Đặng Nghiêm Vạn – Người đi tìm những mạch nguồn văn hóa Việt Nam

Trong lịch sử dân tộc học và tôn giáo học Việt Nam, Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn thuộc lớp người mở đường. Từ công việc dạy học ở miền núi đến nghiên cứu các tộc người, từ những chuyến đi thực địa đến những cuộc tranh luận về đời sống tín ngưỡng, ông theo đuổi một câu hỏi lớn: cộng đồng Việt Nam được hình thành, gắn bó và gìn giữ bằng những sức mạnh văn hóa nào? Cuộc đời ông cho thấy một cách phụng sự đất nước bằng sự hiểu biết sâu sắc về con người.
843023628-1085273417599704-6670671249709003141-n-1791537424.jpg

1. Một tuổi trẻ giữa sách vở và kháng chiến

Đặng Nghiêm Vạn sinh năm 1930. Gia phả họ Đặng thôn Cự Đình, chi cụ Kham, ghi ngày sinh của ông là 25/5/1930, nơi sinh ở Vạn Hoa, Cát Bà; thuở nhỏ sống tại Hòn Gai, sau về Hà Nội. Ông học trường Bưởi, tham gia Việt Minh từ tuổi thiếu niên rồi đi kháng chiến. Những chặng đường ấy đặt cuộc trưởng thành của ông giữa hai nguồn ảnh hưởng: truyền thống học hành của gia đình và những biến động lớn của đất nước.

Trong cuộc trò chuyện được ghi lại vào tháng 9/2009, ông nhắc đến người cha làm việc ở bưu điện và tủ sách gia đình, nơi các con được khuyến khích đọc tài liệu tiếng Pháp. Người cha còn căn dặn đọc các bộ sách đầy đủ để hiểu tác giả, thay vì chỉ tiếp nhận những phần được chọn sẵn. Chi tiết ấy gợi một nền nếp học hành coi trọng công sức đọc, sự kiên nhẫn và khả năng tự xét đoán.

Tủ sách trong một gia đình có thể âm thầm nuôi dưỡng cả một cuộc đời. Một đứa trẻ bước vào sách trước hết bằng sự tò mò; người nghiên cứu trở lại sách bằng những câu hỏi ngày càng khó. Giữa hai thời điểm ấy là quá trình học cách không bằng lòng với điều mình biết. Đọc thêm một trang cũng có thể làm lung lay một ý kiến đã tưởng là chắc chắn.

Ở Đặng Nghiêm Vạn, con đường học vấn còn đi qua công việc đứng lớp. Theo tư liệu gia phả, từ đầu những năm 1950 ông tham gia giảng dạy, rồi đảm nhiệm công việc ở Trường Sư phạm miền núi Trung ương. Trước khi trở thành người nghiên cứu các cộng đồng, ông đã là người thầy của học sinh miền núi. Cuộc gặp gỡ với các tộc người vì thế bắt đầu bằng những con người cụ thể, với tiếng nói, nhu cầu học tập và tương lai của họ.

2. Từ nhà giáo miền núi đến người nghiên cứu dân tộc học

Cuối những năm 1950, Đặng Nghiêm Vạn sang Liên Xô, học tập tại Đại học Tổng hợp Quốc gia Lomonosov. Tư liệu về ông cho biết dự định ban đầu gắn với giáo dục miền núi, nhưng hướng đào tạo sau đó chuyển sang dân tộc học. Dưới sự hướng dẫn của học giả S. A. Tokarev, ông lựa chọn nghiên cứu người Thái và những cộng đồng gần gũi về ngôn ngữ, văn hóa.

Một sự thay đổi nghề nghiệp có thể mở ra những khả năng mà chính người trong cuộc chưa hình dung hết. Với nhà giáo từng làm việc giữa học sinh nhiều dân tộc, dân tộc học đem lại phương pháp để tổ chức lại những trải nghiệm đã có: quan sát, đặt câu hỏi, đối chiếu tư liệu và nhận diện các quan hệ xã hội. Điều quen thuộc trong đời sống bắt đầu trở thành một vấn đề cần giải thích.

