Đặng Bích Hà - Người bạn đời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Đặng Bích Hà (1928–2024) đi qua gần một thế kỷ nhiều biến động của đất nước. Là con gái đầu của học giả Đặng Thai Mai, bà tiếp nối truyền thống gia đình bằng công việc giảng dạy, nghiên cứu lịch sử. Là bạn đời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, bà cùng ông trải qua những năm dài kháng chiến và hòa bình. Qua hồi ức của người thân, học trò, đồng nghiệp, hiện lên một người phụ nữ thông tuệ, khiêm nhường, có đời sống tinh thần phong phú và một tình yêu bền bỉ.
834131119-1771225410871141-6363489090021446977-n-1791259817.jpg

1. Từ nếp nhà có những người thầy

Ngày 04/4/1928, Đặng Bích Hà chào đời ở quê nội thuộc huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Bà là con gái đầu của Giáo sư Đặng Thai Mai và bà Hồ Thị Toan. Phía nội có ông nội Đặng Nguyên Cẩn, một nhà giáo, chí sĩ; phía ngoại có học giả Hồ Phi Huyền. Những người ấy đem đến cho nếp nhà một truyền thống học hỏi gắn với ý thức về đất nước. Đối với Bích Hà, giáo dục bắt đầu trong gia đình, trước cả những bài học ở nhà trường.

Trong hồi ký “Cô bé nhìn mưa”, Đặng Thị Hạnh, em gái bà, kể lại đời sống của một gia đình nhiều sách. Người cha uyên bác cũng là người cha gần gũi, khuyến khích các con suy nghĩ độc lập. Người mẹ chăm lo sinh hoạt, giữ sự ấm áp của gia đình giữa những thời đoạn khó khăn. Sách và tình thân cùng nuôi dưỡng tuổi thơ những người con Đặng Thai Mai. Đó là những yếu tố giúp chúng ta hiểu nền tảng văn hóa mà Bích Hà được thừa hưởng.

Một gia đình có truyền thống học thuật thường được nhìn từ những học vị và công trình của các thành viên. Nhưng điều được truyền từ đời này sang đời khác còn nằm ở cách người lớn đối xử với tri thức: có chịu đọc đến cùng một cuốn sách, có biết lắng nghe ý kiến khác mình, có xem việc học là bổn phận lâu dài hay không. Nhìn cuộc đời Đặng Bích Hà, có thể thấy giá trị của sự giáo dục ấy trong lựa chọn nghề nghiệp và cách bà sống với người khác.

Bà được học ở Trường Albert Sarraut tại Hà Nội. Những năm thiếu thời, Bích Hà đã biết Võ Nguyên Giáp qua quan hệ thân thiết của ông với gia đình. Khi ấy, người về sau trở thành Tổng Tư lệnh là một người thầy, một trí thức yêu nước. Bà từng nhớ lại những lần ông đưa mình đến sân vận động Hàng Đẫy tập thể thao. Sau những năm tản cư, năm 1945, bà trở lại Hà Nội và gặp lại ông giữa một hoàn cảnh đã khác trước.

Sự gặp gỡ ấy diễn ra trong bước ngoặt của cả dân tộc. Những người trẻ như Bích Hà đứng trước một cuộc sống đang mở ra cùng nền độc lập, đồng thời phải đối diện những thử thách rất gần. Việc học, công việc, tình yêu và trách nhiệm với đất nước không còn là những lựa chọn có thể tách rời. Đời riêng của bà cũng từ đây đi vào một hành trình gắn chặt với lịch sử.

2. Cuộc hôn nhân trước mùa kháng chiến

Cuối năm 1946, Võ Nguyên Giáp và Đặng Bích Hà tổ chức lễ cưới giản dị tại Hà Nội. Theo lời kể của bà Võ Hòa Bình được Báo Thanh Niên ghi lại, lễ cưới diễn ra trong ngôi nhà dành cho hiệu trưởng, ở khuôn viên Trường Trưng Vương ngày nay, nơi cụ Đặng Thai Mai ở và làm việc. Bác sĩ Trần Duy Hưng làm chủ hôn. Chỉ ít tuần sau, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ.

