
Từ lời hát “đôi ta” giữa núi rừng
Sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ ngày 1/7/2025, không gian Yên Thế lịch sử được tổ chức lại trong các xã Yên Thế, Bố Hạ, Đồng Kỳ, Xuân Lương cùng một số xã lân cận của tỉnh Bắc Ninh. Trong đó, xã Yên Thế được hình thành từ thị trấn Phồn Xương và các xã Đồng Lạc, Đồng Tâm, Tân Hiệp, Tân Sỏi trước đây. Khi giới thiệu di sản hiện nay, cần sử dụng tên xã mới; các tên huyện, thị trấn cũ chỉ nên xuất hiện để chú giải nguồn tư liệu hoặc bối cảnh lịch sử.
Tại vùng Phồn Xương, nhất là cộng đồng Nùng ở Đồng Nhân, Soong hao từng là một phần thân thuộc của đời sống. Người già nhớ câu hát từ những năm tháng đi chợ, làm nương, dự hội; người trẻ nghe qua lời ru, qua những đêm văn nghệ hoặc trong câu chuyện về cuộc gặp gỡ của cha mẹ, ông bà. Tiếng hát đi cùng con người từ lúc làm quen đến khi trưởng thành, lập gia đình, trở thành một hình thức trao truyền ngôn ngữ và đạo lý cộng đồng. Theo cách giải thích phổ biến của các nghệ nhân, “Soong hao” trong tiếng Nùng có nghĩa là “hai ta”, “đôi ta”. Một số tài liệu và địa phương ghi là “Sloong hao”; sự khác nhau chủ yếu liên quan cách phiên âm và đặc điểm phát âm của từng nhóm địa phương. Ở Yên Thế, cách gọi Soong hao đã được sử dụng tương đối ổn định trong hoạt động của các câu lạc bộ dân ca Nùng và trong tư liệu giới thiệu nghệ nhân.

Không có một văn bản cổ nào xác định chính xác thời điểm ra đời của Soong hao. Đây là di sản được sáng tạo, bồi đắp và truyền miệng qua nhiều thế hệ của người Nùng. Bởi vậy, khi nói về nguồn gốc, phù hợp hơn cả là đặt làn điệu trong môi trường lịch sử - văn hóa của cộng đồng Nùng ở vùng Đông Bắc, nơi tiếng hát giao duyên gắn với chợ phiên, lễ hội mùa Xuân, sinh hoạt lao động và nghi lễ gia đình. Trong hành trình di cư, lập bản và cộng cư tại Yên Thế, đồng bào Nùng mang theo tiếng nói, phong tục cùng vốn dân ca quê gốc. Nhưng Soong hao ở vùng đất mới không phải bản sao bất biến. Lời hát đã tiếp nhận cảnh sắc, sinh hoạt và tâm tư của con người Yên Thế; nhắc tới đồi rừng, khe suối, nương ngô, phiên chợ và những ngày hội. Quá trình địa phương hóa ấy giúp Soong hao vừa giữ căn cốt Nùng, vừa mang dấu ấn của vùng cư trú. Nguồn tư liệu dân gian cho thấy người Nùng có nhiều hình thức hát khác nhau. Người Nùng Cháo thường gắn với hát lượn; người Nùng Phàn Slình lưu giữ Soong hao. Trong thực tế, ranh giới giữa các tên gọi và làn điệu có thể biến đổi theo nhóm địa phương, người truyền dạy và môi trường giao lưu. Điều quan trọng là không đồng nhất Soong hao với hát Then, Sli, lượn hay Sịnh ca của người Cao Lan. Mỗi loại hình có ngôn ngữ, chức năng, âm điệu và cộng đồng thực hành riêng, dù cùng tồn tại trong một không gian văn hóa đa dân tộc.
Trước đây, trai gái thường đi thành từng nhóm, gặp nhau ở chợ phiên hoặc ngày hội rồi cất lời làm quen. Cuộc hát bắt đầu bằng chào hỏi, hỏi quê quán, mời trầu, mời nước. Khi hai bên đã hiểu nhau, lời ca chuyển dần sang thử tài, bày tỏ tình cảm, hẹn ước và cuối cùng là chia tay. Có canh hát kéo dài từ chiều đến đêm, thậm chí sang ngày hôm sau. Trình tự ấy không hoàn toàn cứng nhắc. Người hát giỏi phải biết quan sát hoàn cảnh, lắng nghe ý của bạn hát và lựa chọn câu đáp phù hợp. Nếu phía bên kia mượn hình ảnh núi, người đáp có thể dùng hình ảnh mây; nếu câu hỏi nhắc đến thuyền, lời đối có thể gọi dòng sông hoặc bến nước. Khả năng liên tưởng nhanh, giữ ý tứ mà vẫn bộc lộ tình cảm tạo nên sức cuốn hút của một cuộc hát hay.
