Sau Nghị quyết Trung ương bốn đánh giá: “… hòa bình vĩnh viễn…”, Binh chủng Đặc công giải thể, các đơn vị chuyển nhiệm vụ làm kinh tế. Hai Tiểu đoàn Đặc công 406 và 409 Anh hùng sáp nhập vào Trung đoàn 250, đơn vị vận tải, để trồng bông ở Lương Sơn, Bắc Bình, Thuận Hải…
Tháng 8/1976, tôi làm Trung đội trưởng huấn luyện quân, rồi Trung đội trưởng Vệ binh - Trinh sát Trung đoàn, sau đó làm trợ lý tham mưu…
Các lớp cán bộ, chiến sĩ thời kháng chiến được cho ra quân về địa phương và chỉ để lại “các cán bộ, đảng viên còn trẻ để tiếp tục công tác”…
Tôi được cử đi học trung cấp nông lâm ở Pleiku. Khi trở về, tôi được bố trí làm trợ lý tham mưu kế hoạch Trung đoàn 250.
Với cung cách làm việc: Trưởng ban Kế hoạch đi giao ban mỗi chiều, khi về giao cho tôi dùng máy điện thoại truyền đạt nhiệm vụ từng ngày cho hơn chục đầu mối, đơn vị cho đến khi xong… Một kiểu làm việc manh mún, vụn vặt khiến tôi thấy chẳng khác một hợp tác xã nông nghiệp lạc hậu ngày xưa…
Rồi một chiều, sau khi đi giao ban về, anh Thùy nói với tôi:
“Em bàn giao công việc và mai lên… nhận quyết định nhiệm vụ mới!”.
Rồi số phận người lính chiến cũng không thể dễ dàng biến thành một ông nông dân trồng bông như thế được!
Tôi được điều về Tiểu đoàn 406 Đặc công mới được thành lập lại tại Chu Lai.
Đơn vị nhận quân từ các đơn vị và địa phương trong toàn Quân khu với yêu cầu:
“Tình nguyện về đơn vị chiến đấu - chính trị loại A, sức khỏe loại một”, theo chỉ thị của Tư lệnh Quân khu Đoàn Khuê.
Sau một thời gian huấn luyện nghiêm ngặt, đơn vị tiếp tục nhận những chiến sĩ đặc công từ miền Bắc vào, do Binh chủng Đặc công huấn luyện. Lúc này, Binh chủng Đặc công cũng đã được thành lập lại.

Đại đội 2 được lựa chọn, theo lệnh của Tư lệnh Quân khu, cùng Đại đội 1 thuộc Trinh sát 32 Quân khu, đơn vị được Phòng Hai đánh giá là tốt nhất của Tiểu đoàn 32, thực hiện nhiệm vụ luồn sâu vào Bô Keo, Campuchia, tập kích Sư đoàn bộ Sư đoàn 801 của Pôn Pốt.
Nhiệm vụ cụ thể: Trinh sát 32 dẫn đường và chi viện vòng ngoài. Trinh sát 32 đã đi trước và nắm được mục tiêu.
Đại đội 2, Tiểu đoàn 406 lựa chọn một trung đội và hai cán bộ đại đội chỉ huy, trực tiếp tập kích mục tiêu.
Hai đơn vị chúng tôi họp bàn kế hoạch, sau đó triển khai cơ động lực lượng theo nhiệm vụ.
Sau quãng đường dài được ô tô vận chuyển, chúng tôi hành quân bộ đến XB, căn cứ địch vừa bị Trung đoàn 95 đánh chiếm. Mùa mưa, trời mờ mịt, ướt át suốt ngày đêm. Ăn uống chủ yếu là gạo sấy. Khắp khu vực trận địa, xác địch chết trương, nổi phềnh dưới hào, trong công sự cá nhân, trên mặt đất, từ trong nhà đến vườn rau hay những vạt rừng ven lối đi. Xác chết của địch, giòi nhung nhúc như những chiếc đũa. Mùi hôi thối phủ trùm khắp khu vực, khiến chúng tôi dù rất đói nhưng đến bữa cũng không muốn ăn cơm.
Anh em lính mới, nhiều cậu nôn ọe và tỏ rõ sự kinh hãi…
Rồi địch lại đánh vào. Cối của chúng bắn nổ ngay gần vị trí quân ta. Ở các hướng, bộ binh Trung đoàn 95 và quân địch chỉ cách nhau một vạt ruộng lúa, bắn nhau xối xả.
