Nhóm nghiên cứu nhận định, chính sử chỉ ghi chép việc liên quan đến đức vua và triều đình, không ghi chép việc của cá nhân quần thần, do đó chính sử không bao giờ chép chuyện cá nhân gia đình tử tù Trần Phúc Hiển. Còn gia phả thời phòng kiến trong gia đình có tử tù không chỉ chịu điều tiếng trong thiên hạ mà đề phòng hậu họa tru đi tam tộc, dòng họ ấy thường xoá tên trong gia phả tới 3 đời. Do đó gia phả không chép gì đến chuyện của gia đình tử tù Trần Phúc Hiển là đúng với xã hội thời phong kiến. Nếu ông Trần Phúc Hiển không phải là tử tù, Nếu trên bia mộ vợ chồng ông Phúc Hển đều ghi tên chính danh, không phải thay tên đổi họ, thì mọi việc đều sáng tỏ, không cần có các nhà nghiên cứu như chúng tôi.

Chúng tôi đã nghiên cứu rất nhiều trường hợp chính sử và gia phả không chép, nhưng văn học sử, truyền thuyết dân gian và hiện trưởng nghiên cứu đã chứng minh đầy đủ những thông tin nhà nghiên cứu cần nghiên cứu. Dưới đây là một vài ví dụ cụ thể chứng minh.
Chính sử không chép, gia phả họ Hồ Quỳnh Đôi không chép về phần mộ cụ Hồ Phi Diễn và cụ Hà Thị (là bố mẹ nữ sĩ Hồ Xuân Hương) chôn ở nghĩa địa nào.
Nhưng nhóm nghiên cứu của chúng toi đã tìm ra bài thơ "Thanh minh" nằm trong số những bài thơ Nôm truyền tụng được chép lại trong văn bản của Landes năm 1892.
Trong nội dung bài thơ “Thanh minh” có 2 câu : “ Dầu dầu hai nấm lẫn vàng xanh/Kìa nẫm thâm ân, nọ nấm tình”. Tìm hiểu văn học sử nhóm nghiên cứu tìm ra xuất xứ của bài thơ viết vào tiết thanh minh năm 1815 khi Hồ Xuân Hương cùng vợ con tử Minh đi viếng mộ người thân ở nghĩa địa Đồng Táo (hiện nghĩa địa này đã chìm trong sóng nước Hồ Tây) Hai câu thơ trên chỉ phần mộ cha mẹ nữ sĩ Hồ Xuân Hương ở nghĩa địa Đồng Táo. Ngôi mộ có vàng là ngôi mộ cụ Hà Thị mới chết cuối năm 1814, còn ngôi mộ cỏ xanh là mộ cụ Hồ Phi Diễn qua đời năm 1886 khi đó Hồ Xuân Hương mói 13 tuổi. Như vậy qua văn học sử bài thơ “Thanh minh” của Hồ Xuân Hương đã chỉ rõ mộ cha mẹ mình. Thế nhưng phải đến năm 2021 nhà nghiên cứu Nghiêm Thị Hằng nghiên cứu về thân thế Hồ Xuân Hương và khởi xướng đề án đi tìm mộ nữ sĩ thì dấu tích phần mộ cha mẹ nữ sĩ Hồ Xuân Hương mới được xác đinh và công bố ở nghĩa địa Đồng Táo.

Quê hương của ông Trần Phúc Hiển, chính sử chỉ chép là người Đằng Trong, gia phả của tử tù không có. Đến trước năm 2020 không ai nghiên cứu về thân thế ông Trần Phúc Hiển, không ai biết quê quán của ông ở đâu? Chỉ đến khi nhà nghiên cứu Nghiêm Thị Hằng nghiên cứu về thân thế nữ sĩ trong cuốn sách “Giải mã bí ẩn nữ sĩ Hồ Xuân Hương” đã nghiên cứu sâu về 2 người chồng của nữ sĩ và tìm được quê hương ông Trần Phúc Hiển người chồng thứ 2 của nữ sĩ quê ở vùng đất Tam Kỳ qua bài thơ “Thu nguyệt hữu ức Mai Sơn Phủ ký”của nữ sĩ Hồ Xuân Hương có câu thơ “Ngọn nước Tam Kỳ chảy lại đâu?”.
Chính sử Đại Nam thực lục, Đệ Tam Kỷ quyển XV trang 285 có chép việc vua Thiệu trị mùa xuân năm 1842 (Nhâm Dần) kinh lý ra Bắc Thành tiếp sứ nhà Thanh có các Hoàng thân, Hoàng tử tước công đi theo hầu vua, nhưng không ghi rõ tên các Hoàng thân, gia phả cũng không chép. Lấy căn cứ gì xác định Tùng Thiện Vương Miên thẩm có đi xa giá đức vua và đến viếng mộ nữ sĩ Hồ Xuân Hương?
Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy trong di sản thơ văn của Tùng Thiện vương (con trai thứ 10 của vua Minh Mạng, em trai vua Thiệu Trị, là nhà thơ nổi tiếng triều Nguyễn) , có tập thơ Nôm/hán tựa đề “Bắc hành thi tập” viết trong chuyến ra Bắc Thành, trong đó có chùm 14 thơ chữ hán “ Long Biên trúc chi từ”. Trong thời gian lưu lại tại đất Thăng Long (đặc biệt là khu vực ven Hồ Tây), ông đã đến viếng mộ nữ sĩ Hồ Xuân Hương và sáng tác bài thơ Long Biên Trúc Chi Từ (khổ 8 và 9) Bản dịch của Hoàng Xuân Hãn như sau: “Đầy hồ rực rỡ hoa sen/Sai người xuống hái để lên cúng dàng/Chớ trèo qua mộ Xuân Hương/Suối vàng còn giận tơ vương lỡ làng/ Sen tàn, phấn rữa, mồ hoang/Xuân Hương đã khuất bên làn cỏ xanh/U hồn say tít làm thinh/Gió xuân mấy độ thổi tình không hay”...
Bằng chứng này đã được các học giả và nhóm nghiên cứu chúng tôi sử dụng, để khẳng định thời điểm Tùng Thiện Vương ra Bắc Thành năm 1842 . Bài thơ “Long Biên trúc chi” đánh dấu mốc xác định Hồ Xuân Hương đã qua đời trước năm 1842 và phần mộ ở Hồ Tây.
Trở lại câu hỏi của ông Lâm “ Chính sử và gia phả không chép thì lấy căn cứ gì để các nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết Đội trưởng thủy binh Trần Sài là người di hài cốt nữ sĩ Hồ Xuân Hương về quê chồng ở Tam Kỳ Quảng Nam?
Cũng như 3 ví dụ viện dẫn ở trên, nhóm nghiên cứu chúng tôi đã tìm ra những căn cứ có liên quan đến Đội trưởng thủy binh Trần Sài quê ở làng Phú Quý Thượng xưa thuộc đất Tam Kỳ, Hà Đông, phủ Thăng Bình. Ông Sài có đi xa giá đức vua Thiệu trị ra Bắc Thànhh năm 1842 và đưa đoàn hải thuyền của tỉnh Thanh Hóa về kinh thành Phú Xuân khoảng tháng 10/1843 hay không?
Theo nghiên cứu của chúng tôi tại trang 285 Đệ Tam Kỷ quyển XV chính sử có chép có lực lượng thủy binh, đứng đầu là Đô đốc thủy sư Vũ Văn Từ Tham gia xa giá đức vua. Các binh đạo theo xa giá có 17. 412 nhân viên ( trong đó có cả bộ binh kỵ binh và thủy binh). Ông Trần Sài lúc đó là Ngoại úy Đội trưởng đội 1 vệ 2 Hữu doanh kinh kỳ thủy sư, chắc chắn có mặt trong số 17.412 nhân viên chắc chắn có mặt trong trong đoàn xa giá đức vua? Giả thiết này được chứng minh sau chuyển ra Bắc Thành năm Nhâm Dần (1842) Nhà vua có các đợt xét duyệt công trạng, ban thưởng cho hoàng thân, quan văn võ hộ giá và lực lượng thủy sư chỉ huy tàu kéo dài từ cuối năm 1842 đến tháng 7 năm 1843 ( Quý Mão)
Sự kiện này trùng với ngày 22 tháng 7 năm Thiệu Trị thứ 2 (1843) , ông Trần Sài được sắc phong từ cấp ngoại úy thăng cấp lên Đội trưởng. Đây là bằng chứng chứng minh Trần Sài có đi xa giá đức vua năm 1842.
Trong đợt xa giá đức vua, Tùng Thiện Vương Miên Thẩm đến viếng mộ nữ sĩ Hồ Xuân Hương ở Hồ Tây. Nhóm nghiên cứu đưa ra giả thiết là đội trưởng đội 1 vệ 2 Hữu doanh kinh kỳ thủy sư, nên Trần Sài có thể xa giá đức vua là các hoàng thân đi dạo chơi Hồ Tây bằng du thuyền.
Trong bài thơ “Long Biên Trúc Chi từ của Tùng Thiện Vương có câu thơ ““Đầy hồ rực rỡ hoa sen/Sai người xuống hái để lên cúng dàng,” cho thấy Tùng thiện vương không đi một mình viếng mộ Hồ Xuân Hương mà có người đi cùng. Có thể trong số người đi cùng Tùng Thiện Vương viếng mộ Hồ Xuân Hương có ông Trần Sài.
