Hồ sơ 104/2026: Liệt sĩ chỉ còn lại duy nhất một di ảnh thờ

Đó không chỉ là lời nhắn gửi của một người em trai tới anh mình. Đó còn là tiếng lòng của biết bao gia đình Việt Nam vẫn đang đi tìm người thân sau chiến tranh. Các liệt sĩ đã có tên trong sử sách, trong Bằng “Tổ quốc ghi công”, nhưng nơi an nghỉ của nhiều người vẫn chưa được xác định. Có những cuộc tìm kiếm kéo dài qua hai, ba thế hệ; từ cha mẹ đến anh chị em, rồi trao lại cho con cháu. Với liệt sĩ Vi Hữu Bình, thời gian hy sinh được gia đình ghi nhớ là năm 1967. Đến nay đã gần sáu mươi năm. Người thanh niên năm ấy vẫn mãi ở tuổi đôi mươi trong di ảnh, còn người em từng tiễn anh đi nay đã bước sang tuổi 73.
795289388-1743261253597095-997076570681490387-n-1790050494.jpg

Gần sáu mươi năm qua, trong ngôi nhà của gia đình ông Vi Văn Nhiệm, liệt sĩ Vi Hữu Bình chỉ còn hiện diện qua một di ảnh nhỏ được truyền thần từ tấm ảnh đen trắng cỡ 3x4cm. Giấy báo tử, Bằng “Tổ quốc ghi công”, thư từ và mọi kỷ vật liên quan đến người liệt sĩ đều bị trận lũ năm 1971 cuốn trôi.

Ở tuổi 73, khi những người thân trong gia đình hầu hết đã qua đời, ông Nhiệm vẫn đau đáu một nguyện vọng: tìm được nơi anh trai đang nằm lại, trước khi chính mình trở nên quá muộn.

1- Người ra đi khi lời hẹn ước còn dang dở

Trong lá thư gửi Dự án “Sáng kiến Tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh” – TTU-VWAI, ông Vi Văn Nhiệm kể về người anh ruột của mình bằng những dòng chữ mộc mạc nhưng chan chứa nỗi nhớ thương.

Liệt sĩ Vi Hữu Bình sinh năm 1941, quê tại xã Y Sơn, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, nay thuộc xã Đan Thượng, tỉnh Phú Thọ. Ông là con của cụ Vi Văn Khâm, sinh năm 1915, mất năm 1976 và cụ Nguyễn Thị Ích, sinh năm 1917, mất năm 2009.

Gia đình có bảy anh chị em. Trong ký ức của người em trai, Vi Hữu Bình là một chàng trai quê cần cù, từng làm việc tại một nông trường ở Thái Nguyên rồi nhập ngũ từ nơi ấy. Vì ra đi từ nông trường, không có người cùng làng nhập ngũ cùng đợt nên về sau gia đình gần như không thể lần tìm thông tin qua đồng đội cũ.

Ngày chàng trai Vi Hữu Bình lên đường ra trận, gia đình đã dạm hỏi bà Hà Thị Cầu. Đám cưới chưa kịp tổ chức thì người lính trẻ phải khoác ba lô lên đường. Người con gái ở quê đã chờ đợi ông suốt những năm tháng chiến tranh. Chỉ sau khi biết người mình đợi đã hy sinh, bà mới nén đau thương để đi lấy chồng.

Một lời hẹn ước chưa kịp thành duyên. Một mái ấm chưa kịp dựng xây. Chiến tranh đã để lại giữa cuộc đời họ một khoảng trống không gì có thể bù đắp.

Ông Vi Văn Nhiệm chỉ còn nhớ mang máng rằng khi chụp bức ảnh gửi về gia đình, người anh có thể đang mang quân hàm Hạ sĩ. Qua lời kể của người cha lúc còn sống, giấy báo tử cho biết liệt sĩ Vi Hữu Bình hy sinh năm 1967 tại mặt trận phía Nam. Đó cũng là những thông tin ít ỏi cuối cùng còn được lưu giữ trong trí nhớ của gia đình.

2- Trận lũ cuốn đi cả những đầu mối cuối cùng

Sau ngày người lính hy sinh, gia đình từng nhận được giấy báo tử, Bằng “Tổ quốc ghi công”, thư từ và một số giấy tờ liên quan. Những tài liệu ấy không chỉ là kỷ vật của người đã khuất mà còn là căn cứ quan trọng để xác định đơn vị, chiến trường, thời gian và địa điểm hy sinh.

Nhưng trận lũ lớn năm 1971 đã cuốn trôi tất cả. Nước lũ không chỉ lấy đi tài sản của một gia đình nghèo nơi trung du Phú Thọ mà còn cuốn theo những dòng địa chỉ đơn vị, những dấu bưu điện dã chiến và các thông tin có thể giúp người thân tìm lại người lính sau chiến tranh. Từ đó, hồ sơ về liệt sĩ Vi Hữu Bình trong gia đình gần như trở về con số không.

Kỷ vật duy nhất còn lại là một tấm ảnh đen trắng nhỏ, chỉ cỡ 3x4cm. Bức ảnh ấy về sau được gia đình nhờ người truyền thần, phóng lớn để làm di ảnh thờ. Trên bàn thờ gia tiên, người lính trẻ vẫn giữ nguyên gương mặt của tuổi đôi mươi, trong khi cha mẹ và các em của ông lần lượt già đi rồi nhiều người đã qua đời.

