghi lễ kế tiếp nhau như nghi lễ trồng cây nêu, nghi lễ khai hội, nghi lễ kết thúc hội. Trong diễn trình nghi lễ có kết cấu 3 phần là mở hội, cao trào và kết hội. Mỗi một phần kết cấu hội có những đặc trưng về không gian, thời gian, các hành động hội khác nhau. Nhưng mỗi nghi lễ lại có các hành động, diễn xướng, lời cúng… phản ánh đậm nét các yếu tố nhị phân.

Nghi lễ chặt cây nêu và dựng cây nêu: Sau khi lựa chọn được ngày tốt (ngày Dần, Thìn, Ngọ, Thân) của cuối tháng Giêng (những ngày này không trùng với ngày sinh của chủ hộ), gia chủ tổ chức nghi lễ chặt cây nêu. Ngày chặt nêu phải chọn vào đầu giờ Thìn. Đội hình đi chặt nêu gồm có 2 cặp bố Tào (chí Tào) và mẹ Tào (nỉa Tào). Ông bố Tào và bà mẹ Tào chọn cây mai mọc ở hướng đông, khu đất cao hơn nhà (cây mai thẳng, đẹp, còn đủ cành ngọn, ngọn hướng về phía đông). Hai cặp bố mẹ chủ Tào làm lễ cúng 2 vị thần là thần cây nêu và thần núi đá (hai vị thần này thì thần cây nêu là nữ thần, thần núi đá là nam thần) ở dưới gốc cây mai, lễ cùng gồm có gà luộc, mèn mén (bột ngô hấp – món lương thực truyền thống của người Hmông) và rượu ngô. Các cặp bố Tào và mẹ Tào đặt lễ vật dâng cúng hướng về phía đông. Sau đó, hai cặp bố mẹ chủ Tào đi 6 vòng, quanh cây mai để chọn làm cây nêu (3 vòng từ phải qua trái, 3 vòng từ trái qua phải), họ vừa đi vừa hát. Nội dung bài hát nêu lý do xin chặt cây nêu mở hội Gầu Tào. Kết thúc bài hát, mỗi người chặt một nhát “làm lý”.

Nghi lễ dựng nêu: Chặt xong, đoàn người rước nêu về địa điểm đỉnh đồi đã được chọn làm điểm trồng nêu mở hội. Khi rước nêu phải vác cây nêu trên vai, không được đặt xuống đất. Đội hình rước nêu cũng như chặt cây nêu, bố Tào đi trước, mẹ Tào đi sau và những người phục vụ khiêng vác nêu. Đội hình cũng theo 4 cặp 8 người. Trước khi chôn cột nêu, bố Tào mẹ Tào phải chặt 1 cây mai nhỏ "dì chê" (cây đực) ghép với cột cây mai to "dì pang" làm nêu (cây cái). Khi chôn cột nêu, phải chú ý chôn ngọn cây nêu ngả về hướng đông, gốc nêu chếch về hướng tây. Lễ cúng cột nêu phải có 2 con gà (1 con gà cúng sống và 1 con gà cúng chín).