Lời khuyên của người thầy Nga, được các bài viết về ông nhắc lại, liên quan đến việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu: người mới vào nghề cần cảnh giác với sự thiên lệch khi nghiên cứu chính cộng đồng của mình. Yêu mến một nền văn hóa không tự động đem lại hiểu biết chính xác về nền văn hóa ấy. Có những điều ta tưởng đã hiểu chỉ vì đã nhìn thấy từ nhỏ; có những tập quán ta dễ bênh vực trước khi tìm hiểu đầy đủ.

Đó cũng là bài học cần thiết cho người viết lịch sử, người sưu tầm văn hóa hay người biên soạn gia phả. Tình cảm là động lực quý, nhưng một nhận định vẫn phải chịu sự kiểm tra của bằng chứng. Khi tìm được tư liệu trái với điều mình mong muốn, người nghiên cứu phải đủ bình tĩnh để đọc tiếp. Chính khả năng tự sửa mình giúp một công trình có cơ hội đứng vững lâu hơn sự hào hứng ban đầu.

3. Những trang nghiên cứu mở lối vào xã hội Thái

Năm 1963, Đặng Nghiêm Vạn trở về giảng dạy tại Khoa Lịch sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Hồ sơ do Đại học Quốc gia Hà Nội công bố ghi thời gian ông công tác tại trường là 1963–1967. Danh mục nghiên cứu của ông có các bài về nhóm ngôn ngữ Tày–Thái, sự thiên di của người Thái, hoạt động của Hoàng Công Chất ở Tây Bắc và lịch sử dân tộc Tày.

Các nhan đề ấy cho thấy những câu hỏi về tộc người đi liền với câu hỏi về lịch sử. Một cộng đồng đã đến vùng đất đang cư trú bằng những chặng đường nào? Quan hệ với láng giềng thay đổi ra sao? Những biến động chính trị để lại dấu vết gì trong tổ chức xã hội và ký ức địa phương? Câu trả lời đòi hỏi đọc nhiều loại tư liệu, trong đó có những nguồn được lưu giữ ngay giữa cộng đồng.

Nghiên cứu Thái học ở Việt Nam được xây dựng bởi nhiều thế hệ và nhiều người. Bài tổng thuật của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, dựa trên nghiên cứu của PGS.TS. Vương Toàn, đặt Đặng Nghiêm Vạn trong dòng các học giả tiên phong, cùng Nguyễn Văn Huyên, Lã Văn Lô, Tô Ngọc Thanh. Phạm vi Thái học bao gồm lịch sử, ngôn ngữ, đời sống xã hội, tín ngưỡng và nhiều lĩnh vực văn hóa.

Nhìn một học giả trong mạng lưới cộng tác ấy giúp thấy rõ hơn ý nghĩa của người mở đường. Khoa học lớn lên nhờ những người có thể dùng kết quả của nhau, đặt lại câu hỏi của nhau và đi tiếp từ chỗ người trước dừng lại. Một trang nghiên cứu có giá trị không chỉ bởi nó giải quyết được vấn đề trước mắt; nó còn có thể chỉ ra một kho tư liệu, một cách đọc hay một hướng khảo sát cho người đến sau.

4. Đọc lịch sử từ những tư liệu trong cộng đồng

Trong danh mục công trình của Đặng Nghiêm Vạn có bài “Tìm thấy gia phả của dòng họ Lưu Nhân Chú”, công bố trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử năm 1967. Chỉ một nhan đề cũng đủ gợi ra mối quan hệ gần gũi giữa điền dã và sử học: khi người nghiên cứu đến một địa phương, lịch sử có thể hiện diện trong những tài liệu được gia đình lưu giữ qua nhiều đời.

Gia phả cần được đọc với sự thận trọng. Người viết phải nhận diện thời điểm biên soạn, các lần bổ sung, cách ghi tên người, địa danh và niên đại, rồi đối chiếu với nguồn khác. Sự kính trọng dành cho tổ tiên càng đòi hỏi làm rõ chứng cứ. Một chi tiết được truyền lại trong họ có giá trị như lời chỉ dẫn để tìm kiếm; quá trình kiểm tra mới quyết định có thể sử dụng nó đến đâu trong một nhận định lịch sử.