Bích Hà bước vào cuộc hôn nhân khi mới mười tám tuổi. Người chồng đã trải qua nỗi đau mất người vợ đầu, nhà cách mạng Nguyễn Thị Quang Thái, và đang gánh trọng trách lớn. Điều ấy đặt trước người vợ trẻ những thử thách mà tuổi tác khó giúp bà chuẩn bị đầy đủ. Để đi cùng một người như Võ Nguyên Giáp, tình yêu phải có khả năng chia sẻ cả những khoảng vắng, những lo âu và những điều không thể nói hết trong đời thường.

Theo chồng lên Việt Bắc, bà tham gia đời sống kháng chiến. Đặng Thị Hạnh kể rằng người chị của mình cũng lấy củi, lấy nứa dựng lán, sống gần gũi với các gia đình dân tộc thiểu số. Cách sống giản dị được giữ lại khi bà trở về Hà Nội và cả lúc tuổi cao. Những lời kể của người em giúp hình dung cụ thể hơn một thời đoạn thường chỉ được tóm tắt bằng hai chữ “hậu phương”.

vo-chong-dai-tuong-vo-nguyen-giap-1949-2read-only-17265877315801580012075-1791260135.jpg
Vợ chồng Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các con thời trẻ (ảnh tư liệu).

Ở đây, hậu phương có lao động, có những điều phải học, có trách nhiệm trước cộng đồng. Một người phụ nữ xuất thân từ môi trường học đường Pháp chuyển sang đời sống căn cứ kháng chiến phải tự thích nghi với nhiều thiếu thốn. Chính những công việc ấy cho thấy sự gắn bó của bà với cuộc sống chung. Bà có mặt trong cuộc kháng chiến bằng phần việc của mình.

Một kỷ niệm được Đại tá Nguyễn Hữu Tài kể lại đặc biệt đáng chú ý. Khi tới nơi ở và làm việc của Tổng Tư lệnh, ông thấy bà Bích Hà đang đọc bản tiếng Pháp cuốn “Bàn về chiến tranh” của Clausewitz cho chồng nghe. Câu chuyện được ghi lại qua hồi ức của người chứng kiến, cho thấy giữa hai người có sự chia sẻ về tri thức ngay trong điều kiện chiến khu.

Hình ảnh ấy làm rõ thêm mối quan hệ vợ chồng của họ. Người đọc và người nghe cùng ở trong thế giới của sách, cùng dành sự chú ý cho một vấn đề. Vốn ngoại ngữ và khả năng đọc của Bích Hà đã trở thành một sự hỗ trợ cụ thể. Từ góc nhìn này, có thể hiểu vì sao về sau bà tiếp tục tham gia công việc tư liệu và chuyển ngữ bên cạnh Đại tướng.

3. Trở lại giảng đường bằng sự chuyên cần

Hòa bình lập lại ở miền Bắc, Đặng Bích Hà tiếp tục con đường học tập. Theo điếu văn do Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Nguyễn Đức Sơn trình bày tại lễ truy điệu năm 2024, bà học Khoa Lịch sử của trường từ năm 1955 đến năm 1957. Tốt nghiệp loại giỏi, bà được giữ lại làm giảng viên bộ môn Lịch sử thế giới. Bà được kết nạp vào Đảng năm 1959, được phong Phó giáo sư năm 1984 và nghỉ hưu tháng 10/1993.

Những mốc ấy xác lập một hành trình nghề nghiệp cần được nhìn nhận đầy đủ. Trong khi công chúng biết nhiều đến người vợ của Đại tướng, ở giảng đường bà có một trách nhiệm khác: chuẩn bị bài, truyền đạt kiến thức, giúp sinh viên hình thành cách học và cách nghiên cứu. Công việc của một nhà giáo đòi hỏi sự đều đặn. Danh tiếng của gia đình không thể thay cho một bài giảng được chuẩn bị cẩn thận.