Đang đứng dưới một hố bom cũ, tôi nghe tiếng “vo vo”, vội túm đầu hai chiến sĩ bên cạnh, đè sấp xuống.
Ầm!
Tôi thấy đầu mình nóng bỏng. Khi gỡ chiếc mũ cối xuống, tôi nhìn thấy hai lỗ nhỏ trên đỉnh chóp. Vội đưa tay sờ lên đầu, một mảng tóc nhỏ đã bị hớt phăng, còn vướng ngay trong mũ.
Thì ra, với bản lĩnh của người lính đã qua chiến trận, nghe tiếng “vo vo” là biết đạn cối rơi gần; tiếng pháo “sẹt sẹt” là rơi gần, còn “hun hút” là đã bay qua đầu. Vì thế, tôi phản xạ đè đầu hai người bên cạnh xuống. Nhưng cũng chính vì vậy, đầu mình vẫn cao hơn nên bị mảnh cối sượt qua.
Đánh nhau với ta một lúc, địch cũng rút đi. Chúng tôi phối hợp cùng anh em Trung đoàn 95 giữ chốt, tổ chức tuần tra các hướng.
Tôi và Nhiên, trinh sát 32, đi một hướng. Qua mấy dãy nhà cháy, tàn tích của trận đánh vẫn còn nguyên. Bỗng thấy một đám tro tàn nổi cao, tôi bảo Nhiên:
“Cẩn thận!”.
Nhiên ngồi xuống, lấy tay gạt nhẹ đám tro. Bất ngờ, một sợi dây chuyền vàng to như chiếc đũa, dài khoảng hai gang tay lộ ra.
Nhiên hỏi tôi:
“Cho em lấy cái này nhé?”.
Tôi nói:
“Cứ lấy đi! Nhưng cất kỹ, vì nó là chiến lợi phẩm đấy em…”.
Chuẩn bị cho chuyến đột nhập sâu vào mục tiêu, chúng tôi nấu cơm để ăn và nắm cơm mang theo. Nồi cơm “xui xẻo” như báo trước điều gì đó khi bị khê nồng nặc, khiến anh em ngao ngán! Nhưng cái gọi là mê tín ấy cũng nhanh chóng được gạt sang một bên. Chúng tôi tiếp tục lên đường…
Sáng 28/6/1978, đơn vị xuất phát sớm. Đến gần trưa, chúng tôi đã tới khu vực phía tây đường Công Hương. Đội hình được biên chế xen kẽ giữa hai đơn vị 406 và 32.
Tôi chỉ huy bộ phận đi đầu gồm năm quân nhân đặc công: Chiến, Trung đội trưởng; Tuấn, Tiểu đội trưởng và ba chiến sĩ. Phía đơn vị 32 cũng có một Trung đội trưởng, một Tiểu đội trưởng và năm trinh sát. Phía sau đội hình của chúng tôi có anh Cừ, Đại đội trưởng; phía đơn vị 32 có Long, Đại đội trưởng; Cầm, Chính trị viên cùng toàn bộ lực lượng tổ chức đội hình chặt chẽ tiếp bước.
Chúng tôi bám cách con suối khoảng 50 mét, men theo triền dốc. Những cơn mưa khiến cả khu rừng non ướt đẫm. Dây leo chằng chịt làm việc hành quân vô cùng khó khăn.
Bất ngờ có tiếng người vọng tới nhưng không nghe rõ. Tôi ra hiệu cho tất cả nằm xuống, sẵn sàng chiến đấu.
Rồi tiếng hỏi lại vang lên.
Địch hỏi mật khẩu!
Không muốn chê trách đơn vị bạn, nhưng quân 32 lại thi nhau hỏi lại bằng mật khẩu của ta.
Đã biết kẻ phía trước hỏi mật khẩu không đúng của ta mà lại dùng chính mật khẩu của mình để hỏi lại, chẳng khác nào tự nói:
“Tao là Việt Nam đây!”.
Khi xuất phát, đơn vị 32 cung cấp tình hình rằng phía trước có lực lượng trinh sát của ta đang bám địa bàn. Có lẽ chính thông tin này đã khiến anh em nghĩ người phía trước là quân ta và dẫn đến việc hỏi mật khẩu.
Tiếng sột soạt bất ngờ vang lên ngay trước mặt, cách chưa đầy 10 mét.