Tư liệu thư viện còn ghi nhận công trình “Những nhóm dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Á ở Tây Bắc Việt Nam”, xuất bản năm 1972, có Đặng Nghiêm Vạn, Nguyễn Trúc Bình, Nguyễn Văn Huy và các tác giả khác tham gia. Từ nghiên cứu nhóm Tày–Thái đến các cộng đồng thuộc ngữ hệ Nam Á, phạm vi tìm hiểu được mở rộng, làm dày thêm hiểu biết về sự đa dạng của miền núi phía Bắc.

Mỗi lần mở rộng địa bàn cũng đặt ra yêu cầu học lại. Một cách tổ chức dòng họ đã gặp ở nơi này chưa chắc có thể dùng để giải thích nơi khác. Một từ nghe giống nhau chưa đủ chứng minh hai cộng đồng có cùng nguồn gốc. Người làm điền dã cần giữ cho quan sát được cụ thể, còn kết luận phải cân xứng với lượng tư liệu. Khoảng cách giữa hai việc ấy chính là nơi sự cẩn trọng của nhà khoa học được thử thách.

5. Tây Nguyên và trách nhiệm của sự hiểu biết

Sau năm 1975, địa bàn nghiên cứu của Đặng Nghiêm Vạn mở rộng tới Trường Sơn–Tây Nguyên. Những công trình được giới thiệu trong các bài viết về ông gồm “Các dân tộc ở Gia Lai–Kon Tum”, “Những vấn đề kinh tế xã hội Tây Nguyên”, “Tây Nguyên trên đường phát triển” và “Những ai lên Tây Nguyên cần biết”.

Nhan đề cuối cùng hướng sự chú ý tới người sử dụng tri thức. Một người đến công tác, sinh sống hay nghiên cứu tại vùng đất mới cần biết về những cộng đồng đã sống ở đó: cách tổ chức đời sống, những mối quan hệ xã hội, tập quán và các giá trị được coi trọng. Sự hiểu biết giúp cuộc gặp gỡ bớt vội vàng. Nó cũng giúp người đến sau nhìn thấy điều có ý nghĩa đối với cư dân địa phương trong những vấn đề tưởng chỉ thuần túy kinh tế.

Trong tư liệu của bộ “Tổng tập văn học Việt Nam”, phần giới thiệu việc sưu tầm, chỉnh lý luật tục Ê Đê nhắc tới Chương trình nghiên cứu Tây Nguyên II, do Giáo sư Lê Duy Thước làm chủ nhiệm, Đặng Nghiêm Vạn làm phó chủ nhiệm phụ trách bộ phận khoa học xã hội. Chi tiết này cho thấy sự có mặt của khoa học xã hội trong một chương trình nghiên cứu tổng hợp.

Luật tục, quyền sử dụng đất, quan hệ gia đình hay ký ức về buôn làng đều liên quan đến đời sống đang vận động. Khi cộng đồng đứng trước thay đổi, những điều ấy cần được tìm hiểu bằng cả chiều sâu lịch sử và thực tế hiện tại. Phát triển một vùng đất đòi hỏi nhiều chuyên môn; trong đó, hiểu con người là công việc phải được làm từ đầu. Những trang khảo cứu có thể góp phần khiến một quyết định trở nên sát với cuộc sống hơn.

6. Từ các tộc người đến cộng đồng quốc gia

Năm 1993, Đặng Nghiêm Vạn công bố “Quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia dân tộc”. Thư mục của Viện Tin học Quốc gia Nhật Bản ghi nhận sách do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản tại Hà Nội. [8] Nhan đề đặt trọng tâm vào quan hệ: các cộng đồng được tìm hiểu trong sự gắn bó với nhau và trong một không gian quốc gia chung.