Người học lịch sử phải làm việc với sự kiện, thời gian, nguyên nhân và hệ quả. Khi giảng dạy lịch sử thế giới, người thầy còn phải giúp sinh viên hiểu những xã hội khác với môi trường mình đang sống. Đó là công việc cần khả năng đọc, so sánh và diễn đạt. Sự lựa chọn của Bích Hà đưa truyền thống học thuật gia đình sang một lĩnh vực riêng, bên cạnh những người em hoạt động trong nghiên cứu văn học.

3-dai-tuong-va-phu-nhan-tren-may-bay-1791260285.jpg
↵ Đại tướng Võ Nguyên Giáp và bà Đặng Bích Hà trong một chuyến đi thăm lại chiến trường xưa.

Có một dấu vết thư mục cụ thể của công việc ấy: Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội lưu cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?” của N.G. Đairi, xuất bản tại Nhà xuất bản Giáo dục năm 1973, ghi tên Đặng Bích Hà là người dịch. Chỉ riêng nhan đề đã cho thấy sự quan tâm đến việc tổ chức một giờ học lịch sử. Đây là căn cứ rõ ràng để nhắc đến đóng góp dịch thuật của bà trong lĩnh vực giáo dục.

Dịch một tài liệu về phương pháp giảng dạy là đưa kinh nghiệm từ một môi trường giáo dục đến người đọc của môi trường khác. Người dịch cần hiểu thuật ngữ, nội dung chuyên môn và cách diễn đạt phù hợp với đối tượng sử dụng. Một cuốn sách như vậy cũng nhắc chúng ta rằng công việc sử học không kết thúc ở việc biết sự kiện. Tri thức còn cần được chuyển thành những bài học có thể giúp người khác hiểu và tiếp tục tìm tòi.

Trong sự nghiệp của một nhà giáo, ảnh hưởng thường lan đi qua học trò và những tài liệu được sử dụng. Có những đóng góp không hiện thành một danh hiệu nổi bật, nhưng vẫn ở lại trong cách người học đặt câu hỏi, tìm nguồn và chuẩn bị bài. Với Đặng Bích Hà, công việc ở giảng đường là một phần quan trọng của chân dung, cần được đặt cạnh đời sống gia đình để thấy hết sự tận tâm của bà.

4. Tìm hiểu lịch sử những đất nước láng giềng

Từ lịch sử thế giới, Đặng Bích Hà đi sâu vào nghiên cứu Đông Nam Á. Năm 1973, bà góp phần xây dựng Ban Đông Nam Á, tiền thân của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á. Trong điếu văn tại lễ truy điệu, Hiệu trưởng Nguyễn Đức Sơn nhắc đến những hướng nghiên cứu của bà: lịch sử Lào, lịch sử và văn hóa các nước Đông Dương, quá trình công nghiệp hóa của Thái Lan. Đó là những nội dung cụ thể giúp nhận diện phạm vi công việc khoa học của bà.

Một căn cứ thư mục khác là công trình “Về lịch sử – văn hóa ba nước Đông Dương”, xuất bản năm 1983, do Phạm Nguyên Long và Đặng Bích Hà chủ biên cùng sự tham gia của các tác giả. Việc tên bà hiện diện trên một công trình tập thể cho thấy vai trò trong hoạt động nghiên cứu chuyên môn. Trang tên sách lưu lại một phần công việc chuyên môn của bà, để người đọc hôm nay có thể tìm hiểu tiếp những vấn đề bà từng theo đuổi.

Lịch sử các nước láng giềng là lĩnh vực gần gũi về địa lý nhưng đòi hỏi người nghiên cứu vượt qua cách nhìn quen thuộc. Mỗi quốc gia có hành trình riêng, những điều kiện xã hội và văn hóa riêng. Muốn hiểu quan hệ giữa các dân tộc, phải hiểu cả những khác biệt ấy. Từ nhan đề và phạm vi công trình, có thể thấy hướng tiếp cận đặt lịch sử cạnh văn hóa, mở ra nhiều câu hỏi hơn việc chỉ liệt kê những biến cố chính trị.