Một khẩu súng, có lẽ là đại liên, từ trong bụi cây chĩa thẳng về phía chúng tôi.
Tôi bật người lao sang bên cạnh, nơi có một vạt đất thấp. Gần như cùng lúc, địch bắn xối xả. Đạn bay vèo vèo, khói mù mịt; hỏa lực từ nhiều hướng cày xéo vào đội hình quân ta…
Tôi cảm thấy chân phải nóng lên. Nhìn xuống, thấy máu và một mảng quần ở đùi đã rách.
Mình bị thương, nhưng không nặng…
Quay sang bên phải phía trước, một đồng đội của đơn vị 32 đã hy sinh. Bên trái tôi, Tiểu đội trưởng của đơn vị 406 bị thương. Phía sau, hai chiến sĩ của đơn vị 32 cũng đã hy sinh…
Địch vẫn bắn như vãi đạn.
Tôi rút một quả lựu đạn, ném thẳng về phía khẩu đại liên gần nhất. Rừng nhiều dây leo, bụi rậm, quả lựu đạn mắc trên cây rồi phát nổ.
Nhưng tiếng đại liên của địch cũng lập tức im bặt…

Nằm gần tôi là một Tiểu đội trưởng Trinh sát 32, nhập ngũ năm 1974. Tôi nói nhỏ:
“Chỉ bắn khi nhìn rõ địch!”.
Tôi lệnh cho tất cả nằm xuống địa hình thấp, không được tự ý rút, đồng thời bố trí người cảnh giới để tôi bò sang lấy khẩu M79 của một chiến sĩ Trinh sát 32 đã hy sinh.
Nghe tiếng sột soạt, địch lại xả đạn về phía tôi.
Tôi nằm sấp, nghiêng một bên má xuống đất rồi từ từ bò lại. Khẩu súng vẫn đeo qua người đồng đội đã hy sinh nên tôi phải rút dao găm, cắt đứt dây súng mới lấy được.
Rồi lại có tiếng sột soạt…
Ngay trước mặt, một tên địch đi đầu thò mặt ra. Tôi ra hiệu cho Ngó, Tiểu đội trưởng Trinh sát 32, chưa được bắn. Bụi cây quá rậm, phải chờ đến khi hắn chỉ còn cách chúng tôi khoảng 3 mét, tôi mới vẫy tay ra hiệu.
Ngó lập tức điểm xạ mấy viên.
Tên địch lao người về phía trước như muốn vồ lấy khẩu súng rồi gục xuống.
Ngay sau đó, từ nhiều hướng, địch lại bắn như mưa nhưng không dám xông lên vì biết quân ta vẫn còn ở đó.
Mỗi loạt đạn lại vang vọng những tiếng “oạc, oạc” giữa rừng. Đó cũng là thời cơ để quân ta vận động, từng bước nắm lại đội hình.
Ta có ba đồng chí hy sinh, một số đồng chí bị thương…
Tôi chống khẩu M79, tiếp tục chỉ huy toán đi đầu. Tôi chỉ định người dìu thương binh lùi lại, bắt liên lạc với đội hình phía sau; số còn lại nằm tại chỗ giữ đội hình, chờ lực lượng phía sau lên.
Khi gặp Cừ, Đại đội trưởng Đặc công, cùng Long và Cầm, Chính trị viên Trinh sát 32, tôi báo cáo:
“Quân ta hy sinh ba, một số bị thương. Tôi đã lệnh cho anh em nằm tại chỗ, giữ thi thể đồng đội và chặn địch. Ta cần tổ chức đội hình đánh lên để đưa tử sĩ ra, vì địch rất đông…”.
Thấy mọi người chưa có phản ứng, tôi quay sang Bình và Năm, cán bộ Trinh sát 32; Chiến, Trung đội trưởng 406 cùng cán bộ của hai đơn vị đang có mặt và ra lệnh:
“Từ giờ phút này, tôi cho phép các đồng chí: bất cứ ai lùi, bỏ chạy thì bắn luôn!”.
Dù kỷ luật của ta không có quy định như vậy, nhưng lúc ấy tình thế hết sức căng thẳng. Tôi chỉ định người đưa ngay thương binh về phía sau, số còn lại theo tôi lên đỉnh đồi, đánh xuống, phối hợp với anh em đang bám tại chỗ để đưa tử sĩ ra.