Nghi lễ khai hội: Sau khi gia chủ tổ chức cúng cây nêu (như lễ dựng nêu), các cặp bố mẹ Tào và người giúp việc đi xung quanh cây nêu 6 vòng theo chiều từ trái sang phải và từ phải sang trái, mỗi vòng 3 lần (vừa đi vừa hát). Điều đặc biệt, đội hình hát xung quanh cây nêu còn được bổ sung một tốp 4 cô gái múa gậy tiền, 4 chàng trai múa khèn và nhiều người cầm đạo cụ, binh khí như côn nhị khúc, câu liêm, kiếm, quả cân… đi theo. Qua mỗi một vòng cây, bố Tào, mẹ Tào đều chạm tay vào cây nêu như mong tiếp nhận năng lượng thiêng. Hát xong, các đạo cụ được gác lên thân cây nêu. Nhiều người cũng đặt những túm sợi lanh nhuộm xanh đỏ (hoặc đen trắng) lên thân cây lanh. Những người cầu mong sức khỏe cho con cái đều lấy các sợi lanh này làm dây buộc vào cổ, cổ tay và tin rằng sức mạnh của thần cây nêu sẽ được truyền đến đứa trẻ, bảo vệ đứa trẻ. Khi kết thúc phần hát và diễn xướng nghi lễ, nhiều đôi trai gái tổ chức thành các tốp hát “Chù Gầu Tào” (hát hội) ở xung quanh cây nêu. Các chàng trai muốn hát đều mang ô mời cô gái hát. Cô gái đồng ý sẽ cầm và giương ô lên, chàng trai và cô gái chụm đầu trong ô để hát. Xung quanh cây nêu hình thành các nhóm hát giữa chàng trai với cô gái; giữa người xưa kia yêu nhau, gặp gỡ nhau cùng hát; giữa người góa vợ hát với người góa chồng… Vào những năm 90 của thế kỷ XX trở về trước, mỗi lễ hội Gầu Tào có hàng trăm tốp hát khác nhau nhưng vào mùng 3 tết năm Ất Mùi (2015) lễ hội Gầu Tào ở Pha Long chỉ có 20 nhóm hát khác nhau. Sau khi hát “Chù Gầu Tào” trực tiếp, các đôi nam nữ tản ra phía xa cây nêu, sử dụng đàn môi, hát ống để hát các bài giao duyên. Bên cạnh hát “Chù Gầu Tào”, người Hmông còn tổ chức biểu diễn múa khèn, võ thuật ở quanh gốc nêu. Ở khu đất bằng phẳng cách xa cây nêu là các nhóm đánh quay, thi chọi chim.

Lễ hội thường tổ chức được 3 – 4 ngày thì kết thúc. Buổi chiều ngày cuối cùng của lễ hội, bố Tào, mẹ Tào và những người giúp việc làm lễ hạ cây nêu. Tương tự như khi trồng cây nêu, mọi người phải hạ cây nêu từ từ, không cho cây nêu chạm đất, đoàn người gồm bố Tào, mẹ Tào và những người giúp việc khiêng rước cây nêu về nhà ông chủ hội. Đến trước cửa nhà, họ hát bài “Xin mở cửa”. Khi vào nhà, cây nêu được gác ở phía sau mái nhà, gốc cây nêu hướng về góc bếp. Tấm vải lanh đen đỏ trên ngọn nêu được trao cho bà chủ cắt may thành trang phục cho trẻ em. Cây nêu được trẻ ra làm giáp giường cho vợ chồng người cầu con, hy vọng sẽ có con theo ý muốn.

Như vậy trong nghi lễ Gầu Tào, mọi yếu tố lễ hội liên quan đều mang đậm tính chất nhị phân:

- Đối tượng cầu cúng là thần cây mai (nữ thần) và thần núi đá (nam thần) (Yếu tố Đực/Cái).

- Đối tượng đi cúng là 2 cặp bố Tào và mẹ Tào (4 người) (Yếu tố Đực/Cái).        

- Cây nêu (cây mai) hướng ngọn về phía đông (hướng sinh), gốc ở hướng tây (Yếu tố Âm/Dương).

- Hướng đi cúng theo hình tròn nhưng chia làm 2 hướng theo chiều mặt trời mọc/mặt trời lặn và ngược lại. Số vòng vừa đi vừa cúng là 6 vòng cặp đôi của 3.

- Cây nêu vừa trở thành điểm hội tụ nhưng cũng phân ly giữa bên nam và bên nữ khi hát “Chù Gầu Tào”.

le-hoi-gau-tao-1624499475.jpg
 

2. Trang trí trên cây nêu

Trước hết, nghệ thuật trang trí trong lễ hội Gầu Tào được thể hiện rõ nét ở việc trang trí trên cây nêu. Cây nêu là trung tâm của lễ hội. Tìm hiểu nghệ thuật trang trí trên cây nêu góp phần giải mã một số đặc trưng của lễ hội Gầu Tào.

