Dấu ấn cuộc đời (Phần 11): Trận đánh của hai năm

Trong khoảnh khắc sinh tử, khẩu K70 bất ngờ không nổ, buộc người lính đặc công phải phản ứng thật nhanh để thoát hiểm và tiếp tục trận đánh.

Theo phản xạ sinh tử của một người lính đặc công, tôi lập tức đối mặt với hắn ở khoảng cách chỉ chừng hai mươi phân. Tay phải tôi đã thủ sẵn khẩu K70, lập tức bóp cò! Tạch! Đạn thối lép, súng không nổ! Trong khoảnh khắc sinh tử ấy, tôi phản ứng theo bản năng, dùng khẩu súng đẩy tên địch ra, đồng thời nhanh chóng chuyển người sang bên phải để thoát khỏi tình thế nguy hiểm. Tên địch bất ngờ ngã bật ra sau. Ngọn đuốc trên tay hắn tung lên không trung rồi rơi xuống đất, tắt ngóm. Bọn đi cùng hoảng loạn chạy vào trong nhà. Tôi lập tức di chuyển về phía vị trí của Bá để tiếp tục chiến đấu.

Tôi trở về Trường Văn hóa Quân khu 5 để hoàn thành nốt chương trình cấp ba, bởi ngày lên đường nhập ngũ, việc học của tôi còn dang dở. Sau hai năm miệt mài học vượt ba lớp, vừa thi xong và cầm chắc tấm bằng tốt nghiệp trong tay thì tôi nhận được quyết định từ Quân khu: về làm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 409 Đặc công. Quyết định này không làm tôi quá bất ngờ. Trước đó, tôi đã nghe anh Dâng – Trưởng phòng Đặc công Quân khu – than phiền. Tôi còn nhớ như in hình ảnh anh ngồi xổm trên ghế, đeo kính chăm chú đọc những công thức Lý, Hóa rồi kêu rắc rối khi tôi đến thăm anh lúc anh đang thanh toán cấp hai.

Anh bảo: “D409 và D407 khi mới sang đánh được một vài trận… nhưng gần hai năm nay địch đã cảnh giác, gài mìn quá phức tạp nên anh em chưa đánh được trận nào. Quân khu đang nhắc nhở dữ quá. Kiểu này cậu phải về thôi, không học hành gì nữa!”.

Tôi lại nhớ đến mấy đứa cùng đơn vị về học chung phân khoa với anh kể lại chuyện anh kiểm tra môn Hóa. Anh bày sẵn bảng công thức trước mặt, đeo kính ngồi trầm ngâm. Khi cô giáo đến nhắc: “Chú cất công thức đi chứ”, anh liền trả lời: “Thế này mà tôi còn làm chưa nổi, giờ cất đi thì làm sao mà làm được nữa!”. Cô Ngọc mỉm cười xòa rồi mặc cho anh làm bài.

Chắc hẳn chính anh đã đề nghị kéo tôi về đơn vị. Đối với tôi, đây là một sự thiệt thòi vì hành trình vào học viện bị chậm lại. Nhưng nhìn ở góc độ khác, đó lại là niềm tin lớn lao mà anh – một người thủ trưởng dày dạn bản lĩnh, đầy ắp chiến công từ thời chống Mỹ – đã gửi gắm nơi tôi. Vì vậy, trong lòng tôi thật sự cảm thấy vui và sẵn sàng lên đường hướng về chiến trường K.

Hôm chia tay lớp, có đông đủ bạn học và thầy cô giáo, mọi người hò hát rất vui vẻ. Đến lượt mình, tôi bước lên ngâm bài thơ vừa viết vội để chia sẻ nỗi lòng với cả lớp:

“Ta lại trở về đây sau những tháng năm trường chinh chiến!
Lửa gian nan đã tôi luyện tuổi xuân đời.
Tưởng đã đủ rồi! Nhưng đâu chỉ thế thôi!
Phải học nữa để chắp thêm đôi cánh mới!
Trên trang sách hôm nay mỗi khi giành thắng lợi!
Sẽ là một cái chìa, mở một loại khóa đến tương lai.
Đường cách mạng gian truân tới đích còn dài!
Ta phải dám lao thân vào những nơi nan giải nhất!
Từ thực tế hôm nay phải bay lên đón đầu khoa học,
Để sức mạnh anh hùng theo thời đại được nhân lên.
Rồi mai đây, nơi hải đảo, chốn biên cương!
Sức mạnh mới ta sẽ nhân lên ở muôn lần người chiến sĩ!
Phải bay cao và xa hơn những ngày vẻ vang đánh Mỹ!
Để gìn giữ non sông mãi mãi thanh bình!
Ta vững bước dưới cờ Đảng quang vinh,
Quyết chí đến cùng vì Tổ quốc hy sinh!”

