Văn hóa dân gian ứng dụng- Kỳ 9

TS. Trần Hữu Sơn

12/06/2021 10:08

TS. Trần Hữu Sơn - Viện trưởng Viện Văn hóa dân gian ứng dụng, có nhiều năm nghiên cứu về văn hóa dân tộc. Ông đã có mười đầu sách, công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian. Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển giới thiệu tới độc giả công trình nghiên cứu Văn hóa dân gian ứng dụng của ông, dày 324 trang.

 

tran-huu-son-1622795553.jpg
TS. Trần Hữu Sơn

VĂN HÓA DÂN GIAN ỨNG DỤNG- KỲ 9

ẢNH HƯỞNG CỦA DU LỊCH ĐẾN XÃ HỘI NGƯỜI HMÔNG

 

          Du lịch như một cơn lốc ào ạt đổ bộ đến các làng người Hmông trong vài thập kỷ gần đây. Du lịch có tác động tích cực và cả tiêu cực đến các làng Hmông. Du lịch ảnh hưởng ra sao đối với xã hội người Hmong đã được một số tác giả đề cập đến như Phạm Quỳnh Phương(1997), Phạm Thị Mộng Dần, Lâm Thị Mai Lan(2000), Trần Thùy Dương(2008)... Tuy nhiên, các tác giả mới nêu bật lên những tác động tiêu cực là chủ yếu hoặc chỉ đưa ra các giải pháp chung, thiếu tính khả thi. Bài viết này chúng tôi tập trung nghiên cứu ở Sa Pa tỉnh Lào Cai từ đầu thế kỷ 21 đến nay, kết hợp giữa phương pháp định tính và định lượng để đánh giá sự tác động của du lịch đối với các làng Hmong ở Sa Pa. Từ đó đề xuất các khuyến nghị và giải pháp cụ thể chiến lược phát triển du lịch bền vững ở người Hmông.

Sa Pa là một huyện vùng cao ở Lào Cai, có 53.000 người dân. Trong đó người Hmông chiếm 52% dân số. Sa Pa có 98 làng, thôn, bản trong đó có 61 làng người Hmông. Du lịch Sa Pa được hình thành từ đầu thế kỷ 20 nhưng hơn 15 năm qua, du lịch Sa Pa mới phát triển khá mạnh. Năm 1992, Sa Pa đón 5.000 lượt khách, đến năm 2005, Sa Pa đón 200.000 du khách, trong đó có 63.333 khách quốc tế. Trong 9 tháng đầu năm 2006, có 190.000 lượt khách đến Sa Pa, trong đó khách quốc tế có gần 50.000 người của 81 nước và vùng lãnh thổ. Đến năm 2013 Sa Pa đón được trên 685.000 lượt khách. Sa Pa trở thành một trong 15 trung tâm du lịch trọng điểm của cả nước. Hầu hết khách du lịch quốc tế đến Sa Pa đều đến thăm các bản làng. Vì vậy du lịch đã tác động mạnh mẽ đến nông thôn Sa Pa, nhất là các làng người Hmông. Bản tham luận này tập trung nghiên cứu sự tác động của du lịch (cả tích cực và tiêu cực) đến kinh tế - xã hội - văn hoá ở các “giao” (làng) người Hmông Sa Pa.

I. Tác động tích cực của du lịch đến các làng người Hmông ở Sa Pa

1. Tình hình du khách đến các làng ở Sa Pa

Theo số liệu thống kê của Phòng Văn hóa Thông tin huyện Sapa và báo cáo hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Du lịch Cát Cát thì năm 2013, lượng khách du lịch đến thăm quan bản Cát Cát là 304.682 lượt khách, đạt doanh thu 124 tỷ đồng.

Du khách đến các làng Hmông chủ yếu xem cảnh quan làng, sinh hoạt văn hoá các dân tộc. Từ tháng 1 đến tháng 4 hàng năm là thời điểm khách nước ngoài đến thăm làng Hmông đông nhất. Bình quân mỗi ngày có từ 40 - 70 du khách đến Lao Chải, 50 du khách đến Cát Cát, Sín Chải. Thời gian lưu tại các làng Hmông từ 4 - 6 giờ. Một số làng, một năm đón đến 100.000 lượt khách. nhưng cũng có làng mỗi năm chỉ đón vài trăm lượt khách. Song số du khách đến các làng Hmông tăng rất nhanh trong vài năm gần đây.

2. Tác động tích cực của du lịch đến các làng người H’Mông ở Sa Pa

2.1. Du lịch làm nảy sinh và phát triển các ngành nghề mới, khôi phục các nghề truyền thống

Trong văn hoá người Hmông đã xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý, thích ứng với điều kiện tự nhiên không thuận lợi.

Cơ cấu kinh tế truyền thống của người Hmông gồm 03 bộ phận chính: trồng trọt, chăn nuôi và hái lượm, tiểu thủ công nghiệp và trao đổi. Cơ cấu kinh tế này tạo ra thế “chân kiềng” trong phát triển, nhờ nó người Hmông xác lập được thế cân bằng, duy trì sự bền vững tương đối ở môi trường thiên nhiên có nhiều bất lợi cho sản xuất lương thực. Trong cơ cấu kinh tế truyền thống, trồng trọt luôn đóng vai trò chính, chăn nuôi, nghề thủ công chỉ đóng vai trò phụ và luôn phụ thuộc vào trồng trọt. Chăn nuôi nhằm cung cấp sức kéo vận chuyển cho trồng trọt (trâu, bò, ngựa) và cung cấp nguồn phân hữu cơ phục vụ thâm canh. Ngoài ra các sản phẩm của chăn nuôi chỉ đáp ứng nhu cầu ăn thịt và các sinh hoạt tôn giáo, văn hoá. Sản phẩm chăn nuôi chưa trở thành hàng hoá. Ngược lại, khả năng trồng trọt không chỉ hỗ trợ mà còn trực tiếp chi phối đến chăn nuôi. Thức ăn tinh chủ yếu nuôi lợn, gia cầm là ngô, gạo nên những năm được mùa ngô, lúa lợn gà đều phát triển và ngược lại năm mất mùa đàn lợn, gà bị giảm sút nghiêm trọng. Hoạt động các ngành nghề thủ công chỉ đóng vai trò phụ và luôn phụ thuộc vào kinh tế nông nghiệp. Vì thế thời gian dành cho nghề thủ công là những lúc nông nhàn. Nghề thủ công tăng thêm nguồn thu nhập cho nông nghiệp, phục vụ nông nghiệp (nhất là nghề rèn đúc). Ngoài ra kinh tế hái lượm, trao đổi hàng hoá ở chợ phiên cũng thực hiện chức năng hỗ trợ cho nông nghiệp. Cơ cấu kinh tế này tồn tại như một hệ thống chỉnh thể, thực hiện các chức năng hỗ trợ cho nhau, khuyết một trong những yếu tố đó, toàn bộ đời sống H’Mông sẽ mất cân đối (xem sơ đồ). Như vậy có thể nói cơ cấu kinh tế truyền thống người H’Mông gồm 3 bộ phận cấu thành (trồng trọt, chăn nuôi và hái lượm, nghề thủ công và trao đổi hàng hoá) như hình tam giác cân có đỉnh là trồng trọt. 