Tháng 8 năm 1843 sau mùa mưa bão ở phía Bắc, nhà vua cử thủy binh triều đình ra tỉnh Thanh Hóa đưa đoàn hải thuyền đóng mới về kinh thành Phú Xuân. Có thể Đội trưởng Trần Sài lại được cử ra Bắc Thành. Chính sử không chép, nhưng gia phả của họ Trần còn lưu được sắc phong từ Đội trưởng lên Thí sai Chánh đội trưởng Đội 6, vệ 2 lực lượng Thủy sư Kinh kỳ của ông Trần Sài ngày sắc phong/cấp văn bằng: 13/11/1843 (do Đô thống Thủy sư triều Nguyễn cấp). Sắc phong cấp này phù hợp vói thời gian chuyến công vụ của ông Trần Sài đưa hải thuyền của tỉnh Thanh Hóa về Kinh thành Phú Xuân.
Cũng trong chuyến đưa hải thuyền của tỉnh Thanh Hóa về kinh thành Phú Xuân , một giả thiết được nhóm nghiên cứu đưa ra, trước đó ông Trần Sài đã có mặt cùng Tùng Thiện Vương hái hoa sen viếng mộ nữ sĩ Hồ Xuân Hương, nên ông Trần Sài biết mộ nữ sĩ Hồ Xuân Hương ở Hồ Tây. Một giả thiết được đặt ra ông Trần Sài phải là người họ hàng ruột thịt với tử tù Trần Phúc Hiển ( có thể là cháu ruột con người anh trai thứ 2 của ông Trần Phúc Hiển, nhánh này vẫn giữu họ Trần, chỉ chi trưởng đã đổi sang họ Nguyễn , chính là Nguyễn Văn Phúng người xây dựng lăng mộ Giày. Chỉ có thể là người ruột thịt với tử tù Trần Phúc Hiển thì Đội trưởng Trần Sài mới dám mạo hiểm đưa dấu hài cốt người thím nữ sĩ Hồ Xuân Hương về quê chồng, chôn cất trong chính vườn nhà của ông Trần Phúc Hiển ở Tam Kỳ. Sự thật mộ 1850 có phải là dấu tích mộ nữ sĩ Hồ Xuân Hương do ông Trần Sài đưa về hay không, hiện sẽ được đánh giá bằng các ký hiệu trên bia mộ do nhóm nghiên cứu báo cáo và chờ UBND TP Đà Nẵng có cho phép Bảo tàng Quảng Nam khai quật lại mộ 1850 để lấy kết quả nghiên cứu khảo cổ đánh giá.
Trả lời câu hỏi vì sau 28 năm từ khi nữ sĩ Hồ Xuân Hương qua đời mới phát hiện đưa về xây dựng lăng mộ 1850 ở Tam Kỳ?
Theo nhóm nghiên cứu, vì Hồ Xuân Hương là vợ của tử tù Trần Phúc Hiển lại không có con cái, họ hàng ở làng Nghi Tàm, nên khi nữ sĩ qua đời phần mộ của nữ sĩ chỉ có gia đình người anh kết nghĩa là tử Minh chăm sóc . Chỉ đến năm 1842 ( 20 năm sau khi nữ sĩ qua đời) Tùng Thiện vương đến viếng mộ nữ sĩ và để lại bài thơ “Long biên trúc chi từ” người ta mới biết mộ Hồ Xuân Hương chôn ở Hồ Tây. Giả thiết Trần Sài là người di chuyển hài cốt nữ sĩ về quê chồng cũng là chuyện di chuyện mộ dấu diếm và chôn giấu trong vườn nhà ông Phúc Hiển chờ nghe động tĩnh và chuẩn bị kinh phí để xây lăng mộ cho người. Năm 1843 Trần Sài (2 lần được thăng chức có tiền thưởng), năm 1946 Trần Sài lại được thăng chức có tiền thưởng và năm 1850 Trần Sài lại được thăng chức và có tiền thưởng. Lúc này hài cốt nữ sĩ chôn giấu trong vườn nhà ông Phúc Hiển đã được 7 năm yên ổn, phần kinh phí của Trần Sài và gia tộc đóng góp đã đủ để xây dựng lăng mộ cho nữ sĩ. Mộ ghi 1850 chính là năm xây dựng lăng mộ, còn tên Huỳnh Hoàn Nhân trên bia mộ 1850 “大 南 顯 考 江 夏 𨛦 第 叄 郎 字 曰 黄 完 人 之 墓.” , còn đang là tranh luận bất đồng ý kiến, giữa nhóm nghiên cứu và Bảo tàng Quảng Nam cũ khi dịch bia mộ này.
(Còn nữa)