Để sử dụng tư liệu đúng, cần phân biệt hai nghĩa thường cùng được diễn đạt bằng chữ “dân tộc”: cộng đồng quốc gia và tộc người. Trong cách tiếp cận của Đặng Nghiêm Vạn, Việt Nam là một cộng đồng quốc gia đa tộc người. Cách nhìn ấy cho phép đồng thời đặt câu hỏi về những đặc điểm riêng và về quá trình cùng tồn tại, giao lưu, tạo dựng các mối liên hệ lâu dài.

Đây là một vấn đề có ý nghĩa vượt khỏi phạm vi thuật ngữ. Khi nói về một đất nước, người viết dễ chọn những hình ảnh quen thuộc nhất với mình rồi coi chúng đại diện cho tất cả. Một tiếng hát, một kiểu nhà hay một tập tục có thể rất tiêu biểu ở vùng này nhưng không bao quát hết đời sống vùng khác. Hiểu tính đa dạng giúp việc kể câu chuyện quốc gia trở nên đầy đủ hơn.

Sự gắn bó giữa các cộng đồng được thể hiện trong những quan hệ cụ thể: cùng cư trú, trao đổi, kết thân, chia sẻ kinh nghiệm và ứng phó với những biến động chung. Vì vậy, nghiên cứu quan hệ tộc người cũng là nghiên cứu lịch sử gặp gỡ giữa con người với con người. Điều đáng quý của một công trình tổng hợp nằm ở khả năng khiến người đọc nhận ra những mối liên hệ ấy, đồng thời tiếp tục tôn trọng tiếng nói và kinh nghiệm riêng của từng cộng đồng.

7. Bước sang một lĩnh vực cần nhiều bản lĩnh

Từ năm 1991, Đặng Nghiêm Vạn đảm nhiệm vai trò đứng đầu đơn vị nghiên cứu khoa học về tôn giáo, qua các giai đoạn tổ chức thành ban, trung tâm rồi viện. Ông là Viện trưởng đầu tiên của Viện Nghiên cứu Tôn giáo và làm Tổng biên tập khi Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo ra đời năm 1999.

Với một người đã có quá trình nghiên cứu nghi lễ, đời sống tinh thần và văn hóa tộc người, bước chuyển này có sự nối tiếp về chuyên môn. Nhưng tổ chức một lĩnh vực nghiên cứu còn đặt ra những công việc khác: xây dựng đội ngũ, lựa chọn vấn đề, tạo nơi trao đổi và công bố kết quả. Một ngành khoa học cần những người viết công trình, đồng thời cần môi trường để các công trình được đọc, kiểm tra và tranh luận.

Trong bài nghiên cứu về lịch sử ngành, Nguyễn Hồng Dương nhắc tới hội thảo năm 1993 bàn về bản chất tôn giáo, xem đây là một hoạt động có ý nghĩa đối với việc đổi mới cách tiếp cận. Ông cũng phân tích đóng góp của Đặng Nghiêm Vạn trong việc tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, chú ý đến sự khoan dung, đoàn kết và tôn trọng niềm tin của tín đồ.

Nghiên cứu tôn giáo đưa nhà khoa học tới những câu hỏi mà đáp án không thể chỉ tìm trong sách. Một nghi lễ có thể liên quan tới gia đình, ký ức, đạo đức và cách một người hiểu đời sống của mình. Cần nghe người thực hành giải thích trước khi xếp hiện tượng vào một khái niệm. Khả năng lắng nghe ấy tạo điều kiện cho sự hiểu biết và cũng làm rõ trách nhiệm của người viết đối với những con người được nói đến trong công trình.

8. Niềm tin và câu hỏi về cách gọi tên

Một đóng góp đáng chú ý của Đặng Nghiêm Vạn là thúc đẩy suy nghĩ về bản chất tôn giáo trong những hình thức thực hành quen thuộc của người Việt. Ông không tán thành việc lấy sự phức tạp của tổ chức, giáo lý làm căn cứ đơn giản để xếp các đời sống niềm tin theo thứ bậc. Trong bài tưởng nhớ, Trần Hữu Sơn nhấn mạnh ý nghĩa của hướng tiếp cận ấy và giá trị gợi mở của cuốn “Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam”.