so-do-1623467078.jpg

           Trong cơ cấu kinh tế truyền thống này, trồng trọt là chủ yếu, hầu hết mức sống, nguồn thu nhập của người Hmông là nhờ vào trồng lúa, ngô, thảo quả, còn  chăn nuôi, hái lượm ở rừng Hoàng Liên, nghề thủ công chỉ đóng vai trò phụ và luôn phụ thuộc vào trồng trọt. Loại hình canh tác chủ yếu là nương rẫy và khai khẩn ruộng bậc thang đòi hỏi phải huy động được nhiều lao động. Khi khai phá được ruộng bậc thang phải có sự tham gia của cả dòng họ, cả làng cùng lao động 

Hiện nay do du lịch phát triển, các làng Hmông ở gần thị trấn có cảnh quan đẹp, giữ được bản sắc văn hoá trở thành những điểm du lịch hấp dẫn. Do đó du lịch đã tác động làm biến đổi đời sống kinh tế của các gia đình người Hmông.

Trước hết là sự xuất hiện hàng loạt nghề mới phục vụ du lịch như bán hàng thổ cẩm, đồ trang sức, chở xe ôm, dẫn khách du lịch....

Biểu 1: Số người tham gia hoạt động dịch vụ du lịch

Stt

Loại hình dịch vụ

Cát Cát

Lý Lao Chải

1

Bán hàng rong

68

81

2

Chở xe ôm

15

20

3

Bán hàng lưu niệm cố định ở chợ

25

8

4

Hướng dẫn khách du lịch

23

25

5

Biểu diễn văn nghệ

9

0

 

Cộng

140

144

 

Làng Cát Cát có 389 người Hmông mà có tới 140 người tham gia hoạt động du lịch chiếm tỷ lệ 35.9% dân số. Làng Lý Lao Chải có 561 người Hmông có 102 người tham gia dịch vụ du lịch chiếm tỷ lệ 18,18% dân số nhưng tính theo đơn vị hộ gia đình tỷ lệ số hộ có người tham gia hoạt động du lịch rất cao. Khảo sát 28 hộ ở thôn Lao Chải 1 có 22 hộ (chiếm 78,6%) số hộ có người tham gia dịch vụ du lịch. Như vậy là số người trực tiếp tham gia dịch vụ du lịch khá đông. Đó là chưa kể số người gián tiếp tham gia các dịch vụ này như sản xuất, đi mua thổ cẩm, hàng lưu niệm, sản xuất và bán sản phẩm rèn đúc, thêu thổ cẩm....

Trong các ngành nghề mới xuất hiện, có nghề hướng dẫn viên du lịch và phục vụ khách du lịch( mang đồ, dẫn đường cho khách du lịch) phát triển khá nhanh, nhất là trong tầng lớp thanh niên. Mỗi một làng người Hmông có một vài thanh niên làm nghề hướng dẫn viên tự phát. Đặc biệt, một số công ty du lịch đã tuyển người Hmông ở các làng đào tạo trở thành đội ngũ hướng dẫn viên chuyên nghiệp. Làng Cát Cát có 8 hướng dẫn viên người H’Mông chuyên nghiệp, làng Lao Chải có 12 hướng dẫn viên, xã Hầu Thào có 17 hướng dẫn viên....v.v. 16 làng người H’Mông còn thành lập các đội văn nghệ phục vụ khách du lịch, thu hút khoảng 240 nam nữ diễn viên không chuyên tham gia. Một số đội văn nghệ ở Lao Chải, Sa Pa, San Sả Hồ không chỉ biểu diễn ở làng mà còn trở thành đội văn nghệ không chuyên của các khách sạn Victoria, BamBeo, khách sạn Châu Long, khách sạn Hàm Rồng.... Bên cạnh việc xuất hiện các ngành nghề mới, một số ngành nghề truyền thống được khôi phục và phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá như nghề thêu dệt thổ cẩm, làm đồ chạm khắc bạc. Các sản phẩm chăn nuôi của các làng H’Mông trước kia chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu ăn uống và tín ngưỡng của từng gia đình thì nay đã bước đầu trở thành các sản phẩm hàng hoá cung cấp cho các nhà hàng, khách sạn. Thông qua trao đổi hàng hoá, giao dịch với du khách, khả năng nắm bắt nhu cầu, giá cả thị trường của người Hmông được nâng cao.

2.2. Du lịch góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao đời sống người H’Mông, giảm nhanh tỷ lệ đói nghèo ở các làng người Hmông

Trong thập kỷ 50 của thế kỷ 20, nguồn thu của các hộ gia đình người H’Mông có tới 80% đến 90 %  nhờ nông nghiệp (trong đó chủ yếu là trồng trọt và khai thác lâm sản). Nhưng hiện nay, nguồn thu từ dịch vụ du lịch đã chiếm tỷ lệ quan trọng. Trong đợt điều tra khảo sát về nguồn thu của người Hmông ở làng Lý Lao Chải huyện Sa Pa (từ ngày 29/9 đến 12/10/2005) cho thấy vai trò dịch vụ du lịch tăng khá mạnh. Trong tổng số 30 hộ trong thôn được điều tra, nguồn thu từ dịch vụ du lịch vượt lên vị trí thứ hai chiếm tới 35,17% tổng nguồn thu. Nguồn thu từ trồng trọt trước kia là nguồn thu chủ yếu, hiện nay tuy vẫn là nguồn thu quan trọng nhất (vị trí thứ nhất) nhưng chỉ chiếm 39,5% (xem biểu 2).

Biểu số 2 : Tỷ lệ nguồn thu của làng Lý Lao Chải

                                                                                                           ĐVT: 1.000 đ

Nguồn thu

Số tiền

Tỷ lệ % trong tổng số nguồn thu

Trồng trọt

187.930

39,51

Lâm sản

20.510

4,3

Chăn nuôi

27.650

5,8

Du lịch

167.320

35,17

Làm ruộng nương thuê

22.050

4,63

Lương, phụ cấp

43.940

9,23

Dịch vụ tín ngưỡng

2.020

0,42

Nguồn thu khác

4.200

0,88

Tổng nguồn thu

475.620

100

Nguồn: Số liệu điều tra tháng 10/2005

          Hiện nay, có tới gần 47% nguồn thu của người dân Cát Cát có từ Du lịch, có 31 hộ có nguồn thu trên 60% từ du lịch. Bình quân mỗi hộ gia đình người Hmông ở Lao Chải được khảo sát 1 năm có thu nhập 15.834.000 đồng, cao gần gấp đôi so với các làng trong vùng không tham gia hoạt động du lịch. Trong số 30 hộ ở Lý Lao Chải được khảo sát, có tới 25 hộ tham gia các hoạt động du lịch. Thu nhập của các hộ này ít nhất là gần 3 triệu đồng/1 năm, cao nhất là 14.700.000 đồng/1 năm (Xem biểu 3).                                                    

