Văn hóa dân gian ứng dụng- Kỳ 5

TS. Trần Hữu Sơn

08/06/2021 12:06

TS. Trần Hữu Sơn - Viện trưởng Viện Văn hóa dân gian ứng dụng, có nhiều năm nghiên cứu về văn hóa dân tộc. Ông đã có mười đầu sách, công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian. Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển giới thiệu tới độc giả công trình nghiên cứu Văn hóa dân gian ứng dụng của ông, dày 324 trang.

tran-huu-son-1622795553.jpg
TS. Trần Hữu Sơn

VĂN HÓA DAN GIAN ỨNG DỤNG- Kỳ 5

BẢN SẮC VĂN HÓA TỘC NGƯỜI MIỀN NÚI VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG

 

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, giàu bản sắc. Mỗi dân tộc, mỗi ngành nhóm địa phương của các tộc người đều có bản sắc văn hóa riêng. Bản sắc văn hóa dân tộc là tài nguyên quan trọng nhằm phát triển du lịch. Trong bản báo cáo này, chúng tôi tập trung trình bày bản sắc văn hóa dân tộc với vấn đề xây dựng du lịch cộng đồng ở vùng các dân tộc thiểu số.

Nghiên cứu về du lịch cộng đồng, nghiên cứu về bản sắc văn hóa dân tộc có nhiều tác giả đã đề cập tới. Nghiên cứu về du lịch cộng đồng đã có một số tác giả đề cập đến như: Phạm Thị Mộng Hoa, Lâm Thị Mai Lan (năm 2000); Trần Hữu Sơn (2003); Võ Quế (2006); Nguyễn Thị Hồng Vân (2007); Bùi Thanh Thủy (2009, 2010), Phạm Ngọc Thắng (2010), Bùi Thị Hải Yến (2013)... Các tác giả đã đưa ra các khái niệm về du lịch cộng đồng, về điều kiện phát triển du lịch cộng đồng, về hiệu quả của du lịch cộng đồng ở Mai Châu (Hòa Bình) và Sa Pa (Lào Cai). Một số tác giả cũng phân tích văn hóa người Thái trở thành nguồn tài nguyên du lịch nhân văn, xây dựng các điểm du lịch cộng đồng. Tuy nhiên, các tác giả chưa phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa bản sắc văn hóa tộc người với xây dựng sản phẩm du lịch, các tác giả cũng chưa tìm hiểu yếu tố văn hóa tộc người chi phối đến vấn đề quản lý, phát triển du lịch cộng đồng. Đặc biệt khái niệm về du lịch cộng đồng đã được một số nhà khoa học đề cập đến:

- Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch phát triển dựa vào những giá trị tự nhiên và nhân văn của cộng đồng địa phương, có sự tham gia tích cực và chủ động của người dân nhằm đem lại lợi ích cho chính cộng đồng (Võ Quê, 2006)

- Du lịch cộng đồng nhằm bảo vệ tài nguyên du lịch nhân văn và tự nhiên tại các điểm đón khách và vì lợi ích của cộng động (Bùi Thanh Thủy, 2000)

- Du lịch cộng đồng góp phần thúc đẩy quyền của người dân tham gia thảo luận, xây dựng sản phẩm, giải quyết các vấn đề liên quan đến cộng đồng và người dân đều được hưởng lợi khi tham gia du lịch (Phạm Ngọc Thắng, 2010).

Như vậy du lịch cộng đồng là loại hình du lịch dựa vào tài nguyên của cộng đồng, do cộng đồng chủ động tham gia xây dựng sản phẩm quản lý và vì lợi ích của cộng đồng.

Trong bài viết này chúng tôi tập trung nghiên cứu bản sắc văn hóa dân tộc không chỉ là tài nguyên du lịch mà còn được nghiên cứu tạo thành các sản phẩm du lịch trong loại hình du lịch phổ biến ở vùng các dân tộc ít người hiện nay – du lịch cộng đồng.

1. Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch dựa vào tài nguyên của cộng đồng, do cộng đồng chủ động tham gia xây dựng sản phẩm quản lý và vì lợi ích của cộng đồng. Du lịch cộng đồng được xây dựng và phát triển ở vùng người Thái ở bản Lác, huyện Mai Châu (Hòa Bình) vào giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Đến năm 2000, người Tày ở bản Dền, xã Bản Hồ, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai cũng triển khai xây dựng mô hình du lịch cộng đồng. Sau gần 20 năm phát triển, đến nay, du lịch cộng đồng được xây dựng thành công ở vùng người Thái, người Tày, người Dao, Hmông tại các tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái... Nhiều điểm du lịch cộng đồng thu hút hàng vạn du khách, như Bản Dền (Lào Cai) đón 12.000 lượt khách quốc tế (năm 2008), các điểm du lịch cộng đồng ở Mai Châu (Hòa Bình) đón 300.000 lượt du khách, trong đó có 100.000 lượt du khách quốc tế (năm 2014). Các điểm du lịch cộng đồng, như bản Lác, bản Văn (huyện Mai Châu, Hòa Bình), bản Áng (huyện Mộc Châu, Sơn La), bản Mển, Phiêng Lơi (Điện Biên)... trở thành những điểm đến quen thuộc của các hãng lữ hành và các tour du lịch vùng Tây Bắc. Du lịch cộng đồng đã góp phần xóa đói, giảm nghèo, tạo nguồn sinh kế mới cho người dân vùng cao. Các điểm du lịch cộng đồng ở Sa Pa (Lào Cai) có tốc độ xóa đói, giảm nghèo nhanh gấp 3 lần so với các thôn, bản không có du lịch. Năm 2012, số hộ nghèo ở huyện Mai Châu (Hòa Bình) chiếm 25%, trong khi ở các điểm du lịch cộng đồng, số hộ nghèo chỉ chiếm từ 8 - 11%. Du lịch cộng đồng đem lại nguồn thu khá lớn cho người dân và xã hội. Ở bản Mển, xã Thanh Nưa, thành phố Điện Biên, có 110 hộ dân và có tới 25 hộ gia đình có người tham gia các dịch vụ du lịch. Năm 2014, bản Mển đã đón 1.200 đoàn khách tới thăm. Vào dịp kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, bản Mển mỗi ngày đón 5 đoàn khách đến thăm. Bản Phiêng có cảnh quan đẹp, có 30 hộ gia đình tham gia dịch vụ du lịch, những tháng đông khách mỗi hộ cũng thu được từ 3-5 triệu đồng.

Bên cạnh kết quả đã đạt được, các điểm du lịch cộng đồng vùng Tây Bắc còn một số hạn chế. Nhiều tỉnh phát triển du lịch cộng đồng một cách ồ ạt, không có quy hoạch, dẫn đến sự cạnh tranh khá khốc liệt. Một số điểm du lịch trước kia đón hàng nghìn khách quốc tế mỗi năm thì nay vắng khách. Trong cuộc phỏng vấn phiếu điều tra du khách của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam (tháng 12-2014) có tới từ 65% - 75% du khách quốc tế không muốn trở lại các điểm du lịch cộng đồng. Ở huyện Vân Hồ và Mộc Châu (tỉnh Sơn La), các điểm du lịch cộng đồng như bản Phụ Mẫu 1, bản Phụ Mẫu 2, bản Nà Bai, số du khách đã suy giảm nghiêm trọng. Nhiều hộ gia đình đầu tư hàng chục triệu đồng làm phòng nghỉ, nhà vệ sinh phục vụ du lịch... thì nay không có khách. Phỏng vấn sâu 10 hãng lữ hành đưa khách du lịch đi vùng người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình), Mộc Châu, Vân Hồ (Sơn La) và Điện Biên đều có nhận xét chung là du khách chỉ thăm một làng du lịch cộng đồng thì đã biết trước các sản phẩm du lịch của các làng khác, đều ngủ nhà sàn, ăn cơm lam, xem xòe Thái, uống rượu cần...