Tất cả cán bộ trung đội của hai đơn vị đều chấp hành nghiêm túc, quay lại đội hình lệnh cho chiến sĩ chuẩn bị.
Lúc ấy, Long, Đại đội trưởng Đại đội 1, Trinh sát 32, lên tiếng:
“Anh bị thương rồi! Anh chỉ huy đưa thương binh về phía sau, còn để tôi chỉ huy giải quyết việc còn lại…”.
Chúng tôi đưa thương binh rút về. Do đội hình di chuyển chậm, phải mất khoảng 30 phút. Không lâu sau, Long đã bám kịp và cho biết:
“Địch quá đông. Anh em tại chỗ không giữ được nên đã rút ra sau. Địch đã tràn lên rồi. Giờ chỉ còn cách rút về, bắt liên lạc với Trung đoàn 31 để đưa quân lên mới đủ khả năng giải quyết!”.
Và thực tế cho thấy nhận định của Long là đúng.
Sáng hôm sau, Trung đoàn 31 phải chiến đấu suốt một buổi mới giải quyết được mục tiêu. Sau đó mới rõ, đây là một căn cứ cấp tiểu đoàn của địch, được bố phòng chặt chẽ.
Chỉ tiếc một điều: ta nắm địch không đúng!
Vậy là chú em Nhiên, người trước đó nhặt được sợi dây chuyền vàng, đã hy sinh. Câu nói dân gian “được vàng thì lụi” bất chợt trở lại trong đầu tôi. Rồi cả chuyện nồi cơm bị khê trước lúc xuất quân…
Tôi vốn không tin những điều gọi là mê tín. Nhưng trong hoàn cảnh ấy, những sự trùng hợp cứ ám ảnh người lính. Tôi chợt nghĩ: “Chân lý là cụ thể”…
Tôi đã trở thành thương binh và phải nằm lại tại trạm phẫu phía trước của Trung đoàn 31.
Sáng hôm sau, tôi được chuyển về tuyến sau. Quy định của đơn vị vận tải là hai người cáng một thương binh.
Mọi người thường chọn những thương binh nhỏ người để cáng cho nhanh. Còn tôi lúc ấy nặng hơn 60 kilôgam nên ai cũng có vẻ ngại.
Thấy vậy, anh Hòa, Trưởng trạm phẫu, gọi người chỉ huy đơn vị vận tải lại và nói:
“Anh này là cán bộ đại đội, phải ưu tiên chuyển đi, không được để lại!”.
Người chỉ huy đơn vị vận tải trả lời:
“Anh yên tâm, tôi sẽ trực tiếp chuyển ca này!”.
Sau khi được cáng đến đường ô tô, chúng tôi tiếp tục được xe đưa về phía sau.
Bỗng…
Ầm!
Tôi ngất đi.
Khi tỉnh lại trong trạng thái mơ màng, tôi nghe có tiếng người:
“Anh ấy tỉnh rồi!”.
Tôi hé mắt, mọi thứ vẫn mờ mờ, rồi hỏi:
“Đây là đâu?”.
Sau khi nghe mọi người kể lại, tôi mới biết chiếc xe chở thương binh đã trúng mìn chống tăng của địch.
Nguyên nhân là khi một xe pháo binh đi ngược chiều gặp xe chở thương binh, hai xe tránh nhau và đi ra ngoài phần đường đã được công binh dò, phá mìn. Xe chở thương binh sau đó cán phải mìn. Những người lao tới cứu chúng tôi chính là những chiến sĩ pháo binh.
Lần này, lực lượng lên cáng chúng tôi lại là cán bộ, chiến sĩ Đoàn 331, một đơn vị kinh tế.
Trong cơn mệt lả, tôi vẫn nghe bốn cô gái vừa cáng vừa nói với nhau:
“Ông anh này hơi to, nhưng có súng ngắn, chắc là cán bộ đây! Cũng đẹp trai đấy, nhưng bị què thế này không biết có ai dám lấy không?”.
Rồi các cô phá lên cười…
Nằm trên cáng, tôi nghĩ: Nước này mà các cô vẫn còn hài hước được!
Dù có chút tự ái, tôi lại càng cảm phục. Giữa chiến trường khốc liệt, các cô gái của chúng ta vẫn lạc quan đến thế.
Nhưng đường còn xa.