Biểu số 3 - Nguồn thu nhập của các hộ người Mông

                                                                                                               ĐVT: đồng

Mức thu nhập

Số hộ

Tỷ lệ %

Dưới 3 triệu đồng

2

8

Từ 3 triệu đến 5 triệu đồng

10

40

Từ 5 triệu đến 7 triệu đồng

6

24

Từ 7 triệu đến 14.700.000

7

28

Tổng số

25

100

Nguồn: Số liệu điều tra tháng 10/2005

Bảng thống kê cho thấy, số hộ có thu nhập du lịch dưới 3 triệu đồng 1 năm là rất ít (có 2 hộ chiếm 8%). Có tới 40% số hộ thu nhập từ 3 đến 5 triệu đồng/1 năm từ du lịch. Số hộ có thu nhập từ du lịch năm 2006 có xu hướng tăng cao. Trong số 7 hộ thu nhập từ trên 7 triệu đồng đến 14.700.000 đồng ở thôn Lý Lao Chải (điều tra tháng 10/2005) thì đến tháng 9/2006 có 3 hộ đã tăng từ 14.700.000 đồng lên trên 20.000.000 đồng/1 năm, nhất là các gia đình có 2 - 3 người tham gia hướng dẫn viên du lịch, chở xe ôm, bán hàng. Các làng H’Mông có người tham gia dịch vụ du lịch nhiều (Cát Cát, Lý Lao Chải, Sín Chải, Bản Pho... ) thì tỷ lệ hộ đói nghèo cũng giảm gần gấp ba so với các làng Hmông không tham gia du lịch. Trong 9 tháng đầu năm 2006, số hộ đói nghèo theo tiêu chí mới ở làng Cát Cát giảm 4,73%, ở Sín Chải giảm 4,01%, ở Lý Lao Chải giảm 4,52%. Năm 2011, làng Cát Cát chỉ còn 3% hộ nghèo. Nguồn thu từ du lịch năm 2011 ở Cát Cát đã tăng gần gấp 3,5 lần năm 2000. Nhiều hộ từ đói nghèo đã vươn lên hộ trung bình và khá giả. Có một số hộ thu nhập từ 30 đến 50 triệu đồng 1 năm nhờ kinh tế du lịch.

2.3. Du lịch tác động tích cực đến nếp sống ở các làng người H’Mông

Người Hmông trước đây chi tiêu thiếu kế hoạch. Khi thu hoạch vụ mùa xong, lương thực thực phẩm chi dùng nhiều cho các nghi lễ tín ngưỡng. Bình quân 1 năm, mỗi hộ gia đình chi phí cho các nghi lễ cầu cúng sức khoẻ, chữa bệnh, làm lễ cúng ma hết 1/10 tổng thu nhập của gia đình. Nếu gia đình có người chết phải chi cho làm ma trước 1 con trâu, 3 con lợn và hàng chục con gà. Nếu làm ma khô, gia đình cũng phải giết 1 con trâu, 2 con lợn... như vậy chi phí cho đám tang rất lớn, các gia đình phải đi vay và nhiều năm sau mới trả hết nợ. Sản phẩm chăn nuôi của gia đình người Hmông trước đây chủ yếu chỉ chi dùng cho tín ngưỡng và ăn uống, không có sản phẩm đem trao đổi, buôn bán. Năm 1995, khi kinh tế du lịch chưa phát triển mạnh, cơ cấu chi tiêu của người Hmông chủ yếu chỉ đảm bảo ăn uống và tín ngưỡng. Có tới hớn 80% kinh phí chi cho việc ăn và mặc, cầu cúng, chữa bệnh. Còn các mức chi cho sinh hoạt văn hoá, y tế, giáo dục thấp, không đáng kể.

Năm 2005, điều tra tại thôn Lý Lao Chải, nếp sống chi tiêu của người Hmông đã có sự thay đổi. Trong các khoản chi cho ăn uống vẫn là khoản chi lớn nhất nhưng các khoản chi cho văn hoá, giáo dục, y tế đã nâng cao. Việc chi cho lễ nghi tín ngưỡng giảm nhiều, chỉ còn 63% kinh phí chi cho ăn, mặc, tín ngưỡng. Kinh phí chi cho giáo dục, y tế, sinh hoạt văn hoá cũng tăng lên hơn 20%. Trong đó có 16% chi cho giáo dục, học nghề mới, học tiếng Anh.

          Điều tra năm 2011, chi phí cho lương thực ở thôn Lý Lao Chải chỉ chiểm 37%, thực phẩm tăng lên 24%, giáo dục, văn hoá tăng lên 22% còn chi phí cho cầu cúng, may mặc đều giảm…

Trong nếp sống người Hmông, nếp sống ở từng gia đình có nhiều yếu tố biến đổi. Vai trò người phụ nữ được đề cao, xu hướng bình đẳng giới đang hình thành.

Du lịch tạo ra một loạt ngành nghề mới làm thay đổi mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình.Trong gia đình truyền thống, với nền kinh tế nương rẫy, vai trò người chồng, người chủ gia đình hạt nhân được đề cao.Về phân công lao động, người chồng phải đảm nhiệm toàn bộ công việc nặng nhọc của nương rẫy (làm đất, cày nương, thu hoạch, khai ruộng bậc thang), làm nghề rèn đúc, đan lát.... Trong gia đình hạt nhân, việc cày nương chỉ có người chồng đảm nhiệm. Đó là công việc không ai thay thế được. Vì vậy vai trò của người chồng, người chủ gia đình càng được đề cao. Phụ nữ ít có cơ hội được bàn bạc, quyết định các vấn đề quan trọng. Trong gia đình, từ việc làm nhà mới, bán ngựa, dựng vợ gả chồng cho con đến các việc tiếp khách, giữ tiền đều do người chồng có ý kiến quyết định. Nhưng hiện nay, phụ nữ tham gia  vào hoạt động dịch vụ du lịch khá đông. Trong số 60 gia đình được điều tra qua bảng hỏi ở Cát Cát và Lý Lao Chải có tới 46 người vợ, 9 người con gái tham gia sản xuất thổ cẩm, bán hàng rong. Thu nhập của họ khá cao. Phụ nữ tham gia dẫn khách du lịch có mức thu nhập từ 600.000 đến 800.000 đ/1tháng. Phụ nữ tham gia sản xuất thổ cẩm, bán hàng rong cũng thu nhập từ 400.000 đ đến 600.000 đ/tháng. Một người phụ nữ tham gia dịch vụ du lịch có thu nhập bằng hoặc hơn cả gia đình sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, vai trò của người phụ nữ trong gia đình được nâng cao. Du lịch góp phần quan trọng vào vấn đề bình đẳng nam nữ. Kết quả điều tra bằng bảng hỏi cho thấy ý kiến quyết định một số công việc lớn của gia đình đều do hai vợ chồng bàn bạc thống nhất.