Những tiếng vỗ tay cổ vũ rộn rã, những lời khen và lời chúc chia tay chan chứa nghĩa tình của lớp học dành cho người lính trước khi ra trận.

785688782-3215662172157162-8903321320966995899-n-1790599286.jpg
Đại tá Nguyễn Tiến Dũng (bên trái) và anh Nguyễn Văn Điệu (bên phải), Hiệu trưởng Trường Quân sự Quân khu 5. Ảnh: NVCC.

Tôi về Phòng Đặc công Mặt trận 579, gặp lại những cán bộ thân quen từ lâu. Không khí ngay từ phút đầu tiên đã ngập tràn sự vui vẻ, thân tình. Việc tôi về làm Tiểu đoàn phó 409 thì ai cũng đã biết, nên sau những lời hỏi thăm, câu chuyện nhanh chóng chuyển sang tình hình cán bộ của tiểu đoàn, chuyện đánh giặc và địa bàn hoạt động. Sau đó, tôi được đưa về hậu cứ của đơn vị ở bên kia sông Tônlê San, cách khoảng hơn chục cây số.

Lúc này, đơn vị đã chuyển hẳn lên khu vực Ba Biên (Lào – Thái Lan – Campuchia). Hậu cứ chỉ còn là nơi trung gian phục vụ cho anh em dừng chân trong các đợt đi phép hoặc đi công tác. Tôi phải nằm chờ ở đây để hội quân đầy đủ: anh May, Tiểu đoàn trưởng, đang về họp, cùng các cán bộ đi phép, đi công tác chuẩn bị lên. Tiện thể, chúng tôi sẽ chuyển cơ bản gần như toàn bộ lực lượng lên phía trước, không duy trì trạm trung gian này nữa (vì cấp trên cho rằng đây là một trong những nguyên nhân cản trở việc hoàn thành nhiệm vụ ở tuyến trước).

Những ngày nằm chờ, tôi có thời gian ngẫm nghĩ và hiểu ra nhiều vấn đề. Tôi tự hứa phải góp sức mình để củng cố lại đơn vị.

Thế rồi cũng đến lúc hành quân về cứ. Xe tải chở quân của tôi đến Mường Mun – một thị trấn của nước bạn Lào. Nơi đây không sầm uất nhưng lại vô cùng thơ mộng và thấm đẫm tình người. Nghe anh em cấp dưới đi công tác kể lại, chỉ cần gọi ca nô trên sông là họ sẵn sàng ghé vào chở đi giúp. Vào ở nhà sàn của người dân thì ấm áp như về chính nhà mình; muốn ăn cứ ăn và mỗi người khách đều được gia chủ chuẩn bị sẵn một tấm nệm đặt trên sàn.

Người Lào coi đạo Phật là “Quốc đạo”. Sáng ra, các gia đình – thường là các cô con gái – lại ra đường chờ các đoàn tăng ni đi khất thực. Họ cung kính cúi đầu, không dám nhìn mặt sư, nhẹ nhàng bỏ đồ ăn vào bình bát với sự kính trọng tuyệt đối.

Với thói quen của mình, khi về một đơn vị mới, bao giờ tôi cũng phải kiểm chứng thực tế để đánh giá đúng năng lực, từ đó có hướng sử dụng cán bộ và các đơn vị thuộc quyền cho hợp lý. Tôi lần lượt cùng các đại đội đi tìm địch theo chỉ thị của cấp trên, dựa vào các tọa độ cung cấp sẵn mà chẳng rõ nguồn gốc từ đâu. Có những chuyến đi kéo dài từ một tuần đến hơn chục ngày, chúng tôi vượt biên, luồn sâu vào những nơi được thông báo là “có sinh lực cao cấp của địch”, nhưng kết quả đều trống không, không có gì cả.

Qua những chuyến lội rừng ấy, tôi chú ý quan sát để tìm ra ưu và nhược điểm của quân mình. Từ kinh nghiệm xương máu, tôi nhận ra rằng: dù có cán bộ tiểu đoàn cùng đi, cán bộ đại đội vẫn phải chuẩn bị mọi mặt trên bản đồ, phải kẻ lược đồ, định vị các điểm nghỉ và vạch ra các bước cụ thể cho nhiệm vụ như thể không có chỉ huy cấp trên đi cùng.

807485420-3233677367022309-125117566681017920-n-1790599301.jpg
Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 407 Đặc công thời chiến trường K chụp ảnh lưu niệm cùng Thượng tướng Trương Thiên Tô, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, thế hệ sau của Tiểu đoàn Đặc công 407, trong ngày gặp mặt truyền thống. Từ trái sang phải: Dũng – Trường – Tô – Hóa – Hài. Ảnh chụp ngày 12/8/2026. Ảnh: NVCC.