Cây nêu trở thành “cây vũ trụ” nối trời với đất:

- Cây nêu là một loại mai cao, thẳng, ít gai, là một loại cây cao ở làng bản, có sức sống mãnh liệt.

- Việc chôn cây nêu mang tính nghi lễ phản ánh sự vững chãi của loại cây nối trời với đất.

- Trong các lễ nghi tín ngưỡng của người Hmông, họ tre, trúc (gồm có cây mai, trúc, tre) được sử dụng như một loài cây trung gian nối thế giới âm và thế giới dương, nối thế giới tổ tiên của những người đã khuất với con cháu. Trong nhà của ông thầy cúng Saman “Chí Lếnh”, phía trên bàn thờ bao giờ cũng dựng 3 cây trúc có đủ ngọn, gốc trúc hướng về bếp lửa. Nối liền 3 cây trúc là 2 sợi lanh. Theo quan niệm của người Hmông, đây là đường dẫn cho ma tổ sư và các âm binh từ thế giới siêu nhiên trở về trần gian trợ giúp cho thầy cúng bắt ma, trừ quỷ, tìm hồn người ốm… Trong lễ tang, người Hmông sử dụng mảnh trúc được chẻ làm đôi để xin âm dương, ý kiến người chết (khi cần “nói chuyện” với người chết) ông thầy cúng “dở mổ” đều phải sử dụng đoạn trúc bổ đôi này. Khi quàng người chết trong nhà, người Hmông đều chặt 2 cây trúc làm cột treo trống và cây dẫn đường linh hồn người chết… Như vậy, cây mai, tre, trúc có chức năng là cây thiêng có công dụng nối trời với đất, nối thế giới âm với thế giới dương. Cây nêu thực sự cũng trở thành vật trung gian.

- Bản thân cây nêu được trang trí và chia thành 3 phần. Phần ngọn nêu là 9 cành lá xòe như đuôi rồng (theo quan niệm người Hmông)[1]. Trên ngọn nêu, treo 3 sải vải (2 sải chàm màu đen sẫm nối ở phía trên và 1 sải vải đỏ ghép ở phía dưới) tạo thành lá cờ. Phần thân cây nêu: ở phía trên treo 1 bình rượu (bằng ống tre hoặc quả bầu đựng rượu) và 1 túm gồm 3 bắp ngô (nơi trồng lúa nương thì treo 3 túm lúa). Phía dưới, người Hmông buộc các thanh ngang theo hướng đông – tây, treo khèn và ô, treo kiếm và gậy tiền. Phần gốc cây nêu kê một chiếc bàn bày các đồ cúng gồm 1 con gà trống luộc (ở vùng Si Ma Cai là thủ lợn), 1 âu đựng bột ngô – mèn mén (có nơi đựng âu cơm), 1 bó vàng hương. Phía gốc cây nêu được chôn chặt (hướng về phía tây). Như vậy, cây mai đã phản ánh vũ trụ quan 3 tầng, 3 thế giới của người Hmông (thế giới trên trời - dương gian – âm ty). Cây nêu trở thành cây vũ trụ.

Cây nêu trở thành cây thiêng có chức năng phồn thực, sinh sôi nảy nở, bảo tồn nòi giống:

- Cây nêu ở lễ hội Gầu Tào xã Pha Long, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai gồm 2 cây mai to, nhỏ ghép với nhau. Cây mai to lại có nhiều măng con mang tính phồn thực, sinh sôi nảy nở mạnh, trở thành cây cái. Cây mai đực nhỏ hơn rất nhiều được bó chặt với cây mai cái bằng sợi lanh. Quan niệm cây Cái/cây Đực (cây vợ/cây chồng) càng phản ánh quan niệm phồn thực có Đực/Cái, Âm/Dương, rất thuận lợi cho việc sinh sôi nảy nở. Đây là biểu tượng mang tính phồn thực đáp ứng nhu cầu mong có con.