Từ giao duyên, Soong hao mở rộng sang nhiều nội dung khác: mừng năm mới, mời khách, mời rượu, chúc thọ, mừng nhà mới, ca ngợi lao động, quê hương, tình cảm gia đình. Nghệ nhân Nông Dũng Long ở vùng Phồn Xương đã sưu tầm, ghi chép hàng trăm bài, trong đó có lời cổ và lời mới. Công việc của ông cho thấy di sản không dừng lại ở tình yêu đôi lứa mà phản ánh cả đời sống tinh thần của cộng đồng.
Cái hay trong lời ca không nhạc đệm
Một đặc điểm nổi bật của Soong hao là không sử dụng nhạc cụ đệm. Không có đàn tính dẫn dắt như hát Then, cũng không dựa vào một dàn nhạc hỗ trợ, người hát phải tự làm chủ cao độ, nhịp điệu, hơi thở và cách nhả chữ. Giọng hát vì thế mang vẻ tự nhiên, gần với tiếng nói nhưng được nâng lên bằng độ ngân, luyến láy và sắc thái biểu cảm. Sự “mộc” ấy không đồng nghĩa với đơn giản. Người học phải phát âm đúng tiếng Nùng, thuộc vốn lời, nắm cách vào câu và đặc biệt phải biết xử lý phần ngân ở cuối dòng. Chỉ cần sai thanh điệu hoặc ngắt hơi không đúng, ý nghĩa câu hát có thể thay đổi, vần điệu bị phá vỡ. Nghệ nhân vì vậy không chỉ truyền giai điệu mà còn chỉnh từng tiếng, từng cách lấy hơi. Ngôn từ Soong hao giàu hình ảnh và phép ví von. Thiên nhiên vùng núi trở thành kho biểu tượng quen thuộc: trăng, sao, mây, núi, chim rừng, hoa, con suối, con thuyền, bến nước. Những hình ảnh ấy không chỉ tả cảnh mà còn chuyên chở tâm trạng. Khoảng cách giữa hai ngọn núi có thể nói hộ sự xa cách; ánh trăng gợi lòng chung thủy; con đường về bản trở thành lời níu giữ bạn hát.
Giá trị nghệ thuật của Soong hao còn nằm ở tính ứng tác. Kho lời cổ là nền tảng, nhưng một cuộc hát không phải sự đọc lại máy móc những câu đã thuộc. Người hát có thể thay đổi hình ảnh, địa danh hoặc thêm lời mới cho phù hợp hoàn cảnh. Tài năng thể hiện ở khả năng vừa tuân thủ phong cách làn điệu, vừa tạo được câu đáp bất ngờ mà hợp tình, hợp ý. Soong hao còn bảo lưu tiếng Nùng trong trạng thái giàu biểu cảm. Nhiều từ cổ, lối nói, cách ví von ít dùng trong giao tiếp hằng ngày vẫn tồn tại trong lời ca. Khi một người trẻ học hát, em không chỉ nhớ giai điệu mà còn học phát âm, học nghĩa của từ và cách người đi trước cảm nhận thế giới. Trong bối cảnh tiếng mẹ đẻ có nguy cơ thu hẹp phạm vi sử dụng, chức năng này càng trở nên quan trọng.
Trang phục truyền thống góp phần làm hoàn chỉnh vẻ đẹp của cuộc hát. Sắc chàm trầm của áo, những đường viền, hàng cúc, khăn đội đầu và đồ trang sức tạo nên phong thái kín đáo, nền nã. Khi các nhóm nam nữ đứng đối diện trong ngày hội, trang phục giúp người hát ý thức rõ hơn về căn cước và tạo nên một không gian thị giác hài hòa với lời ca.

Chợ phiên giữ vị trí đặc biệt bởi ở đó diễn ra đồng thời hoạt động trao đổi hàng hóa, gặp gỡ cộng đồng và giao duyên. Người đi chợ mặc trang phục đẹp, mang theo sản vật và cũng mang theo vốn lời. Sau những lời chào hỏi, cuộc hát có thể hình thành tự nhiên bên một quán nhỏ hoặc trên đường. Chợ vì thế không chỉ là không gian kinh tế mà còn là thiết chế văn hóa dân gian.