Đi càng lâu, tiếng cười càng ít dần. Thay vào đó là những tiếng thở nặng nhọc và những lần đổi người cáng ngày một nhiều hơn.
Nằm trên cáng, tôi vừa thương vừa biết ơn những người đồng chí của mình…
Bây giờ nghĩ lại, tôi lại thấy vui: ngày ấy tôi mới hơn 60 kilôgam mà các em đã vất vả như vậy. Nếu là tôi với hơn 70 kilôgam như bây giờ, không biết các em phải cử bao nhiêu người mới cáng nổi!

Tôi được đưa về Đội điều trị 19 ở Đức Cơ, Gia Lai!
Vết thương không nặng nhưng rộng, lại không được băng kịp thời nên gần ba tháng mới lành.
Tôi nằm ở đây với sự chăm sóc tuyệt vời của đội ngũ y tá, y sĩ, bác sĩ…
Khi được xem bộ phim “Bài ca ra trận”, tôi thấy Đội điều trị 19 của Quân khu 5 chỉ có thể là như thế, thậm chí còn tuyệt vời hơn thế nữa!
Nằm được hơn một tháng, tôi thấy anh Khanh, Chính trị viên Đại đội tôi, cổ băng, nghênh nghênh ghé vào…
“Ôi, sao anh cũng bị thương rồi!”, tôi kêu lên.
Anh kể về việc Đại đội tôi bị địch vào trinh sát rồi đánh ở ngầm Ô Da Đao, có lúc tưởng như giáp lá cà… Anh hỏi về vết thương của tôi, rồi mọi vấn đề trong đơn vị anh đều nói cho tôi nghe. Sau đó, anh nói một cách quyết định:
“Tưởng em sắp ra viện được. Nhưng xem kiểu này còn lâu lắm! Anh vết thương tuy ở cổ, nguy hiểm nhưng nhẹ hơn em! Anh phải về… Nếu không, đơn vị mà để tổn thất… thì em biết rồi! Việc lấy lại được tinh thần sẽ rất khó khăn”.
Anh dặn tôi:
“Sáng mai em lên báo cáo với ông Mỹ, Viện trưởng, là anh về đơn vị rồi vì có nhiệm vụ… nhé!”.
Vậy rồi anh ra về luôn mà tôi cũng không kịp biết anh về bằng cách nào nữa!
Đi báo cáo tình hình với lãnh đạo Đội điều trị mà lòng tôi cứ lẫn lộn giữa sự áy náy vì mình không về được với niềm cảm phục tinh thần, ý chí, bản lĩnh của người Chính trị viên…
Mỗi khi chống gậy đi rèn luyện chân về, anh em trong phòng bệnh đều vui mừng báo tin:
“Ôi, anh ơi, lại có quà rồi!”.
Tôi mở ra kiểm tra: sữa hộp và bột đậu…
“Ở đâu và ai đưa đây, mấy đứa?”.
“Hai cô bảo gửi cho anh…”.
Hóa ra mấy em y tá, phục vụ lấy chế độ bồi dưỡng của mình cho tôi…
Tôi cảm thấy mình có lỗi khi nằm chơi lại nhận quà của mấy em làm lụng vất vả ngày đêm, rồi còn đem đồ bồi dưỡng của các em cho mình…
Vui buồn lẫn lộn, tôi hỏi cho rõ người để đem trả lại. Nhưng các em lính nhà ta trong phòng cũng không biết tên và đều nói:
“Họ đã cho mà anh trả thì họ nghĩ sao?”.
Rồi còn tếu táo:
“Anh không ăn thì để chúng em ăn…!”.
Suy cho cùng thì chúng nó nói cũng có lý. Tôi đành gọi các em lại, đi nấu nước pha sữa và bột đậu cùng ăn…
Rồi chưa thôi! Cứ nhiều lần quà được gửi đến lúc tôi vắng mặt như vậy… Tôi nghĩ ra cách: lôi một thằng em thật thà nhất phòng đi đến nơi nghi ngờ. Rồi cũng tìm ra ba “đối tượng”!
Tôi gặp các em và hỏi từng người:
“Sao em lại đem đồ bồi dưỡng sức khỏe của mình cho anh? Các em được bồi dưỡng là diện phải ăn để phục vụ; còn thương binh đã có chế độ đủ bảo đảm rồi!”.