- Phía trên cao của cây mai đực có buộc một túm cây trồng sưi (đây là một loại cây thuộc họ dương xỉ, lá kim, chịu được giá lạnh ở vùng cao, là loại cây khỏe, dễ sống, lan nhanh, đẻ nhiều nhánh). Theo quan niệm của người Hmông, cây trồng sưi cũng là biểu tượng cho phồn thực sinh sôi nảy nở nhanh, khỏe. Treo cây trồng sưi nhằm mục đích cầu con khỏe mạnh, cầu có “9 con trai, 8 con gái”.

- Nội dung các bài khấn cây nêu đều mong sinh được nhiều con trai, con gái, cầu cho con có sức khỏe, khỏi bệnh tật, ốm đau[2].

3. Nghệ thuật “Chù Gầu Tào”

Trong lễ hội Gầu Tào, phần hát hội “Chù Gầu Tào” là phần hấp dẫn nhất, lôi cuốn được đông đảo người tham gia. Ở đây có nhiều nhóm hát chia theo từng lứa tuổi như nam trẻ chưa lập gia đình hát với nữ trẻ chưa lập gia đình; những người yêu nhau mà không lấy được nhau, nay tuy có gia đình nhưng vẫn tổ chức hát với nhau; người góa vợ hát với người góa chồng; các nghệ nhân nam hát giỏi trổ tài với nghệ nhân nữ... Dù lứa tuổi, hoàn cảnh khác nhau nhưng khi vào cuộc hát bao giờ nam giới cũng chủ động. Họ tiến gần đối tượng, giương ô mời bên nữ hát. Nữ giới đồng ý sẽ cầm ô và hát cùng với nam giới. Trường hợp không đồng ý, nữ giới sẽ cụp ô hoặc bỏ đi không hát.

Như vậy, trong diễn xướng hát “Chù Gầu Tào” lại thấy các hình thức cặp đôi được phản ánh ở đối tượng hát khác nhau:

- Nam trẻ hát với nữ trẻ;

- Nam giới (người yêu cũ) hát với nữ giới (người yêu cũ);

- Người góa vợ hát với người góa chồng;

- Nghệ nhân nam hát giỏi với nghệ nhân nữ hát giỏi.

Đặc biệt, vai trò của chiếc ô đã trở thành vật trung gian, môi giới giữa nam và nữ. Nhờ có chiếc ô, người nam mới hát được với người nữ. Trong phong tục tập quán người Hmông, chiếc ô luôn là vật trung gian. Trong lễ cưới, bao giờ ông mối cũng dùng ô cắp vào nách đi trước đoàn ăn hỏi của nhà trai. Ông mối bên nhà trai muốn giao tiếp với đoàn nhà gái đều phải sử dụng bài hát về cái ô, về xin chỗ treo ô. Khi hát, ông mối của nhà trai và nhà gái đều dùng ô như vật giao tiếp. Thậm chí, trong một số nghi lễ giao tiếp với thế giới âm, với thần linh, thầy cúng người Hmông đều cắp ô hoặc giương ô.

Nghệ thuật lời thơ trong các bài hát “Chù Gầu Tào” đều phản ánh những đặc trưng về kết cấu, vần điệu, nhạc điệu có tính chất cặp đôi. Các bài hát trong lễ hội đều có kết cấu dài như kiểu hát nói. Bùi Xuân Tiệp đã thống kê 175 bài hát Gầu plềnh thì có 161 bài hát với hình thức đối đáp[3].