Một nhận xét học thuật của Nguyễn Quốc Tuấn năm 2014 còn trở lại khái niệm tôn giáo như một thực thể xã hội mà Đặng Nghiêm Vạn đã nêu khi nghiên cứu đạo Cao Đài. Câu hỏi vì thế được đặt vào đời sống: niềm tin được thực hành ra sao, tạo nên những mối quan hệ nào và có vai trò gì đối với cộng đồng?

Khi nghiên cứu một nghi lễ, sự mô tả bên ngoài mới là bước đầu. Người quan sát có thể ghi lại nơi chốn, vật dụng, lời đọc, trình tự, số người tham dự. Nhưng muốn hiểu ý nghĩa, còn phải biết người tham dự cảm nhận và giải thích thế nào. Một hành động giống nhau về hình thức có thể mang những ý nghĩa khác nhau trong những hoàn cảnh khác nhau.

Những vấn đề đó khiến cách gọi tên trở thành công việc nghiêm túc. Thuật ngữ giúp tổ chức hiểu biết, nhưng thuật ngữ cũng cần được xem lại trước sự phong phú của thực tế. Người nghiên cứu có trách nhiệm trình bày rõ mình đang dùng khái niệm theo nghĩa nào và bằng chứng nào cho phép áp dụng nó. Nhờ thế, sự khác biệt ý kiến có thể trở thành cuộc trao đổi hữu ích thay vì một cuộc tranh cãi chỉ quanh tên gọi.

9. Đạo tổ tiên trong cuộc đối thoại học thuật

Đặng Nghiêm Vạn dành nhiều tâm sức cho cách tiếp cận thờ cúng tổ tiên như một hiện tượng tôn giáo. Theo cách diễn giải của ông, phạm vi thờ tổ được xem xét ở nhiều cấp độ, từ gia đình, dòng họ tới cộng đồng làng xã và quốc gia. Quan điểm này mở rộng câu hỏi về mối quan hệ giữa niềm tin, ký ức và sự gắn bó cộng đồng.

Nó cũng tạo ra những ý kiến khác nhau. Một số học giả không đồng tình với việc gộp thờ tổ tiên cùng huyết thống, thờ thần bảo hộ làng và thờ các nhân vật có công với đất nước vào cùng một hệ thống. Việc gọi thờ cúng tổ tiên là tôn giáo hay tín ngưỡng, và nội hàm của khái niệm tổ tiên mở rộng, vẫn là những vấn đề được thảo luận.

Chân dung một nhà khoa học cần giữ lại chính không gian đối thoại ấy. Một quan điểm có thể có sức gợi lớn mà vẫn còn điểm cần xem xét. Người đọc hôm nay có thể tiếp nhận câu hỏi của học giả, kiểm tra phương pháp và so sánh với tư liệu mới. Sự trân trọng dành cho một công trình được thể hiện cả ở việc đọc nó một cách kỹ lưỡng, có khả năng đồng tình và phản biện.

Ở đây, một bàn thờ gia đình, một ngày giỗ họ hay lễ tưởng niệm người có công trở thành những hiện tượng để suy nghĩ về ký ức xã hội. Con người nhớ những người đã khuất bằng nhiều cách; trong sự nhớ ấy có tình cảm, nghĩa vụ, nghi lễ và những mối liên hệ giữa các thế hệ. Tìm hiểu chúng giúp nhận ra chiều sâu của những sinh hoạt tưởng rất quen thuộc, đồng thời đặt ra yêu cầu luôn tôn trọng cách giải thích của người trong cuộc.

10. Người thầy và một lời phê bình có nụ cười

Hồi ức của Vương Xuân Tình giữ lại một khoảnh khắc gần gũi. Khi chuẩn bị bảo vệ luận án tiến sĩ cấp cơ sở, ông đến lấy nhận xét của Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn. Người thầy giở luận án, giải thích thêm các ý kiến. Thấy người trẻ còn có chỗ bao biện, ông nhìn qua kính, cười và nói: “Thì mày cũng phải để tao chê mày một tí chứ”!