Tình trạng phát triển du lịch cộng đồng không hiệu quả do nhiều nguyên nhân. 

Thứ nhất là, chính quyền địa phương và người dân nhận thức du lịch cộng đồng dễ làm, đầu tư ít nên phát triển khá ồ ạt. Có tỉnh xây dựng 18 làng du lịch văn hóa, có tỉnh dân số không đông, điều kiện tự nhiên, bản sắc văn hóa của một tộc người không có nét khác biệt nhưng cũng có chủ trương xây dựng hơn 70 làng văn hóa du lịch. Hệ quả là 3/4 số làng đó không đón được du khách. 

Thứ hai là, chính quyền địa phương chưa giải được bài toán giữa phát triển du lịch với phát triển các ngành nghề khác. Điển hình là huyện Sa Pa, điểm du lịch cộng đồng ở bản Dền năm 2008 đã thu hút gần 25.000 lượt khách nhưng do làm thủy điện, cảnh quan môi trường bị xâm hại nghiêm trọng nên lượng du khách giảm sút nhanh chóng (năm 2009 chỉ có gần 500 khách đến thăm). Vấn đề đô thị hóa các bản vùng ven thành phố cũng là nguyên nhân làm nghèo tài nguyên du lịch. Có điểm du lịch như bản Ten, xã Thanh Xương, thành phố Điện Biên là một điểm du lịch quen thuộc của những năm 2004 - 2010; nhưng một vài năm gần đây, do đô thị hóa, nhà cao tầng mọc lên, đường bê-tông hóa như thành phố nên các hãng lữ hành không đưa khách đến. 

Thứ ba là, các cơ quan quản lý nhà nước, người dân và chính quyền địa phương chưa nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch trên cơ sở của bản sắc văn hóa vùng dân tộc thiểu số. Đây được xem là nguyên nhân quan trọng nhất. Các tộc người ở mỗi vùng đều có đặc trưng văn hóa khác nhau; cảnh quan môi trường tự nhiên ở các vùng dân tộc thiểu số cũng khác nhau nhưng các cơ quan quản lý về du lịch cũng như người dân và doanh nghiệp chưa nghiên cứu sâu về đặc trưng văn hóa vùng dân tộc thiểu số để tìm ra sắc thái riêng. Vì vậy, các mô hình du lịch cộng đồng và sản phẩm du lịch thường được xây dựng tương tự như nhau. Có du khách đã nhận xét không cần đi cả vùng Tây Bắc, chỉ cần đến một làng du lịch cộng đồng cũng biết được sản phẩm du lịch của toàn vùng.

Như vậy, tình trạng phổ biến hiện nay đối với các điểm du lịch cộng đồng là không dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc để xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù. Các địa phương quan niệm làm du lịch cộng đồng là dễ nên phát triển du lịch cộng đồng mang tính đại trà. Mặt khác, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch ở các địa phương chưa có quy hoạch về phát triển du lịch cộng đồng, chủ yếu là tham quan học tập các mô hình và vận dụng luôn vào địa phương. Không phân biệt bản sắc văn hóa dân tộc từ khâu đánh giá tài nguyên du lịch đến việc lựa chọn tộc người, địa điểm làm du lịch cũng trùng lắp, thiếu bản sắc. Vì vậy, có tỉnh xây dựng gần 20 điểm du lịch cộng đồng người Thái, có tỉnh phát triển hơn chục điểm du lịch cộng đồng người Dao. Hậu quả dẫn đến là chỉ một thời gian ngắn các điểm du lịch cộng đồng này không có khách. Bài học kinh nghiệm đối với vùng các dân tộc ít người phát triển du lịch cộng đồng là phải dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc. Từ bản sắc văn hóa dân tộc mới xây dựng thành các sản phẩm du lịch.