Với một người đã sống qua chiến tranh như Bích Hà, việc nghiên cứu khu vực còn đặt đời sống cá nhân trong một không gian rộng hơn. Những đất nước gần Việt Nam cũng có quá khứ thuộc địa, chiến tranh, những nỗ lực xây dựng cuộc sống mới. Tuy nhiên, kinh nghiệm riêng của nhà nghiên cứu chỉ có thể giúp gợi câu hỏi; câu trả lời vẫn phải đi qua tư liệu. Đó là yêu cầu của nghề sử mà mỗi thế hệ đều phải giữ.

Công việc nghiên cứu của bà được thực hiện cùng đồng nghiệp, trong những chương trình và công trình tập thể. Tên một người trên trang sách ghi lại một phần của quá trình ấy: những lần đọc tài liệu, trao đổi, tổ chức bản thảo và hoàn thiện nội dung. Đằng sau một kết quả xuất bản là sự bền bỉ của nhiều người. Đặng Bích Hà đã góp công sức của mình vào đời sống học thuật như vậy.

Trong bộ sách về danh nhân họ Đặng, phần sự nghiệp này còn cho thấy sự tiếp nối của một truyền thống. Từ nếp nhà Đặng Thai Mai, Bích Hà bước vào môi trường nghiên cứu tập thể, góp kiến thức và công sức cho những vấn đề vượt khỏi phạm vi gia đình. Di sản của dòng họ vì thế được nhìn qua việc học, việc làm và trách nhiệm mà từng người lựa chọn.

5. Giữ tư liệu bên người làm nên lịch sử

Đặng Bích Hà còn hỗ trợ Đại tướng Võ Nguyên Giáp nghiên cứu, tổng hợp tin tức, sắp xếp tư liệu, viết hồi ký và chuyển các tác phẩm sang tiếng Pháp. Điếu văn tại lễ truy điệu gọi bà là người “trợ lý đặc biệt”. Danh xưng ấy diễn tả một công việc gần gũi, diễn ra trong đời sống hằng ngày, đồng thời có giá trị đối với việc lưu giữ và truyền đạt ký ức lịch sử.

Khi Trung tướng Phạm Hồng Cư thực hiện phần hồi ức về thời trẻ của Võ Nguyên Giáp, ông nhận được nhiều sự giúp đỡ từ bà. Theo lời ông được Báo Thanh Niên ghi lại, Đại tướng trực tiếp kể chuyện, còn bà Bích Hà góp thêm những thông tin và hỗ trợ việc thể hiện cuốn sách. Mối quan hệ lâu năm với gia đình và kiến thức sử học khiến bà có thể tham gia vào công việc ấy ở một vị trí đặc biệt.

Ký ức của một nhân vật lịch sử cần được ghi lại trước khi những người chứng kiến lần lượt ra đi. Nhưng ký ức cũng cần được đối chiếu. Một câu chuyện có thể rất rõ trong cảm xúc mà mốc thời gian đã mờ; một sự việc được nhiều người nhớ theo những góc nhìn khác nhau. Vì vậy, công việc tư liệu có ý nghĩa riêng: tìm căn cứ, đặt chi tiết vào hoàn cảnh, giữ sự thận trọng trước điều chưa đủ chắc chắn.

834167006-1796418424825407-3670987720703575312-n-1791260370.jpg
Hạnh phúc bên nhau những năm cuối đời...

Ở bên Đại tướng, Bích Hà có điều kiện hiểu con người trong đời thường, cùng những quan hệ gia đình đã có từ trước chiến tranh. Khi tham gia hỗ trợ hồi ức, bà góp vào quá trình nối những phần đời ấy với câu chuyện lịch sử rộng lớn. Người đọc nhờ đó có thể tiếp cận một nhân vật qua nhiều phương diện, hiểu thêm nền tảng văn hóa và tình cảm của người đã gánh trọng trách quốc gia.