Lúc đầu, cô nào cũng cãi không phải mình. Nhưng với nhân chứng thì không thể cãi được, các em lại đều nói theo kiểu:
“Bọn em không ăn được”, hoặc: “Bọn em không thích ăn… nên cho anh, sao không được!”.
Ôi, tình người, tình đồng chí…
“Lương y như từ mẫu”…
Những ngày ấy không thể nào quên!
Từ các bác sĩ như ông Mỹ, ông Chu, ông Tôn Thất Trác mổ sọ thương binh, lấy mảnh đạn ra rồi gạt óc chảy, còn khéo léo hơn người ta mổ một con gà…
Y sĩ Mạnh; y tá Bảy, Ngọc Châm ở phòng mổ; y tá Trà, điều dưỡng ngoan hiền, đáng quý, đáng yêu như cô em gái ruột…
Rồi em Hương ở bộ phận dược; em Ánh làm công tác phục vụ…
Những con người, niềm tự hào của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, hết lòng vì sự nghiệp… đã giúp thương binh có đủ sức khỏe, khích lệ tinh thần chiến đấu, góp phần giành chiến thắng kẻ thù trên chiến trường.

Về đơn vị
Tôi ra viện và được cán bộ đơn vị lên tận nơi đón về!
Lúc này, tôi đã được điều về Đại đội 1, Tiểu đoàn 406, thay anh Minh được điều lên làm trợ lý tham mưu Tiểu đoàn.
Đơn vị ở Chư Pơ Rông cũng đã chuyển về Buôn Ma Thuột.
Anh em chúng tôi đón xe tải về Thanh An. Xe dừng lại nghỉ, mọi người tự túc ăn uống. Từ phía trước trở về, tôi khoác chiếc áo bạt, bụi đất đỏ phủ kín cả đầu, mặt mũi…
Tôi ghé vào một ngôi nhà ven đường xin nước rửa mặt.
Hóa ra đây là nhà của giáo viên một trường học ở Thanh An. Ba cô giáo thấy một anh bộ đội khoác áo bạt, mặt mũi đầy bụi đường từ phía chiến trường trở về nên rất quý, hồ hởi đón tiếp:
“Anh đã ăn cơm chưa? Để chúng em nấu cơm, anh ăn đã rồi đi…”.
Biết các cô thật lòng, nhưng tôi đang đi nhờ xe tải quân sự, làm sao có thể chờ ăn cơm được. Tôi nói:
“Nhờ các em cho anh xin chút nước rửa mặt thôi!”.
Rất nhanh, một cô chạy ra giếng, múc sẵn cho tôi một chậu nước và còn bỏ vào đó một chiếc khăn mặt trắng toát, chắc là của chính cô.
Tôi rất cảm động, thận trọng nhấc chiếc khăn ra rồi úp mặt vào chậu nước, lấy tay rửa.
“Ôi, anh rửa bằng khăn đi… Đừng ngại, khăn của em không có độc gì đâu!”.
Rồi cả ba cô cùng cười, trêu chọc khi thấy tôi lúng túng, vụng về.
Không đợi tôi đồng ý, một cô múc thêm nước rồi bảo tôi cúi đầu xuống:
“Anh gội đầu cho sạch. Đầu anh bụi phủ hết rồi…”.
Tôi làm theo, như một em bé nghe lời cô giáo.
Rồi cô gái lấy chiếc khăn trao cho tôi:
“Anh lau mặt đi… Mặt đẹp trai thế này không để bẩn được đâu!”.
Trời Thanh An se lạnh, vậy mà khi mặt vừa tiếp xúc với nước, tôi lại thấy bừng bừng…
Đúng lúc ấy, Đồng, Quản trị trưởng, người đi đón tôi, bước vào:
“Các cô bắt nạt thủ trưởng tôi vừa thôi! Anh còn chưa có mảnh tình rách vắt vai nào đấy!”.
Lại một trận cười vang lên…
Rồi tiếng còi xe giục chúng tôi tiếp tục lên đường.
Khi bước lên xe, cũng là lúc đã đi qua đoạn đường bụi bẩn nhiều nhất. Tôi thấy mình tỉnh táo hẳn lên.
Không biết có phải vì đường sá đã dễ đi hơn; vì tôi vừa vượt qua một chặng đường gian nan, ác liệt; hay còn bởi đâu đó vẫn vương mùi hương thoang thoảng của chiếc khăn cùng những tấm lòng chan chứa nghĩa tình của người hậu phương.
(Còn nữa)