Lời nói mang cách xưng hô thân tình được người trong cuộc nhớ lại. Trong khoảnh khắc ấy, sự nghiêm túc đối với luận án đi cùng một nụ cười. Nhà khoa học trẻ cần nhận ra giới hạn của lập luận; người thầy giúp học trò tiếp nhận điều đó bằng một cách nói gần gũi. Một lời phê bình tốt có thể làm công trình tốt hơn và giúp người viết học được cách bình tĩnh trước phản biện.

Đặng Nghiêm Vạn cũng tham gia xây dựng tài liệu đào tạo. Cuốn “Dân tộc học đại cương”, do ông chủ biên cùng Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp, được Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm 1998; thư viện Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh lưu giữ và giới thiệu ấn bản này.

Viết một giáo trình là công việc của sự lựa chọn và tổ chức. Người viết phải tìm cách dẫn người mới học từ những khái niệm đầu tiên tới các vấn đề rộng hơn, giúp họ có chỗ tựa để đọc chuyên khảo và đi thực địa. Qua những cuốn sách như thế, công việc của người thầy tiếp tục cả khi ông không đứng trên bục giảng. Một thế hệ mới có thể bắt đầu bằng việc mở sách, ghi câu hỏi bên lề rồi mang câu hỏi ấy đến một cộng đồng để học tiếp.

11. Những trang sách còn một cuộc đời phía sau

Năm 2000, cụm công trình nghiên cứu dân tộc học và tôn giáo của Đặng Nghiêm Vạn được tặng Giải thưởng Nhà nước. Danh mục do Cổng thông tin điện tử Chính phủ công bố ghi hai công trình: “Quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia dân tộc” và “Những vấn đề dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam”. Đó là sự ghi nhận đối với một quá trình nghiên cứu đã kết nối những vấn đề tộc người với đời sống tinh thần và cộng đồng.

Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn qua đời ngày 19/10/2016 tại TP. Hồ Chí Minh, hưởng thọ 86 tuổi. Bài viết tưởng nhớ trên Tia Sáng ghi nhận ảnh hưởng rộng của ông trong đào tạo, nghiên cứu và công việc xác minh thành phần tộc người, cùng đóng góp đối với tôn giáo học. Những lĩnh vực ông theo đuổi tiếp tục vận động; người đi sau có thêm tư liệu và phương pháp để đối thoại với những kết quả của thế hệ trước.

Di sản khoa học còn nằm trong những tài liệu chưa thành sách. Bài tường thuật về hoạt động sưu tầm di sản các nhà sử học năm 2020 nhắc tới hàng trăm bức thư Đặng Nghiêm Vạn trao đổi chuyên môn với đồng nghiệp quốc tế được thu thập. Các bức thư ấy có thể giúp người nghiên cứu sau này hiểu thêm quá trình đặt vấn đề, trao đổi và hình thành tri thức.

Nhìn lại một cuộc đời khoa học, ta thường thấy trước hết những cuốn sách đã in. Đằng sau chúng là công việc nối tiếp qua nhiều năm: đọc, ghi chép, khảo sát, đối chiếu, sửa bản thảo. Một phát hiện cần thời gian để được kiểm tra; một quan điểm cần những cuộc trao đổi để làm rõ. Giữ gìn tài liệu của nhà khoa học cũng là giữ khả năng hiểu công trình từ bên trong quá trình tạo ra nó.

Trong bộ sách về danh nhân họ Đặng Việt Nam, Đặng Nghiêm Vạn hiện diện với tư cách một người góp phần mở rộng sự hiểu biết của đất nước về chính mình. Những vấn đề ông theo đuổi hướng tới con người trong các quan hệ gia đình, cộng đồng và quốc gia, trong tiếng nói, tập quán và niềm tin. Cuộc đời ấy nhắc người viết hôm nay một yêu cầu bền bỉ: muốn kể đúng câu chuyện của một cộng đồng, phải chịu khó đến gần, nghe kỹ và tìm hiểu đến nơi đến chốn.

Hà Nội, 09/10/2026
Đặng Vương Hưng