Theo hồi ức của các con được Báo Quân đội nhân dân ghi lại, bà trực tiếp tham gia dịch những tác phẩm quan trọng của Đại tướng sang tiếng Pháp và cùng ông chỉnh sửa các bản dịch của người khác. Đây là công việc cần sự hiểu biết cả nội dung lẫn ngôn ngữ. Một ý tưởng được chuyển sang ngôn ngữ khác phải giữ được độ chính xác, đặc biệt khi liên quan đến chiến tranh, chính trị và những hoàn cảnh lịch sử cụ thể.

Những đóng góp ấy thường ít được công chúng biết đến, bởi người đọc trước hết nhớ tên tác giả của hồi ký hay tác phẩm. Dẫu vậy, lịch sử của một cuốn sách còn có những người giúp thu thập, kiểm tra, sắp xếp và chuyển ngữ. Khi ghi nhận Đặng Bích Hà, cần dành cho công việc này một vị trí xứng đáng. Nó cho thấy tri thức của bà được sử dụng bền bỉ, ngay trong sự đồng hành với chồng.

6. Một gia đình được nuôi dưỡng bằng sự quan tâm

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đặng Bích Hà có bốn người con: Võ Hòa Bình, Võ Hạnh Phúc, Võ Điện Biên và Võ Hồng Nam. Trong gia đình còn có Võ Hồng Anh, con gái của Đại tướng và liệt sĩ Nguyễn Thị Quang Thái. Khi nhìn những bức ảnh chung của gia đình, người đọc nhận ra một đời sống có nhiều thế hệ, nhiều mối quan hệ được gìn giữ qua năm tháng.

Đặng Thị Hạnh từng giải thích rằng Hồng Anh gọi Bích Hà là “cô Hà” từ nhỏ, và cách gọi ấy được giữ lại sau khi bà kết hôn với Võ Nguyên Giáp. Người em cũng kể về tình thương của chị dành cho Hồng Anh, cùng nỗi đau khi người con ấy qua đời. Những hồi ức này giúp hiểu sự thân thiết của gia đình qua cách ứng xử thực tế, thay vì suy đoán từ một danh xưng.

Một tiếng gọi trong gia đình có lịch sử của nó. Điều cần nhìn sâu hơn là người được gọi có quan tâm, chia sẻ và che chở hay không. Trong mối quan hệ giữa Bích Hà và Hồng Anh, sự tôn trọng ký ức về người mẹ đã mất cũng là một phần của tình thương. Gia đình đi qua mất mát bằng cách giữ những người đã khuất trong sự nhớ thương, đồng thời chăm sóc những người đang sống.

Ông Võ Đại Hàm, người thân của Đại tướng, nhớ những bữa cơm ít món, những lần được ông bà hỏi thăm và căn dặn việc học. Khi sống xa gia đình hay ở ký túc xá, ông vẫn nhận được sự quan tâm ấy. Qua lời kể được Tuổi Trẻ ghi lại, Bích Hà hiện lên như một người bà gần gũi, hóm hỉnh, chú ý đến những điều cụ thể trong đời sống con cháu.

Những lời dặn học hành, cách cư xử trong bữa ăn, sự hỏi thăm khi một người trẻ sống xa nhà là những việc nhỏ. Nhưng chính sự đều đặn khiến chúng có sức giáo dục. Đứa trẻ cảm thấy mình được nhớ đến; người lớn tuổi truyền kinh nghiệm mà không cần một bài diễn thuyết. Nếp nhà hình thành từ những lần gặp gỡ ấy và theo người trẻ khi họ trưởng thành.