Biểu số 4: Vai trò của các thành viên gia đình

Các thành viên

Quyền quyết định dựng nhà mới

Quyền quyết định việc cưới xin cho con

 

Tần xuất

%

Tần xuất

%

Chồng

16

26,4

8

13,3

Vợ

2

3,3

5

8,3

Cả hai vợ chồng

39

65,3

23

38,3

Người khác

2

3,3

13

21,67

Không trả lời

1

1,7

11

18,33

Tổng cộng

60

100

60

100

Có tới 65,3% cả hai vợ chồng đều thống nhất chuyện quyết định dựng nhà mới và 38,3% thống nhất chuyện cưới xin cho con cái là sự chuyển biến rất lớn đối với gia đình người Hmông. Đặc biệt, trường hợp người vợ có ý kiến quyết định, tuy còn chiếm tỷ lệ thấp, tập trung ở các gia đình hạt nhân, người vợ nhờ buôn bán có tiếng nói quyết định nhưng là dấu hiệu phản ánh vai trò của phụ nữ được nâng cao.

Trong gia đình người Hmông trước đây, chỉ có người chồng mới có quyền giữ tiền. Nhưng hiện nay, đã xuất hiện một số trường hợp người vợ quản lý tiền hoặc xu hướng chung là cả vợ và chồng đều có tiền riêng, đều quản lý tiền.

Biểu số 5:  Quản lý tiền của các thành viên

Người quản lý tiền

Tần xuất

%

Chồng

26

43,3

Vợ

7

11,7

Cả hai vợ chồng

24

40,5

Người khác

3

5

Tổng cộng

60

100

Đặc biệt, trong xã hội truyền thống người vợ đóng vai trò đối nội, đảm đang việc nhà, nội trợ, chăm sóc chồng con. Nhưng hiện nay, người vợ cũng tham gia các công việc “đối ngoại”. Có từ 40 đến 48% phụ nữ làng Cát Cát đi họp thôn thay chồng, 37% phụ nữ tiếp khách khi khách đến nhà. Có 75% phụ nữ đều bàn với chồng về  các công việc công ích của làng xã. Như vậy, người phụ nữ Hmông tham gia các hoạt động du lịch, mở rộng sự giao tiếp hiểu biết đã dần thoát khỏi sự đóng khung trong không gian hạn hẹp của gia đình mà đã vươn tới không gian xã hội.

Du lịch tác động đến quan hệ cộng đồng làng về nhiều mặt kinh tế, văn hoá, xã hội. Trong xã hội nông nghiệp, cư dân thuần nông, vai trò của già làng được đề cao, già làng đóng vai trò quyết định trong một số quan hệ của làng như việc chuyển làng di cư, bầu trưởng làng, tổ chức các nghi lễ chung của làng.... Nhưng hiện nay, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xuất hiện hàng loạt giống cây mới, cây con mới, kỹ thuật gieo trồng mới cũng như kinh nghiệm bán hàng, giao tiếp khách hàng phức tạp diễn ra hàng ngày đôi khi phải cập nhật thông tin, tiếp cận thông tin mới. Những già làng ít có điều kiện tiếp cận (ít giao tiếp với xã hội và hệ thống thông tin đại chúng, ít quan hệ với khách du lịch....). Việc tiếp cận thông tin mới hầu hết do lớp trẻ đảm nhiệm. Do đó, vai trò của già làng trong các làng làm dịch vụ du lịch giảm sút. Lớp trẻ ít tham khảo kinh nghiệm của người già (vì người già ít tiếp cận thông tin mới).

Ngược lại với vai trò của già làng, vai trò của trưởng làng được đề cao hơn trước rất nhiều. Làng người Hmông trong xã hội nông nghiệp thuần tuý bình lặng, khép kín, việc công của làng không nhiều. Mỗi năm trưởng làng chỉ triệu tập hội nghị toàn thể dân làng vào ngày Thìn tháng Giêng làm lễ ăn uớc “Nào xồng”, kiểm điểm các công việc của làng, thông qua quy ước chung của làng. Nhưng hiện nay, âm hưởng cuộc sống sôi động thường xuyên dội xuống làng. Nếp sống tĩnh lặng của làng bị phá vỡ. Với việc xây dựng làng thành các điểm du lịch, với việc thực hiện các dự án làm đường giao thông liên thôn, trồng rừng, lập các tổ sản xuất phục vụ du lịch.... đòi hỏi sự điều hành của trưởng làng, sự tham gia của toàn dân làng ngày càng lớn. Trưởng làng phải tổ chức các cuộc họp chung dân làng thường xuyên nhằm bàn bạc phân công dân làng tham gia các chương trình dự án.

Làng ở vùng du lịch, trở thành điểm du lịch cũng xuất hiện các kiểu tập hợp người khác với làng cổ truyền. Ở đây xuất hiện các tổ sản xuất thổ cẩm, tổ du lịch xe ôm, nhóm những người tham gia bán hàng rong, trồng hoa.... Các nhóm người này thời kỳ đầu hình thành tự phát nhưng dần dần do nhu cầu cạnh tranh của thị trường, do nhu cầu tiếp cận vốn tài trợ, đầu tư cũng như tiêu thụ sản phẩm đã hình thành các tổ chức có bộ máy điều hành như tổ thêu dệt thổ cẩm ở Cát Cát, Tả Phìn, tổ trồng hoa ở làng Má Cha, tổ hướng dẫn khách du lịch ở Cát Cát, đội văn nghệ ở làng Cát Cát, làng Sín Chải xã San Sả Hồ huyện Sa Pa... Các tổ chức này làm phong phú thêm kết cấu của thiết chế làng. Sự vận hành của các tổ chức này trong một làng người Hmông vừa là vấn đề phức tạp nhưng cũng là vấn đề tích cực củng cố sự cố kết của làng. Quan hệ cộng đồng làng về kinh tế, văn hoá, xã hội cũng không ngừng được đề cao.

II. Tác động tiêu cực của du lịch đến các làng người Hmông ở Sa Pa

1. Bên cạnh các yếu tố tác động tích cực đến các làng người Hmông, du lịch còn một số ảnh hưởng tiêu cực. Trước hết, du lịch là nhân tố quan trọng gây ra tình trạng bất bình đẳng về thu nhập ngày càng cao giữa người Hmông và các dân tộc khác