Có những gia đình liệt sĩ còn giữ được vài lá thư, một cuốn nhật ký hay giấy báo tử đã úa màu. Với gia đình ông Vi Văn Nhiệm, mọi dấu tích hữu hình của người anh chỉ còn lại một gương mặt. Không địa chỉ đơn vị. Không tên chiến trường cụ thể. Không nơi an táng ban đầu. Không một người đồng đội cùng quê để dò hỏi. Bởi thế, cuộc tìm kiếm càng trở nên mịt mờ.

Khi còn sức khỏe, gia đình đã trực tiếp vào Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Trường Sơn và tìm kiếm tại một số nghĩa trang liệt sĩ ở các địa phương khác. Họ từng hướng sự tìm kiếm tới cả Gia Lai, nhờ bạn bè, người quen ở nhiều tỉnh dò hỏi; đồng thời gửi thư đến cơ quan chính sách của Bộ Quốc phòng với hy vọng tìm được thêm thông tin. Nhưng hết năm này qua năm khác, câu trả lời vẫn là sự im lặng.

Cha của liệt sĩ, cụ Vi Văn Khâm, qua đời năm 1976, chỉ chín năm sau ngày người con trai được báo tin hy sinh. Người mẹ, cụ Nguyễn Thị Ích, sống đến năm 2009, mang theo nỗi mong ngóng con suốt hơn bốn thập niên. Có lẽ cho đến phút cuối cuộc đời, điều người mẹ đau đáu nhất vẫn là chưa biết con mình đang nằm lại nơi đâu.

Bảy anh chị em trong gia đình nay cũng đã cao tuổi và hầu hết không còn. Những người từng chứng kiến ngày Vi Hữu Bình nhập ngũ, từng đọc giấy báo tử hoặc biết thêm đôi chút về người lính cũng lần lượt rời xa cõi thế. Mỗi một người qua đời là một phần ký ức gia đình mất đi, khiến những đầu mối vốn đã mong manh càng trở nên khó tìm kiếm.

Ông Vi Văn Nhiệm năm nay 73 tuổi, hiện cư trú tại phường Phú Thượng, thành phố Hà Nội. Là người em ruột còn mang trách nhiệm nối tiếp hành trình tìm anh, ông hiểu quỹ thời gian dành cho mình không còn nhiều.

Ngày 11/7/2026, ông đã trở về quê để lấy mẫu sinh phẩm ADN, phục vụ việc đối chiếu, khớp nối với dữ liệu hài cốt liệt sĩ chưa xác định được danh tính. Đó là một bước đi mang ý nghĩa đặc biệt. Khi giấy tờ đã mất, đồng đội chưa tìm thấy và ký ức ngày càng phai mờ, ADN có thể trở thành sợi dây huyết thống bền bỉ nhất nối người đang sống với người đã khuất.

Tuy nhiên, để việc tìm kiếm có thêm cơ sở, gia đình vẫn rất cần những thông tin về quá trình nhập ngũ, đơn vị chiến đấu, địa bàn hoạt động và nơi hy sinh của liệt sĩ Vi Hữu Bình. Chỉ một dòng trong danh sách quân nhân, một trang nhật ký của đồng đội, một hồ sơ lưu trữ hoặc một ký ức còn sót lại cũng có thể trở thành manh mối quan trọng.

3- “Mong anh phù hộ để em tìm được anh”

Cuối lá thư gửi Dự án TTU-VWAI, ông Vi Văn Nhiệm viết một lời khiến người đọc không khỏi nghẹn lòng: “Mong anh sống khôn, thác thiêng phù hộ để em tìm được anh, trước khi quá muộn. Vì anh em ruột trong nhà không còn ai cả”.

Ước nguyện của ông Vi Văn Nhiệm thật giản dị: biết được anh từng chiến đấu ở đơn vị nào, hy sinh tại đâu và hài cốt hiện được an táng ở nghĩa trang nào; hoặc ít nhất tìm thêm được một manh mối đáng tin cậy để hành trình tìm kiếm có thể tiếp tục.

Thông qua Dự án TTU-VWAI, gia đình tha thiết mong các cơ quan chức năng, cựu chiến binh, đồng đội cũ và những người từng công tác tại các nông trường ở Thái Nguyên trong thời kỳ ấy cùng quan tâm, chia sẻ thông tin. Đặc biệt, ai biết trường hợp quân nhân Vi Hữu Bình, sinh năm 1941, quê xã Y Sơn, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ; nhập ngũ từ một nông trường tại Thái Nguyên và được báo tin hy sinh năm 1967 ở mặt trận phía Nam, xin hãy giúp gia đình nối lại những dữ kiện đã bị trận lũ năm 1971 cuốn mất.

Mỗi thông tin được sẻ chia hôm nay có thể mở ra con đường trở về cho một người lính. Và biết đâu, từ tấm di ảnh nhỏ còn lại trên bàn thờ, liệt sĩ Vi Hữu Bình sẽ được trả lại đầy đủ tên tuổi, đơn vị, hành trình chiến đấu và nơi an nghỉ của mình. Để người em trai tuổi đã xế chiều có thể một lần đứng trước phần mộ anh, thắp nén hương đoàn tụ và khẽ nói rằng: “Anh ơi, cuối cùng em đã tìm thấy anh rồi!”.

Phú Thọ, 22/9/2026
Đặng Vương Hưng
(Thành viên Dự án TTU–VWAI)