chua-but-thap-28032021-1622819319.jpg
Chùa Bút tháp

2. Phát triển du lịch cộng đồng ở vùng dân tộc thiểu số là một động lực quan trọng để xây dựng nông thôn mới, góp phần xóa đói, giảm nghèo. Nhưng muốn phát triển du lịch cộng đồng theo hướng bền vững đòi hỏi các địa phương phải phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc để xây dựng các sản phẩm du lịch mang tính đặc thù, phù hợp từng vùng, có quy hoạch và chọn lọc, hấp dẫn với từng đối tượng du khách. Vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống cũng cần phải xây dựng một chiến lược phát triển du lịch cộng đồng hiệu quả, có những chính sách, cơ chế mang tính đặc thù và các giải pháp đồng bộ như sau:

Xây dựng du lịch cộng đồng là vấn đề quan trọng nhưng đòi hỏi phải nghiên cứu tính đặc thù của từng địa phương, từng vùng dân tộc thiểu số khác nhau. Từ đó chính quyền các cấp tiến hành qui hoạch các điểm du lịch cộng đồng, kế hoạch xây dựng tránh tình trạng xây dựng tràn lan hoặc để người dân tự phát làm du lịch cộng đồng. Về mặt nhận thức, cần đổi mới làm du lịch cộng đồng là hình thức kinh doanh du lịch vì vậy cần có nghiên cứu thị trường, thị hiếu của du khách để xây dựng các điểm du lịch cộng đồng hiệu quả. Muốn xây dựng điểm du lịch cộng đồng khâu đầu tiên phải nghiên cứu về vị trí xây dựng. Vị trí điểm du lịch cộng đồng đáp ứng các yêu cầu cụ thể như sau:

- Vị trí xây dựng điểm du lịch cộng đồng chỉ nên chọn các bản ở không xa các trung tâm đô thị (nơi có cơ sở hạ tầng du lịch tốt như thị trấn Mai Châu, thị trấn Mộc Châu, thị trấn Sapa...). Khoảng cách từ khu vực trung tâm đến các điểm du lịch cộng đồng khoảng từ 10 -15km là thuận lợi nhất. Vì nếu gần trung tâm quá du khách chỉ đến tham quan điểm du lịch mà không lưu trú nghỉ lại, người dân mất một khoản thu lớn từ dịch vụ lưu trú. Một số làng du lịch ở gần TP Điên Biên và TP Sơn La chỉ là điêm tham quan chứ chưa phải là điểm lưu trú. Trường hợp điểm du lịch cộng đồng ở quá xa trên 15km, giao thông không thuận lợi, thì điểm du lịch đó cũng khó cạnh tranh với các bản du lịch cộng đồng gần thị trấn (đây là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng bản Nà Bai, xã Chiềng Yên, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La đến nay đã vắng khách)

- Về tài nguyên du lịch: Điểm du lịch cộng đồng phải được xây dựng trên cơ sở các bản làng đồng bào dân tộc thiểu số giàu tài nguyên du lịch nhân văn và tài nguyên du lịch tự nhiên. Trong đó các bản, làng phải có phong cảnh đẹp, mang sắc thái riêng của từng vùng, có cánh đồng, sông suối, các khu rừng... Kiến trúc nhà sàn nhưng phải mang bản sắc riêng của từng ngành người Thái (ngành Thái trắng, Thái đen, Thái Mai Châu, Tày Hà Giang, Tày Lạng Sơn...). Đường bản, ngõ xóm phải đảm bảo vệ sinh nhưng không nên bê tông hóa như đường đô thị. Về tài nguyên du lịch nhân văn, bản du lịch cộng đồng còn có các nghề thủ công, lưu giữ kho tàng văn hóa phi vật thể phong phú (ẩm thực, nghệ thuật dân gian, trò chơi dân gian, tín ngưỡng dân gian...