Mỗi năm có hơn 200.000 lượt khách du lịch đến Sa Pa, doanh thu từ du lịch ở Sa Pa từ 350 đến 600 tỷ đồng. Nhưng nguồn thu này chủ yếu tập trung vào các hãng lữ hành, các công ty du lịch, khách sạn ở Hà Nội và thị trấn Sa Pa. Điều tra năm 2010 có tới 51% số khách nước ngoài mua tour từ các công ty lữ hành quốc gia họ. Do đó nguồn thu của các công ty nước ngoài cũng chiếm tỷ lệ khá lớn. Khi đến Sa Pa, du khách phải chi nhiều nhất cho dịch vụ ăn nghỉ, ở khách sạn, vận chuyển đi lại. Còn mua hàng thủ công chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Nhằm thu được nhiều nguồn lợi, hơn nữa do các nhóm du lịch quá đông nên các hãng lữ hành, các công ty du lịch thường xây dựng tuyến treking 1 ngày, không để du khách ngủ qua đêm  ở bản làng. Trong tháng 8 năm 2006, có 1.179 nhóm du lịch với tổng số 4.572 lượt khách đi tham quan các bản làng, nhưng có tới 729 nhóm và 2.927 người đi trong 1 ngày. Năm 2005, có 55.501 du khách nước ngoài đến bản làng thì có tới 37.877 người đi trong ngày, không ngủ ở bản làng, chiếm tỷ lệ 68,2% số du khách. Không ngủ tại làng bản, đồ ăn của du khách cũng mang theo nên người dân ở các bản làng không có thu nhập gì ngoài việc bán một số đồ uống, hàng thủ công cho du khách. Đặc biệt ở hầu hết các làng Hmông trở thành điểm du lịch lại chưa có dịch vụ nghỉ tại làng nên nguồn thu của người Hmông từ du lịch rất thấp so với người Tày, người Dao. Điều tra năm 2011, bình quân 1 hộ gia đình người Kinh ở thị trấn tham gia kinh doanh du lịch một năm thu nhập từ 100 triệu đồng đến 250 triệu đồng. Người Dao ở Tả Phìn thu nhập từ 11 đến 15 triệu đồng/1hộ còn người Hmông ở Lao Chải chỉ thu nhập từ 8 đến 10 triệu đồng/1hộ. Như vậy mức thu nhập bình quân từ du lịch của người Kinh cao gấp từ 12 đến 25 lần người Hmông. Còn người Giáy ở Tả Van có mức thu nhập từ du lịch cao gấp 3 đến 5 lần người Hmông. Người Dao cũng thu nhập từ du lịch cao hơn từ 1,3 đến 1.5 lần người Hmông. Như vậy, so với các dân tộc khác, người H’Mông là cộng đồng chỉ được hưởng lợi rất thấp từ du lịch. Hầu hết các dịch vụ, các nguồn thu đều do ngành du lịch từ nơi khác đến quản lý. Còn người H’Mông cũng nhu đa số người địa phương ở Sa Pa - những chủ nhân của nguồn lực du lịch bản làng lại bị gạt ra ngoài lề của vòng quay du lịch. Ngay từ thập kỷ 90, khi du lịch mới bắt đầu phát triển ở Sa Pa, tổ chức IUCN đã cảnh báo Sa Pa chỉ là nơi cung cấp dịch vụ, xây dựng cơ sở hạ tầng còn các doanh nghiệp bên ngoài thu lợi nhuận[2]. Hiện nay, tình trạng này vẫn diễn ra khá gay gắt.

2. Du lịch đã tác động mạnh mẽ đến phân công lao động trong xã hội người Hmông, xuất hiện một số ảnh hưởng tiêu cực như tệ nạn trẻ em lang thang bỏ học và phụ nữ bán hàng rong bám đuổi du khách

Trẻ em ở các làng người Hmông là điểm du lịch không đi học hoặc bỏ học nhiều hơn các làng không nằm trong tuyến du lịch. Làng Séo Mí Tỉ nằm trên sườn núi Phan Xi Păng, tỷ lệ trẻ em đến tuổi không đi học chỉ chiếm 17,8% nhưng ở xã Lao Chải, điều tra vào đầu tháng 10 - 2005 có tới 49,6% số học sinh từ 6 đến 14 tuổi không đến lớp học. Trong đó số học sinh nữ đi học cấp I chỉ chiếm 45% số học sinh nữ đi học cấp II chỉ còn 33,5%[3]. Nguyên nhân chủ yếu là các em học sinh cấp II, nhất là học sinh nữ là lực lượng chủ lực tham gia đội quân bán hàng cho khách du lịch. Nguồn thu từ việc phục vụ du khách khá hấp dẫn nên càng kích thích các em bỏ học, giảm tỷ lệ chuyên cần ở các lớp có học sinh lớn.

Như vậy, điều tra ở xã Lao Chải nhận thấy tỷ  lệ chuyên cần học sinh rất thấp, trung bình trong tuần chỉ đạt 67,9%. Điều đặc biệt là thứ 7 cuối tuần và thứ hai đầu tuần tỷ lệ học sinh chuyên cần thấp nhất, chỉ đạt trung bình 57,2% toàn trường. Trong đó, học sinh từ lớp 4 đến lớp 8 (lứa tuổi bán hàng rong), cứ đến thứ 7 và thứ hai bỏ học nhiều nhất, có lớp chỉ có 33,3 % số em đi học (lớp 8) vào thứ 7. Ngày thứ 7 cuối tuần và thứ hai đầu tuần là những ngày có đông du khách đến thị trấn và đến Lao Chải. Do đó các em bỏ học nhiều để đi bán hàng rong, tăng thêm thu nhập cho gia đình.

Tình trạng học sinh bỏ học, lang thang trên thị trấn Sa Pa xuất hiện từ giữa thập kỷ 90 của thế kỷ 20[4]. Chính quyền các cấp ở Sa Pa đã có nhiều cố gắng giải quyết vấn đề này. Hội phụ nữ, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh của huyện  Sa Pa được một số tổ chức phi chính phủ tài trợ kinh phí lập các dự án đào tạo việc làm, mở lớp học cho các em. Tuy nhiên, hiện tượng các em bỏ học bán hàng rong lang thang ở các điểm du lịch, ở các thị trấn vẫn tồn tại khá phổ biến.

Số phụ nữ bán hàng rong, đeo bám khách cũng diễn ra thường xuyên ở mọi địa điểm du khách tham quan. Hiện tượng chèo kéo, ép mua đồ lưu niệm thường xuyên xảy ra. Vào ngày thứ 7, chủ nhật có tới gần 200 phụ nữ, trẻ em các làng người Hmông đổ về thị trấn bán hàng rong. Ở các làng Tả Van, Lao Chải, Bản Phố cũng có tới 30 đến 40 phụ nữ chéo kéo khách mua đồ thổ cẩm. Hiện tượng chèo kéo này du khách rất phản đối, gây ảnh hưởng tiêu cực đến vấn đề phát triển du lịch và đời sống văn hoá các làng người Hmông.

3. Du lịch tác động tiêu cực đến đời sống văn hoá người Hmông.

Nhiều di sản văn hoá vật thể và phi vật thể truyền thống bị biến dạng, nghèo nàn hoặc bị “đóng giả”, lợi dụng phục vụ mục đích “thương mại hoá”, tạo nhiều nguồn thu. Điển hình là du khách ồ ạt đến xem các sinh hoạt giao duyên của trai gái Hmông, Dao tối thứ 7 khiến cho các sinh hoạt giao duyên biến mất. Chợ phiên ở vùng cao không chỉ là nơi trao đổi hàng hoá mà còn là nơi giao lưu tình cảm. Chợ là nơi gặp mặt của tình yêu. Người Hmông ở Sa Pa đi chợ phải đi từ chiều hôm trước. Buổi tối trước phiên chợ là ngày hội của nam nữ thanh niên. Họ thổi sáo, gẩy đàn môi, hát giao duyên. Nhưng từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, dòng người du lịch ồ ạt đổ về xem sinh hoạt “chợ tình”. Những tình cảm sâu kín của nam nữ thanh niên luôn bị chụp ảnh, quay phim, hoặc trở thành một trò vui kỳ lạ cho du khách. Sinh hoạt giao duyên buổi tối trước hôm chợ không còn diễn ra ở thị trấn. Trước nhu cầu của du khách, một số người đóng giả sinh hoạt văn hoá giao duyên bằng múa khèn, thổi sáo. Các sinh hoạt này mang nặng tính chất thương mại, trở thành một sản phẩm làm giả để thu tiền.