Khi bước lên sân khấu hội diễn, Soong hao có điều kiện tiếp cận đông đảo công chúng nhưng cũng đứng trước nguy cơ thay đổi cấu trúc. Thời lượng tiết mục bị rút ngắn, lời ca được soạn sẵn, người hát dùng micro và có khi thêm nhạc nền. Những yếu tố ấy giúp tiết mục dễ nghe, phù hợp chương trình nghệ thuật, song nếu thay thế hoàn toàn lối đối đáp tự nhiên thì phần tinh túy của di sản sẽ dần mờ nhạt.
Giá trị của Soong hao không chỉ nằm ở âm thanh. Đó là tổng thể gồm tiếng Nùng, ký ức, tập quán gặp gỡ, quy tắc ứng xử, trang phục, không gian và quan hệ giữa người hát với cộng đồng. Bảo tồn vì thế không thể chỉ ghi âm vài bài hoặc duy trì một tiết mục biểu diễn. Điều cần giữ là năng lực thực hành và môi trường để cuộc hát tiếp tục nảy sinh.
Giữ tiếng hát trong đời sống hôm nay
Quá trình hiện đại hóa đã làm thay đổi sâu sắc không gian tồn tại của dân ca. Chợ truyền thống không còn giữ nguyên vai trò gặp gỡ như trước; thanh niên học tập, làm việc xa nhà; phương tiện giải trí mới chiếm phần lớn thời gian. Trong nhiều gia đình, trẻ nhỏ sử dụng tiếng phổ thông thường xuyên hơn tiếng Nùng. Khi không hiểu tiếng mẹ đẻ, các em khó cảm nhận lớp nghĩa sâu của lời hát cổ.
Nghệ nhân Ưu tú Nông Dũng Long là gương mặt tiêu biểu. Sinh năm 1942 trong một gia đình Nùng và gắn bó với Yên Thế, từ thời trai trẻ ông đã theo bạn bè đi hát. Sau khi nghỉ công tác, lo ngại vốn dân ca mai một, ông tìm gặp các bậc cao niên, ghi chép lời hát, dịch nghĩa và dùng chính những cuốn sổ của mình làm tài liệu truyền dạy.
Từ nguyện vọng của ông và những người cùng tâm huyết, câu lạc bộ dân ca Nùng ở Phồn Xương (nay thuộc xã Yên Thế) được hình thành, duy trì sinh hoạt tại nhà văn hóa Đồng Nhân. Có thời điểm đội quy tụ nhiều thế hệ, từ người trên 70 tuổi đến trẻ em chưa đầy 10 tuổi. Người dạy không nhận thù lao; người học đến bằng tình yêu tiếng hát của dân tộc mình. Năm 2019, ông Nông Dũng Long được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú vì những cống hiến trong gìn giữ di sản văn hóa phi vật thể.
Câu chuyện ấy cho thấy nghệ nhân là chủ thể không thể thay thế. Họ nắm giữ không chỉ lời ca mà còn cách phát âm, luyến láy, trình tự cuộc hát, hoàn cảnh sử dụng và những quy tắc ứng xử không dễ ghi chép thành văn. Mỗi nghệ nhân cao tuổi qua đời mà chưa kịp truyền dạy đồng nghĩa với việc di sản mất đi một “kho tư liệu sống”. Vì vậy, việc đầu tiên cần thực hiện là tiếp tục điều tra, kiểm kê người thực hành tại các xã có đông đồng bào Nùng trong không gian Yên Thế. Hồ sơ không nên chỉ ghi tên nghệ nhân mà cần xác định họ biết nhóm bài nào, sử dụng biến thể ngôn ngữ nào, có khả năng truyền dạy hay không và đang lưu giữ tư liệu gì. Trên cơ sở đó, địa phương xây dựng chính sách hỗ trợ phù hợp, ưu tiên những người thực sự có năng lực thực hành. Công tác sưu tầm cũng cần chuyển từ ghi lời đơn thuần sang ghi âm, ghi hình toàn bộ cuộc hát. Một bản chép chỉ giữ được văn bản; không thể lưu lại cao độ, trường độ, cách lấy hơi, nét mặt và sự tương tác. Mỗi tư liệu nên kèm phiên âm tiếng Nùng, bản dịch tiếng Việt, thông tin người hát, địa điểm, thời gian và hoàn cảnh diễn xướng để phục vụ nghiên cứu, truyền dạy lâu dài.