2.1. Nghiên cứu khai thác tài nguyên du lịch xây dựng thành các sản phẩm du lịch mang tính đặc thù, phù hợp với nhu cầu của du khách

Sản phẩm du lịch là tổng thể các dịch vụ, hàng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch của du khách. Nguyên tắc xây dựng các sản phẩm du lịch là chắt lọc từ tài nguyên du lịch, căn cứ vào thị hiếu và nhu cầu của du khách để xây dựng. Nhưng các sản phẩm đó phải mang tính bền vững, bảo vệ được môi trường và cảnh quan, giữ gìn bản sắc văn hóa tộc người, tránh tình trạng các điểm du lịch cộng đồng chỉ chú trọng về tài nguyên và khả năng đáp ứng của người dân mà không chú trọng đến thị hiếu, nhu cầu của du khách. Các điểm du lịch cộng đồng cũng cần lựa chọn đối tượng du khách (khách nội địa, khách quốc tế) để xây dựng chuỗi sản phẩm du lịch phù hợp.

- Vấn đề đón khách: Đón khách là hành động đầu tiên của cộng đồng tiếp xúc với du khách, hành động này thường để lại dấu ấn trong lòng du khách vì vậy cần nghiên cứu các hình thức đón khách cổ truyền của các dân tộc thiểu số (đón khách trong lễ cưới, đón khách trong lễ mừng nhà mới...) để xây dựng kịch bản đón khách phù hợp. Trong giao tiếp truyền thống, người Thái, Hmông, Dao rất hiếu khách nhưng khi mới gặp hay e dè ít hồ hởi, không thể hiện “tay bắt, mặt mừng”. Thậm chí, có chủ nhà còn để khách đợi rất lâu mới bố trí chỗ ăn nghi cho du khách. Do đó cần tập huấn, hướng dẫn cho cộng đồng có thái độ tự tin trong xã giao đón, tiếp khách. Trong những trường hợp đón những đoàn khách đông người, cộng đồng và từng gia đình xây dựng kịch bản trình diễn nghi lễ đón khách (có cả dân ca, dân vũ, dân nhạc...) tại vị trí đầu bản hoặc chân cầu thang của từng gia đình.

Dịch vụ lưu trú: Người Thái , người Tày cư trú ở nhà sàn, người Dao Đỏ, Hmông ở nhà đất. Loại hình nhà sàn rất phù hợp với đón khách cộng đồng. Hầu hết các điểm du lịch cộng đồng ở nổi tiếng ở miền núi đều sử dụng mô hình đón khách lưu trú ở nhà sàn. Người Dao áo dài ở thôn Nậm Đăm, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang, đón khách ở những ngôi nhà nửa sàn, nửa đất. Người Giáy ở Tả Van, Sapa đón khách ở nhà đất nhưng có tầng gác sàn. Nhà sàn thích hợp với kiểu ngủ cộng đồng đông người. Tuy nhiên, tùy theo đoàn khách có các gia đình thì cần phân khu hoặc buồng riêng phù hợp. Điểm cần thiết nhất đối với dịch vụ lưu trú là khu vệ sinh phải đặc biệt được coi trọng. Nơi tắm rửa, vệ sinh phải xây dựng hiện đại, sạch sẽ, các trang thiết bị cần được thiết kế từ các nguyên vật liệu gần gũi với thiên nhiên (chao đèn, ống dẫn nước, rèm cửa...)

- Dịch vụ ăn, uống:  Trong cộng đồng các dân tộc miền núi phía bắc, mỗi dân tộc đều có những món ăn ngon, độc đáo nổi tiếng, gắn với điều kiện tự nhiên môi trường sống. Vì vậy, người làm du lịch cần nghiên cứu sâu về văn hóa ẩm thực đặc trưng các tộc người nhưng đồng thời cũng chú trọng đến nhu cầu ẩm thực của từng đoàn khách. Tránh tình trạng đi từ Mai châu (Hòa Bình) đến Mường Thanh, Mường Lò chỉ có một vài món quen thuộc như cơm lam, cá nướng, rượu cần...