Kết cấu lời thơ của các bài hát Gầu plềnh đều là kiểu kết cấu trùng điệp. Bùi Xuân Tiệp khảo sát 175 bài hát Gầu plềnh thì có 104 bài kết cấu trùng lặp cả một khổ thơ (chiếm 59,5%), có 28 bài kết cấu trùng lặp 2 dòng (chiếm 16%), có 21 bài kết cấu trùng lặp 3 dòng (chiếm 12%)[4]. Bên cạnh kết cấu trùng điệp (nhắc lại câu thơ hoặc khổ thơ) còn có kết cấu đối ngẫu (đối ngẫu song hành cả về hình tượng, tâm lý). Kết cấu đối ngẫu này cũng phản ánh cả trong nhịp điệu và vần điệu của thơ.

4. Không gian lễ hội

Không gian lễ hội được diễn ra ở hai địa điểm chính là nhà gia chủ và khu vực lễ hội:

- Không gian ngôi nhà: Buổi sáng chặt cây nêu, gia chủ mời bố Tào, mẹ Tào và những người giúp việc ngồi trước bàn thờ tổ tiên cùng cầu xin tổ tiên phù hộ cho nghi lễ chặt cây nêu và mở hội thành công. Vị trí ngồi cũng mang tính cặp đôi như vợ chồng chủ nhà ngồi phía trong, bố Tào, mẹ Tào ngồi phía ngoài. Gia chủ và khách mời đều sử dụng ngôn ngữ giao tiếp là những bài hát ngắn mang tính chất đối đáp. Không gian trong ngôi nhà tương đối chật hẹp, số người hạn chế (chỉ có bố Tào, mẹ Tào và gia chủ). Trong ngôi nhà cũng có không gian thiêng, đó chính là bàn thờ tổ tiên. Gia chủ và bố Tào, mẹ Tào đối đáp dưới bàn thờ tổ tiên – trước sự chứng kiến và phù hộ của tổ tiên.

- Không gian lễ hội là toàn bộ khu vực tổ chức lễ hội. Không gian lễ hội rộng lớn nhưng trung tâm điểm – không gian thiêng là vị trí của cây nêu. Như phần trên đã phân tích, cây nêu trở thành cây thiêng, không gian xung quanh cây nêu là không gian thiêng. Ở đây chỉ diễn ra phần nghi lễ (hát và diễn xướng theo nghi lễ), còn toàn bộ cảnh hát “Chù Gầu Tào”, các trò chơi như đánh quay, chọi chim, bắn nỏ, bắn súng... đều diễn ra ở rìa đồi hoặc các đồi bên cạnh, cách xa không gian thiêng.

Như vậy, không gian của lễ hội có các cặp đối lập: Không gian ngôi nhà gia chủ/Không gian khu đồi mở hội; Không gian thiêng/Không gian trần tục; Không gian của người già/Không gian của người trẻ; Không gian hát nghi lễ/Không gian hát giao duyên...

5. Thời gian của lễ hội

Thời gian của lễ hội gồm có thời gian mở lễ hội, thời gian đỉnh điểm của hội và thời gian kết thúc hội. Thời gian mở hội gắn liền với nghi lễ cúng cột nêu – cúng cây thiêng – đây là thời gian thiêng vào giờ thiêng (giờ Thìn). Thời gian kết thúc hội cũng là thời gian thiêng, thời gian cúng hạ cây nêu với những nghi lễ rước nêu về nhà gia chủ - đem năng lượng thiêng cho người tổ chức Gầu Tào. Còn thời gian đỉnh điểm cũng là thời gian diễn ra các hoạt động của lễ hội như hát “Chù Gầu Tào”, múa võ, tổ chức các trò chơi... Do đó, về thời gian cũng xuất hiện các cặp đối lập: Thời gian thiêng/Thời gian trần tục; Thời gian mở hội/Thời gian kết hội; Thời gian cầu xin thần núi, thần cây nêu phù hộ/Thời gian hưởng thụ kết quả được thần núi, thần cây nêu ban tặng những vật thiêng (tấm vải lanh để may quần áo, làm miếng vải trừ tà, thân cây nêu làm giát giường cho người mong sinh con...).