Truyền dạy cho thế hệ trẻ cần bắt đầu từ tiếng nói. Nếu người học chỉ thuộc âm thanh theo kiểu phiên âm mà không hiểu nội dung, làn điệu khó duy trì sức sống. Các lớp học nên kết hợp dạy từ vựng, giải thích hình ảnh, phong tục và thực hành đối đáp. Có thể lựa chọn những bài ngắn về chào hỏi, mời trầu, mời nước trước khi chuyển sang lời cổ phức tạp.

Hoạt động trình diễn tại lễ hội Yên Thế, ngày hội đại đoàn kết và các sự kiện văn hóa của tỉnh giúp Soong hao tiếp cận công chúng. Điều cần lưu ý là tạo chỗ cho hát đối thực sự thay vì chỉ biểu diễn bài soạn sẵn. Một không gian nhỏ, nơi hai nhóm có thể chào hỏi, thử tài và ứng tác, đôi khi phản ánh đúng bản chất di sản hơn tiết mục được dàn dựng công phu.
Trang phục truyền thống, ẩm thực, nghề thủ công và dân ca có thể kết nối thành sản phẩm trải nghiệm văn hóa cộng đồng. Du khách đến Yên Thế không chỉ nghe một bài hát mà được tìm hiểu cách nhuộm chàm, học vài câu tiếng Nùng, nghe nghệ nhân giải thích phép ứng đối và tham gia một đoạn hát ngắn. Cách tiếp cận ấy làm tăng giá trị trải nghiệm, đồng thời tạo thêm nguồn lực cho cộng đồng. Nhưng phát triển du lịch phải có giới hạn, không nên biến lời hát giao duyên thành màn minh họa lặp lại theo yêu cầu của khách, cắt rời khỏi ngôn ngữ và phép ứng xử. Mọi hoạt động khai thác cần có sự đồng thuận của nghệ nhân, tôn trọng không gian văn hóa và bảo đảm lợi ích quay trở lại hỗ trợ người thực hành.
Trong điều kiện tỉnh Bắc Ninh sau hợp nhất sở hữu một kho tàng văn hóa đa dạng, Soong hao cần được đặt đúng vị trí trong chính sách bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số. Đây không phải một tiết mục “phụ họa” bên cạnh các di sản nổi tiếng, mà là tiếng nói của một cộng đồng, góp phần tạo nên sự phong phú của bản sắc tỉnh mới. Cơ quan văn hóa, bảo tàng và chính quyền cấp xã có thể phối hợp xây dựng hồ sơ khoa học, tổ chức tọa đàm nghệ nhân, phục dựng không gian hát và hình thành bộ sưu tập chuyên đề về dân ca Nùng. Những cuốn sổ của nghệ nhân, trang phục, ảnh sinh hoạt, bản ghi âm và câu chuyện về các canh hát đều là tư liệu quý cần được bảo quản, số hóa, giới thiệu cho công chúng. Mục tiêu cuối cùng của bảo tồn không phải làm cho Soong hao đứng yên như một hiện vật. Di sản chỉ sống khi người Nùng còn muốn nói tiếng mẹ đẻ, còn tự hào mặc trang phục truyền thống, còn tìm thấy trong lời hát cách bày tỏ tình cảm của chính mình. Lời mới có thể được sáng tác, chủ đề có thể mở rộng, phương tiện truyền dạy có thể thay đổi, nhưng tinh thần đối đáp, sự tinh tế của tiếng Nùng và quyền làm chủ của cộng đồng phải được giữ vững.
Giữa nhịp sống hôm nay, tiếng hát “đôi ta” vẫn có khả năng nối những khoảng cách: giữa người với người, giữa thế hệ trẻ với ông bà, giữa bản làng với công chúng. Từ Đồng Nhân, Phồn Xương đến những vùng đồng bào Nùng trong không gian Yên Thế, mỗi câu Soong hao được cất lên là một lần ký ức cộng đồng được đánh thức và khi lời hát ấy còn ngân giữa đồi rừng, bản sắc văn hóa Nùng vẫn còn một mạch nguồn để tiếp tục chảy trong đời sống Bắc Ninh./.