- Dịch vụ giải trí: du khách đến vùng tộc người dân tộc thiểu số đều có nhu cầu trải nghiệm với đời sông sinh hoạt  của cộng đồng, thưởng thức di sản văn nghệ. Đáp ứng nhu cầu này, ở hầu hết các bản du lịch cộng đồng chỉ chú trọng xây dựng chương trình văn nghệ trở thành dịch vụ kinh doanh. Nhiều chương trình nghệ nhân mặc trang ptục của sân khấu, trình diễn các tiết mục “cải biên, cải tiến” xa lạ với với người dân. Thậm chí có tiết mục múa khắp các bản cộng đồng Tây Bắc đều sử dụng. Tránh khuynh hướng nhàm chán này, đòi hỏi nghệ nhân ở các bản phải chắt lọc từ di sản nghệ thuật dân gian để xây dựng chương trình nghệ thuật hấp dẫn. Chương trình này chỉ nên bố trí thời lượng từ 30-40 phút. Kết cấu của chương trình cần coi trọng tiết mục mở đầu và kết thúc, có tính hấp dẫn thường xây dựng theo loại hình diễn xướng đân gian. Đặc biệt du khách không chỉ muôn là khán giả thụ động mà thường có nhu cầu được thể hiện giao lưu, hòa đồng với cộng đồng. Do đó các chương trình nghệ thuật cần có sự tham gia đông đảo của du khách.

Bên cạnh nhu cầu thưởng thức văn nghệ, du khách rất khao khát được trải nghiệm đắm mình trong cuộc sống dân dã. Vì thế, các điểm du lịch cộng đồng cần nghiên cứu xây dựng các chương trình trải nghiệm như hội thi bắt cá suối, quăng chài, thả lưới bắt cá ao, tham gia dệt thổ cẩm, chế biến món ăn, đi cày nương…

- Dịch vụ đi lại: Địa bàn cư trú của các tộc người có nhiều loại địa hình khác nhau. Các điểm du lịch cộng đồng cần nghiên cứu xây dựng các hình thức vận chuyển, đi lại truyền thống cho du khách. Có bản tổ chức xe trâu đưa du khách đi tham quan. Có bản gần sông suối tổ chức đi thuyền đuôi én, đi bè, đi thuyền độc mộc... Đây là các dịch vụ hấp dẫn, tạo nguồn thu cho cộng đồng

- Sản xuất đồ lưu niệm: Ở các bản làng du lịch người Thái, Tày, Hmông, Dao có tình trạng bán nhiều loại đồ lưu niệm thông thường như các nơi khác. Các sản phẩm lưu niệm đó không mang tính đặc thù và không hấp dẫn. Do đó cần nghiên cứu sản xuất các đố lưu niệm từ ngành nghề thủ công truyền thống của từng vùng. Đồng thời kiên quyết chống các loại hàng giả, hàng nhái (như hàng bạc giả, thuốc nam không có tác dụng chữa bệnh...). Đặc biệt chú ý khuyến khích các nghệ nhân giảm giá bán đồ thủ công, nghiên cứu các mẫu mã mới phù hợp nhu cầu du khách.

2.2. Xây dựng cơ chế chính sách đặc thù cho du lịch cộng đồng

Du lịch cộng đồng là cánh cửa mở cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn vùng dân tộc thiểu số, góp phần xóa đói giảm nghèo hiệu quả. Nhưng các điểm du lịch cộng đồng hiện nay vẫn còn nhiều thách thức. Trước hết về nguồn vốn đầu tư, các tộc người ở các bản, làng đời sống khó khăn, dù xây dựng ngôi nhà trở thành homestay cũng phải đòi hỏi đầu tư hàng chục triệu đồng để mua sắm chăn đệm, xây dựng các công trình vệ sinh... Nguồn kinh phí đó đồng bào khó tự trang trải được. Vì vậy cần có chính sách ngân hàng cho các hộ gia đình vay với lãi suất thấp hoặc lập các quỹ du lịch (tương tự như quỹ khuyến công) hỗ trợ cho cộng đồng. Mặt khác các doanh nghiệp đưa khách đến với vùng du lịch cộng đồng chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ, mức lãi trong doanh thu không cao. Muốn khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này đòi hỏi nhà nước cũng có một số chế độ ưu đãi với các doanh nghiệp như chế độ giảm thuế, cho vay ưu đãi...