Người Hmông có nghề thổ cẩm tinh xảo. Một tấm thổ cẩm được sản xuất phải qua nhiều công đoạn dệt, nhuộm, tạo hoa văn công phu. Dệt xong tấm vải lanh, người Hmông phải nhuộm từ 12 đến 15 lần mới tạo thành tấm vải bền màu. Nhưng muốn tạo sự láng bóng của vải, người Hmông còn phải bôi sáp ong lên vải và lăn trên phiến đá. Người lăn đứng trên phiến đá dùng chân day đi day lại, cho đến khi vải mềm, ánh bóng màu tím than. Tạo được vải, phụ nữ Hmông còn phải áp dụng cả ba thủ pháp nghệ thuật in sáp ong, thêu, ghép vải tạo hoa văn. Các mẫu hoa văn truyền thống giàu tính biểu tượng phản ánh cả tín hiệu văn hoá tộc người, lịch sử di cư. Nhưng hiện nay, do nhu cầu cần “nhanh, nhiều, rẻ” nên người Hmông dùng máy khâu thêu hoa văn. Các mô típ hoa văn đơn giản đã thay thế hoa văn đặc sắc cổ truyền. Vì vậy giá trị nghệ thuật trong thổ cẩm Hmông bị mai một, đứt đoạn với truyền thống. Các hoạ tiết hoa văn giàu tính biểu tượng đã nhường chỗ cho các hoa văn đơn giản loè loẹt phổ biến khắp từ Côn Minh Vân Nam Trung Quốc đến Hà Nội. Bản sắc nghệ thuật thổ cẩm Hmông đang có nguy cơ suy tàn, kho tàng hoa văn thổ cẩm Hmông ở Sa Pa không còn nét độc đáo, mất tín hiệu văn hoá tộc người.

Tương tự như vậy, các sản phẩm thủ công như chạm khắc bạc, làm đỗ gỗ, làm nhạc cụ .... cũng chạy theo số lượng, làm sản phẩm kém chất lượng, thậm chí còn là đồ giả bán cho du khách. Điển hình nhất là các đồ trang sức bằng bạc được thay thế bằng nhôm. Thậm chí, ở nhiều làng, người Hmông không làm đồ chạm khắc bạc mà đi mua đồ trang sức của người Kinh ở miền xuôi đem bán kiếm lời. Nhưng nguy cơ đứt đoạn văn hoá, đánh mất bản sắc văn hoá dân tộc còn diễn ra nghiêm trọng khi một bộ phận người Hmông qua sự tuyên truyền của du khách chối bỏ tín ngưỡng truyền thống theo đạo Tin lành. Đạo Tin lành theo bước chân của du khách len lỏi đến các làng người Hmông Sa Pa dẫn đến tình trạng gây mất ổn định trong một làng, một dòng họ. Mâu thuẫn giữa người theo đạo với người theo tín ngưỡng cổ truyền liên tiếp xảy ra ở khắp các làng Hmông gắn với các điểm du lịch.

III. Một số định hướng và giải pháp

1. Phát triển du lịch Sa Pa theo nguyên tắc phát triển bền vững 

Sa Pa như một cố thôn nữ khi chưa trở thành hoa hậu còn mang nhiều vẻ đẹp riêng của núi rừng đầy sức quyến rũ các chàng trai ở mọi miền. Nhưng hiện nay cô gái Sa Pa sau khi được quảng bá, sau khi đoạt vương miện hoa hậu thì vẻ đẹp tự nhiên đang có xu hướng biến mất. Vì vậy phát triển du lịch bền vững nhằm mục đích bảo vệ vẻ đẹp riêng cho Sa Pa, mang lại lợi ích hài hòa cho người dân Sa Pa.

          Khái niệm phát triển bền vững là khái niệm được trình bày trong báo cáo có tên gọi Báo cáo Brundtland. Khái niệm nêu rõ: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn các yêu cầu thế hệ hiện tại nhưng không tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng các yêu cầu của chính họ”. Phát triển bền vững cũng đề cập đến  trụ cột là môi trường, xã hội và kinh tế. Tổ chức du lịch thế giới (2001) cũng xây dựng nguyên tắc bền vững trong du lịch. Bao gồm 3 yếu tố là Môi trường, kinh tế, văn hóa xã hội:

- Du lịch sẽ sử dụng và phát huy hiệu quả nhất các nguồn lực về môi trường, duy trì các quy trình sinh học quan trọng và giúp bảo tồn các nguồn tài nguyên tự nhiên và đa dạng sinh học

- Tôn trọng bản sắc văn hóa của cộng đồng địa phương, bảo tồn di sản văn hóa và các giá trị truyền thống

- Phân phối công bằng, hài hòa lợi ích kinh tế - xã hội cho tất cả các bên tham gia vào du lịch, góp phần giảm nghèo

          Vận dụng khái niệm phát triển bền vững vào công tác quản lý nhà nước về du lịch ở Sa Pa, chúng tôi thấy cần phải xây dựng một số nguyên tắc, tiêu chí cụ thể về phát triển du lịch. Trước hết, về quan hệ giữa du lịch với môi trường, mọi hoạt động từ việc quy hoạch, xây dựng, quảng bá... các sản phẩm du lịch Sa Pa đều gắn chặt với tiêu chí bảo vệ môi trường. Sa Pa có đỉnh núi cao Phanxipăng, có vườn quốc gia Hoàng Liên, có nhiều dòng suối, chi lưu của sông Hồng... bảo vệ môi trường ở Sa Pa là bảo vệ nóc nhà của Tổ quốc. Nguyên tắc này đòi hỏi các cấp chính quyền, các nhà hoạch định chính sách kinh tế xã hội, các Doanh nghiệp, các du khách và người dân phải tôn trọng. Đây là vấn đề khó và phức tạp. trong quá trình đô thị hóa Sa Pa cần có tiêu chí cụ thể khi xây dựng các nhà hàng khách sạn phải bảo vệ được tầm nhìn, ban công hướng ra dãy Hoàng Liên... Trong phát triển các ngành kinh tế khi đã xác định Sa Pa là vùng du lịch trọng điểm quốc gia, cần có chính sách ưu tiên phát triển du lịch và hạn chế phát triển các lĩnh vực kinh tế ảnh hưởng đến môi trường như thủy điện, khai khoáng... Thậm chí dự án xây dựng cáp treo lên đỉnh Fansipan cũng cần có sự tham gia phản biện, đánh giá tác động với môi trường của các nhà khoa học.