Kết luận

- Lễ hội Gầu Tào của người Hmông cũng như nhiều lễ hội của các cư dân vùng Đông Nam Á khác, phản ánh đậm nét về cấu trúc nhị phân. Những cặp đối lập trong lễ hội có mặt ở khắp các thành tố của lễ hội như nghi lễ, nghệ thuật trang trí, nghệ thuật ngôn từ, diễn xướng, trò chơi, ẩm thực...

- Tính cặp đôi Âm/Dương, Đực/Cái... đã góp phần tạo nên mục đích của lễ hội Gầu Tào là lễ hội cầu con. Cầu con (cầu con trai, cầu nhiều con, cầu con cái khỏe mạnh...) là mục đích chủ yếu của lễ hội. Trên cơ sở của mục đích cầu con, người Hmông bổ sung thêm ý nguyện cầu mùa, đoàn kết chống giặc Hán.

- Dù cấu trúc luận của Levi-Strauss bị nhiều nhà khoa học phê phán, nhưng cấu trúc luận nhị nguyên vẫn còn tồn tại đậm nét ở nhiều sinh hoạt văn hóa các dân tộc. Dựa vào cấu trúc luận này có thể góp phần giải mã các hiện tượng sinh hoạt văn hóa, các hành động hội.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Claude Levi-Strauss (1958), Nhân loại học cấu trúc, bản dịch của Từ Chi, Thư viện Viện Dân tộc học.
  2. Claude Levi-Strauss (2006), Cấu trúc của thần thoại trong “Những vấn đề nhân học tôn giáo”, Hội Sử học Việt Nam, Nxb Đà Nẵng.
  3. Savina F.M (1924), Lịch sử người Mèo, (Tài liệu đánh máy), Bản dịch của Đỗ Trọng Quang, Tư liệu Viện Dân tộc học.
  4. Bùi Xuân Tiệp (2016), Dân ca Gầu plềnh và lễ hội Gầu Tào của người Hmông ở Lào Cai – Truyền thống và biến đổi, Luận án Tiến sỹ Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
  5. Lê Trung Vũ (1971), “Chợ và hội chơi núi mùa xuân của người Mèo”, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 1, trang 46-47.
  6. Lê Trung Vũ (1984), “Tượng trưng một thủ pháp nghệ thuật của trò diễn cổ truyền”, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 4, trang 70-72.
  7. Lê Trung Vũ – Lê Hồng Lý – Nguyễn Thị Phương Châm (2014), Lễ hội dân gian, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
 

[1] Người Hmông gọi cây nêu là cây rồng “sung lùng trứ” có nghĩa là “Cây long thượng”

[2] Chúng tôi ghi âm 11 bài cúng ở cây nêu của 11 hội Gầu Tào tại huyện Mường Khương và Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai từ năm 2003 – 2013, đều thấy cầu con và cầu sức khỏe cho con. Sử dụng phương pháp phỏng vấn hồi cố, chúng tôi thống kê lễ hội Gầu Tào ở huyện Si Ma Cai từ năm 1939 - 2010 thì có 24 lễ hội cầu con, 12 lễ hội cầu sức khỏe cho con, 1 lễ hội cầu chồng.

[3] Bùi Xuân Tiêp (2016), Dân ca Gầu plềnh và lễ hội Gầu Tào của người Hmông ở Lào Cai – Truyền thống và biến đổi, Luận án Tiến sỹ Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội, trang 88.

[4] Bùi Xuân Tiệp (2016), Dân ca... sđ d, trang 92.

Bạn đang đọc bài viết "Văn hóa dân gian ứng dụng- Kỳ 19" tại chuyên mục Nghiên cứu. | Hotline: 08.4646.0404