2.3. Xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả, phân chia nguồn lợi cho cộng đồng công bằng bình đẳng

Xây dựng các điểm du lịch cộng đồng là công việc hoàn toàn mới mẻ đối với người dân. Đây là lĩnh vực kinh doanh phức tạp. Nhiều điểm du lịch cộng đồng được xây dựng xong lại bỏ hoang, nhưng nhiều điểm du lịch cộng đồng hoạt động hiệu quả ngày càng phát triển. Vì vậy xây dựng du lịch cộng đồng cần có sự kết hợp của bốn “nhà”:

- Trước hết là vai trò chủ động của cộng đồng, cộng đồng là chủ nhân của điểm du lịch cần phải tự nguyện tham gia một cách sáng tạo, cần xây dựng một ban quản lý hiệu quả có quy chế hoạt động thiết thực dân chủ. Cộng đồng là chủ nhân cho nên phải được hưởng lợi phù hợp, tránh tình trạng “người chủ” thì nghèo mà doanh nghiệp đưa khác đến lại giàu có.

- Doanh nghiệp là đối tác đưa khách đến điểm du lịch. Nhờ có doanh nghiệp điểm du lịch cộng đồng mới phát triển được. Doanh nghiệp đóng vai trò cung cấp khách nhưng đồng thời cũng đóng vai trò hỗ trợ vốn cho cộng đồng, tập huấn cho cộng đồng

- Các nhà tư vấn là hội viên Hội Văn nghệ dân gian, các tổ chức phi chính phủ đóng vai trò nghiên cứu tư vấn cho người dân, chính quyền địa phương, doanh nghiệp xây dựng các mô hình du lịch cộng đồng. Kinh doanh du lịch là một ngành mới, lại phức tạp nên rất cần thiết có nhà tư vấn, nhà khoa học tham gia.

- Cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương đóng vai trò quan trọng tỏng việc định hướng, xây dựng các cơ chế chính sách đặc thù cho các điểm du lịch cộng đồng. Cơ quan cũng là lực lượng điều hòa lợi ích giữa người dân với doanh nghiệp

Như vậy sự kết hợp chặt chẽ giữa người dân, doanh nghiệp, nhà khoa học và cơ quan quản lý nhà nước là mối quan hệ hữu cơ, mật thiết. Thực tiễn ở các điểm du lịch cộng đồng miền núi đã chỉ ra rằng nếu thiếu một trong bốn “nhà” này du lịch cộng đồng không cất cánh được

Kết luận

Phát triển du lịch cộng đồng ở vùng các dân tộc ít người là một động lực quan trọng để xây dựng nông thôn mới, góp phần xóa đói giảm nghèo. Nhưng muốn phát triển du lịch cộng đồng hiệu quả đòi hỏi các địa phương phải phát huy bản sắc văn hóa tộc người để xây dựng các sản phẩm du lịch mang tính đặc thù phù hợp từng vùng, không phát triển du lịch cộng đồng phong trào theo kiểu “đại trà” mà cần phát triển theo hướng bền vững có quy hoạch có chọn lọc. Mặt khác phát triển du lịch cộng đồng phải được nghiên cứu xây dựng các sản phẩm du lịch hấp dẫn phù hợp với từng đối tượng du khách. Các sản phẩm du lịch này phải mang bản sắc riêng dựa trên tài nguyên du lịch ở từng địa phương, tránh tình trạng “na ná” giống nhau như hiện nay. Vùng miền núi phía Bắc cũng cần phải xây dựng một chiến lược phát triển du lịch cộng đồng hiệu quả, có những chính sách, cơ chế mang tính đặc thù.

 

 

Bạn đang đọc bài viết "Văn hóa dân gian ứng dụng- Kỳ 5" tại chuyên mục Nghiên cứu. | Hotline: 08.4646.0404