Trong quá trình đô thị hóa, toàn cầu hóa, lượng khách du lịch đổ về Sa Pa rất đông, mỗi năm xấp xỉ 600 ngàn lượt người của 87 quốc tịch khác nhau cũng ảnh hưởng đến vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc. Vì vậy, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, tôn trọng sự đa dạng văn hóa tộc người là vấn đề quan trọng. Nhưng vấn đề bảo tồn bản sắc tộc người cần diễn ra ở môi trường cuộc sống của cộng đồng. Mỗi di sản văn hóa, mỗi một lễ hội , phong tục tập quán chỉ có thể được bảo vệ bền vững ở môi trường sống của cộng đồng.

Chủ nhân của tài nguyên du lịch Sa Pa là cộng đồng các dân tộc Hmông, Dao, Tày, Giáy, Xa Phó, Kinh, Hoa. Vì vậy muốn phát triển du lịch bền vững, một vấn đề rất quan trọng là phải phân phối công bằng các nguồn lợi kinh tế từ ngành du lịch đem lại cho các bên liên quan. Nhưng thực trạng ở Sa Pa hiện nay, ngoài một số điểm du lịch cộng đồng người dân đã có thu nhập như Tả Phìn, Tả Van, Bản Dền còn hầu hết các điểm tham quan du lịch, đồng bào dân tộc thiểu số ít được hưởng lợi. Khách du lịch đến chụp ảnh, quay phim, tham quan nhưng không ở lại nhà người dân, không mua sản phẩm của dân (thậm chí chai nước khoáng, lát bánh mì cũng do các doanh nghiệp cung cấp). Ngay những điểm du lịch cộng đồng, các doanh nghiệp cũng tự làm giá, thậm chí bắt chẹt người dân. Có điểm du lịch mỗi một tháng đón hàng vạn lượt khách nhưng chỉ trả cho người dân chưa đến 10% tổng doanh thu của doanh nghiệp. Vì vậy, nguyên tắc phân phối công bằng trong kinh doanh du lịch phải trở thành nguyên tắc quan trọng, tiêu chí để phát triển du lịch bền vững.

2. Phát triển du lịch bền vững ở Sa Pa phải xây dựng và thực thi hàng loạt chính sách nhằm nâng cao vai trò của cộng đồng người dân địa phương (cộng đồng các làng Hmông)

Chính quyền các cấp ở Lào Cai và Sa Pa phải trao quyền cho các làng người Hmông tham gia quá trình xây dựng kế hoạch (dự án) và đề ra các quyết định về quản lý du lịch, phát triển du lịch tại địa phương có sự tham gia của các tổ chức tư vấn và thành phần hữu quan khác. Đồng thời người Hmông ở các “giao” cũng phải được tham gia cung cấp các dịch vụ du lịch như dịch vụ ăn nghỉ, giải trí, mua bán.... cho du khách. Ở đây đòi hỏi có các chính sách điều tiết cụ thể:

- Chính sách bắt buộc phải sử dụng nguồn nhân lực tại các làng người H’Mông: đào tạo các hướng dẫn viên, thuyết minh viên, các nhân viên phục vụ nhà nghỉ tại các làng Hmông.

- Chính sách xây dựng quỹ hỗ trợ phát triển du lịch bền vững mà đối tượng hưởng lợi trực tiếp là cộng đồng cư dân địa phương tham gia du lịch.

- Chính sách điều tiết hưởng lợi bằng nguồn thuế, lệ phí cho các điểm du lịch ở các làng bản... Trao quyền quản lý thu lệ phí ở Cát Cát, Tả Phìn, Cầu Mây cho cộng đồng địa phương. Công ty cổ phần ở Cát Cát cần tăng tỷ lệ được hưởng lợi của người dân lên từ 50% đến 70% chứ không quá thấp như hiện nay.

3. Xây dựng các sản phẩm du lịch của người Hmông phải mang dấu ấn đặc trưng của Sa Pa 

          Hiện nay, du lịch miền núi ở Việt Nam đều có các sản phẩm na ná giống nhau. Hàng thổ cẩm ở bất cứ một điểm du lịch nào đều bán chung lẫn lộn giữa thổ cẩm của cư dân bản địa với thổ cẩm của các dân tộc ở Trung Quốc và Thái Lan. Sản phẩm thủ công của Trung Quốc, Thái Lan đôi khi còn lấn át sản phẩm thổ cẩm của các dân tộc. Ở khắp vùng Tây Bắc, đến thăm các điểm du lịch cộng đồng các du khách thường được ngủ nhà sàn, ăn món ăn người Thái, người Mường. Ở các điểm du lịch này có các chương trình biểu diễn văn nghệ giông giống nhau vì đều do các biên đạo học ở các trường Nghệ thuật dàn dựng. Vì vậy các làng người Hmông ở Sa Pa phải tạo ra sản phẩm riêng mang bản sắc Sa Pa. Sản phẩm du lịch Sa Pa bắt nguồn từ tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn. Tài nguyên du lịch tự nhiên của Sa Pa đa dạng, phong phú với nhiều cảnh quan, loại hình sinh thái khác nhau. Do đó, có thể xây dựng các sản phẩm riêng như xây dựng các điểm, tuyến du lịch leo núi, trải nghiệm, chiêm ngưỡng cảnh quan môi trường độc đáo như cảnh quan vùng ruộng bậc thang, vùng thung lũng núi cao, sơn nguyên với nhiều kiểu rừng khác nhau từ chân núi lên đến đỉnh Fansipan... Sa Pa là một huyện có 6 dân tộc cư trú tập trung sinh sống như người Hmông, Dao, Tày, Giáy, Xa Phó, Kinh nhưng đông nhất là người Hmông. Cũng vì ảnh hưởng của cảnh quan môi trường nên bản sắc văn hóa của các tộc người cùng một dân tộc ở Sa Pa khác các vùng khác. Phụ nữ người Hmông ở các nơi mặc váy nhưng phụ nữ Hmông ở Sa Pa mặc quần. Nhà cửa người Mông ở Mường Khương, Bắc Hà là nhà tường trình bằng đất nhưng ở Sa Pa lại lợp gỗ pơ mu và tường bằng gỗ...Văn hóa ruộng bậc thang Sa Pa đan xen nhiều kiểu ứng xử của Hmông, Dao, Giáy, Tày nên khác hẳn với ruộng bậc thang của Mù Căng Chải (chủ yếu của người Hmông) hoặc với ruộng bậc thang Nguyên Dương (Vân Nam, Trung Quốc) mà chủ nhân là người Hà Nhì. Tính đa dạng trong tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn sẽ góp phần làm nên bản sắc sản phẩm du lịch Sa Pa.