Trong hồi ức của các con, bà cũng giữ cách sống giản dị khi dự sự kiện hoặc tiếp khách. Một câu chuyện khác là chiếc nhẫn bà tặng con dâu Thúy Hường. Bà nói mình chỉ có một chiếc để tặng con. Chi tiết được người trong gia đình kể lại làm hiện rõ sự chân tình trong một món quà, cùng phong thái không cầu kỳ của người phụ nữ đã sống nhiều năm bên một vị lãnh đạo nổi tiếng.

Viết về Bích Hà, những chi tiết ấy giúp chân dung có hơi ấm. Ta thấy một người có học thức cao trong quan hệ với con cháu, thấy cách bà đem sự tinh tế vào những việc thường ngày. Phần đời gia đình và phần đời khoa học cùng thuộc về một con người. Sự chăm sóc người thân cũng đòi hỏi kiên nhẫn, khả năng lắng nghe và trách nhiệm, những phẩm chất có thể nhận ra trong công việc của bà.

7. Ráng biếc ở lại trong ký ức

Trong hồi ức của Đặng Thị Hạnh, tên Bích Hà được giải thích là “Ráng biếc”. Người em cũng kể một lần hỏi chị về hạnh phúc lớn nhất của đời mình. Câu trả lời của Bích Hà rất ngắn: “Là chị đã có anh Văn”.

Câu nói ấy thuộc về lựa chọn của bà, được người thân ghi lại. Sau nhiều năm chung sống, bà vẫn gọi chồng bằng tên thân mật. Đối với một người đã có học vấn, nghề nghiệp và những trải nghiệm riêng, sự khẳng định ấy càng đáng trân trọng. Nó cho thấy bà nhìn cuộc đời mình từ sự gắn bó mà bà quý nhất.

Đại tướng cũng giữ sự quan tâm đối với vợ. Theo tư liệu báo chí, vào dịp kỷ niệm ngày cưới 27/11, ông nhờ con gái mua hoa tặng bà. Trong những năm ông dưỡng bệnh, bà chăm sóc và chuyện trò cùng ông. Đến tuổi già, tình yêu hiện diện qua việc nhớ một ngày, dành thời gian cho nhau và cùng chịu đựng những giới hạn của sức khỏe.

Ngày 17/9/2024, PGS.TS Đặng Bích Hà từ trần, hưởng thọ 96 tuổi. Ngày 29/9/2024, bà được an táng bên Đại tướng tại Vũng Chùa – Đảo Yến, Quảng Bình. Trong lời tiễn biệt, bà Võ Hòa Bình nói về mong muốn được đồng hành bên nhau của cha mẹ và sự nhẹ lòng của gia đình khi thực hiện ý nguyện ấy.

Cuộc đời bà khép lại, còn những công trình, hồi ức và tình cảm của người từng gặp bà tiếp tục giúp các thế hệ sau hiểu về một người phụ nữ của thế kỷ XX. Một nhà giáo đã trở lại học tập sau kháng chiến; một nhà sử học tham gia nghiên cứu những đất nước láng giềng; một người vợ góp sức vào việc gìn giữ tư liệu; một người mẹ, người bà chăm lo cho gia đình. Những phương diện ấy làm nên chân dung Đặng Bích Hà.

Ghi tên bà trong bộ sách “Danh nhân họ Đặng Việt Nam xưa và nay” là một cách nhìn đầy đủ hơn vào sự tiếp nối của truyền thống trí thức. Giá trị ấy đi từ giáo dục trong gia đình đến giảng đường, từ trang sách đến việc làm cụ thể. Đặng Bích Hà đã sống phần đời của mình bằng sự chuyên cần và tình thương. Ráng biếc mà người cha gửi vào tên con gái còn ở lại trong những ký ức ấy, dịu dàng mà bền lâu.

Hà Nội, 06/10/2026
Đặng Vương Hưng
(Rút từ bộ sách "Danh nhân họ Đặng Việt Nam xưa và nay" đang tổ chức bản thảo. Kính mời bà con trong và ngoài họ Đặng: Ai có tâm thì tài trợ và đồng hành, để lưu danh mãi cùng con cháu mai sau).