          Nhưng muốn xây dựng sản phẩm du lịch ở Sa Pa cần giải quyết những vấn đề quan trọng như : quan hệ giữa di sản văn hóa và tài sản (tài nguyên) du lịch như thế nào ? Những di sản văn hóa nào có thể trở thành tài sản của du lịch, trở thành sản phẩm của du lịch? Còn những tài nguyên du lịch phải bảo tồn nguyên vẹn, không được “chế biến” thành sản phẩm du lịch như nhiều vùng khác đã làm. Liệu có thể tạo sản phẩm du lịch bằng việc đóng giả lễ cưới, đóng giả lễ hội mãi được không ? Liệu có thể sản xuất thổ cẩm chiều theo thị hiếu du khách như kiểu hàng thổ cẩm của người Thái Lan, của Trung Quốc mãi được không ? Những nghi lễ nào có thể cho du khách tham quan, trải nghiệm, còn nghi lễ nào phải bảo tồn, chống việc giải thiêng ? Mặt khác, về cơ chế chính sách phân phối lại thu nhập cho người dân tham gia xây dựng sản phẩm du lịch ra sao? Có giải pháp nào phát triển sản phẩm du lịch thu hút được đông đảo người dân bản địa tham gia? Chỉ khi nào người dân bản địa chủ động tham gia vào sản xuất các sản phẩm du lịch và được hưởng lợi công bằng từ thu nhập du lịch thì lúc đó du lịch mới phát triển bền vững. Cơ quản quản lý nhà nước xây dựng chính sách nhằm khuyến khích người dân bản địa tham gia vào du lịch cộng đồng, tham gia vào việc tạo sản phẩm du lịch.

4. Xây dựng mô hình các làng du lịch văn hoá trở thành điểm du lịch hấp dẫn của người Hmông Sa Pa

Làng văn hoá là một mô hình của một điểm du lịch có tài nguyên du lịch nhân văn và tự nhiên, được tổ chức khai thác phục vụ du khách theo hướng phát triển du lịch bền vững. Ở Sa Pa hiện nay có 61 làng người Hmông, trong đó có 11 làng có khả năng xây dựng làng du lịch văn hoá như Cát Cát, Sín Chải, Lý Lao Chải, Lồ Hàng Chải, Hang Đá, Tả Van Hmông, Séo Mí Tỉ, Giàng Tả Chải, Thải Giàng Phình, Sử Pán, Ý Lình Hồ. Xây dựng các làng Hmông thành các làng du lịch văn hoá cần một số điều kiện cụ thể:

- Làng du lịch văn hoá phải là làng có các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể mang tính đặc trưng tộc người, độc đáo và hấp dẫn du khách.

- Làng du lịch văn hoá phải có cảnh quan, môi trường sạch đẹp.

- Làng du lịch văn hoá phải có cơ sở hạ tầng thuận lợi, có khả năng phục vụ du khách tham quan và nghỉ lưu trú qua đêm.

Từ những điều kiện như vậy, cần nghiên cứu các di sản văn hoá tộc người xây dựng thành các sản phẩm du lịch, các dịch vụ du lịch. Mỗi một làng cần nghiên cứu sự độc đáo trong tài nguyên du lịch nhân văn, tài nguyên tự nhiên xây dựng các hoạt động phục vụ du lịch, cụ thể:

- Khôi phục các làng nghề thủ công truyền thống như thêu dệt, in sáp ong, ghép vải hoa văn tạo ra các sản phẩm thổ cẩm mới, nghề chạm khắc bạc, nghề thêu rèn đúc, nghề làm đồ mộc gia dụng, đan lán.... Đồng thời các điểm sản xuất, nghề thủ công cũng trở thành điểm trình diễn, điểm tham quan của du khách. Các sản phẩm này được bày bán ngay tại các cơ sở sản xuất (các hộ gia đình), vừa xoá bỏ nạn bán hàng rong ở thị trấn, vừa thu hút du khách về làng.

- Tổ chức các dịch vụ do dân làng tham gia như dịch vụ leo núi, dịch vụ hướng dẫn viên bản địa, xây dựng các nhà nghỉ cộng đồng, phòng nghỉ đảm bảo yêu cầu vệ sinh, sạch đẹp tại gia đình, tổ chức các dịch vụ ăn uống giới thiệu văn hoá ẩm thực...

- Bảo tồn tôn tạo các di sản văn hoá vật thể, các cảnh quan phục vụ du khách tham quan như các khu rừng thiêng, kiến trúc nhà cửa, khu ruộng bậc thang, rừng thảo quả, nương trồng lanh, dòng suối v.v....

- Khôi phục và bảo tồn các di sản văn hoá phi vật thể, chú trọng tổ chức các lễ hội, các sinh hoạt văn hoá cộng đồng theo đúng thời điểm truyền thống, quảng bá du khách.

          - Xây dựng các đội văn nghệ dân gian phục vụ du khách.

Du lịch đã tác động mạnh mẽ đến các làng “giao” người Hmông ở Sa Pa. Du khách không chỉ tác động đến đời sống kinh tế mà còn ảnh hưởng cả nếp sống văn hoá, đến vai trò của dòng họ, của bộ máy quản lý các làng Hmông[5]. Du lịch có ảnh hưởng tích cực, tăng nguồn thu cho người dân, góp phần xoá đói giảm nghèo, đề cao ý thức tự hào bản sắc văn hoá tộc người.... Nhưng du lịch cũng gây nên sự bất bình đẳng giữa thị trấn và nông thôn, sự hưởng lợi của dân làng Hmông rất ít.... Đồng thời hàng loạt các vấn đề xã hội như trẻ em bỏ học lang thang, phụ nữ bán hàng rong chèo kéo khách ... cũng xảy ra khá phổ biến. Trước thực trạng đó cần xây dựng định hướng và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Sa Pa. Người Hmông (cũng như các cộng đồng dân cư địa phương khác) phải là người chủ nhân thực sự của du lịch./.

Các làng Hmông Sa Pa trước đây như một cô thôn nữ xinh đẹp, có vẻ đẹp hồn nhiên của núi rừng. Nhưng hiện nay, cô thôn nữ đã trở thành hoa hậu thì biết bao vấn đề đang đặt ra. Chúng tôi rất sợ, cô thôn nữ đó từ giao tiếp nói năng cho đến trang điểm cũng mang vẻ đẹp của hoa hậu toàn cầu mà mất đi cái chất “chân quê”, vẻ đẹp tự nhiên của sơn nữ. Chúng tôi hi vọng hoa hậu Sa Pa vẫn mang được vẻ đẹp riêng của người đẹp núi rừng.

 


[1] Trần Hữu Sơn – Xây dựng đời sống văn hóa ở vùng cao – NXB Văn hóa Dân tộc – Hà Nội 2004 – Trang 52

[2] IUNC – 1998 – Tuyển tập báo cáo Hội thảo kế hoạch du lịch cộng đồng Sa Pa

[3] Số liệu điều tra ở trường cấp I, II Lao Chải vào thời gian từ 29/9 đến 12/10 năm 2005

[4] Phạm Quỳnh Dương – Du lịch Sa Pa, hiện trạng và những thách thức – Tạp chí Văn hóa dân gian số 1/1997 – Trang 62

[5] Trần Thùy Dương – Giao thông đường sắt với một số vấn đề về đô thị hóa và văn hóa tộc người – Tạp chí Dân tộc học số 4/2011 – Trang 22

Bạn đang đọc bài viết "Văn hóa dân gian ứng dụng- Kỳ 9" tại chuyên mục Nghiên cứu. | Hotline: 08.4646.0404