Mỗi khi dừng nghỉ qua từng cung chặng, tôi lại hỏi anh em về vị trí hiện tại và ý định cắt rừng tiếp theo. Thấy tôi không cần nhìn bản đồ mà vẫn biết và chỉ ngay ra được cái sai của họ, anh em ngạc nhiên hỏi: “Sao anh không xem bản đồ mà lại biết chính xác như vậy?”.

Tôi ôn tồn giải thích: “Trước khi đi, mình phải nghiên cứu thật kỹ bản đồ. Phải kẻ lược đồ để hình dung địa hình trong đầu. Phải biết đoạn nào là đi trên dông, đoạn nào là đi nghiêng sườn núi và dốc về hướng nào. Đi từ điểm A đến điểm B mất khoảng mấy tiếng. Ngoài ra, còn phải nắm chắc địa hình nơi mình sắp đến là rừng xanh hay bãi tráng, rừng non hay rừng già; có mấy con suối và hướng chảy của chúng ra sao… Đoạn nào có rừng tre gai hoặc vách dốc đứng không đi được thì phải chỉnh hướng ngay từ khi kẻ lược đồ”.

Tôi kết luận: “Phải nhớ địa hình như thể mình đã từng đi qua đó rồi. Có như vậy, khi cắt rừng đến vị trí đó trong khoảng thời gian nhất định, mình mới có thể đoán biết được là đang đi đúng, đi sai, hay bị lệch về bên phải, bên trái”.

Qua quá trình đi thực tế, tôi đúc kết được lý do: Ta không đánh được địch là vì không tìm ra địch! Mà nguyên nhân không tìm ra không phải hoàn toàn do quân mình, một phần là do thông tin cung cấp về địch chưa chính xác. Thứ hai là cần phải rà soát lại các hướng quân ta đã đi và chưa đi… liệu anh em có đi sai hướng hoặc đi chưa đến nơi đến chốn hay không.

Sau hai tháng đi kiểm chứng thực địa, chúng tôi nhận được điện khẩn của cấp trên với nội dung: Tiểu đoàn 409 phải đánh thắng một trận để chào mừng ngày 22/12. Ban Chỉ huy Tiểu đoàn họp bàn vô cùng căng thẳng. Việc đánh theo mệnh lệnh trong khi chưa có mục tiêu cụ thể, chưa có sự chuẩn bị kỹ càng là điều tối kỵ trong nghệ thuật tác chiến “lấy ít địch nhiều” của bộ đội Đặc công.

Trước tình thế đó, tôi chủ động đề xuất: “Bây giờ chỉ còn một cách: Cho quân lên đường ngay. Trinh sát đi trước tìm mục tiêu, khi phát hiện được mục tiêu thì trinh sát chỉ huy luôn và kéo lực lượng từ vị trí tập kết vào đánh ngay lập tức!”. Sau khi thảo luận, tất cả Ban Chỉ huy đều nhất trí với phương án của tôi.

Tôi lấy mật ngữ chỉ huy ra tự biên soạn và quy ước lại: từ số lượng, đơn vị cho đến tên cán bộ… để khi cần tiếp viện hay thay thế, thông tin có thể truyền đạt gọn nhất qua máy bộ đàm hai oát (vì nếu dùng máy hai oát liên lạc quá lâu, địch sẽ định vị được tọa độ của ta). Mục tiêu lần này tôi nhắm tới là khu vực Ba Biên nằm sâu trên đất Thái Lan – nơi mà từ lâu nay quân ta chưa từng đặt chân vào được.

Suốt ba ngày hành quân, chúng tôi cắt rừng liên tục cả ngày. Đêm đến thì ngủ tạm bợ. Anh em ăn gạo sấy, uống nước lạnh, tuyệt đối không có một đốm lửa (tất cả không dùng lửa, không ai nói tiếng người mà chỉ phát âm bằng tiếng gió để giữ bí mật).

Địa điểm được chọn làm nơi tập kết là một con suối cạn. Bên phải chúng tôi là cứ điểm 502 của địch (nơi chúng bố trí cả súng DKZ và trận địa cối). Tôi cho quân triển khai đội hình hai bên bờ suối, tổ chức ăn ở và canh gác nghiêm mật, rồi lập tức tổ chức đội hình trinh sát chỉ huy lên đường bám mục tiêu.

Chúng tôi bám theo sườn núi lổm nhổm đá tai mèo và cây rừng già, có những đoạn xen lẫn rừng non cây cối xanh tốt. “Báo cáo, có bãi mìn!” – Trung, Trung đội trưởng Trinh sát, khẽ quay lại báo cáo.

Tôi vẫn ra lệnh cho anh em tiếp tục cắt rừng theo góc phương vị đã định. Sau khi khéo léo vượt qua được ba bãi mìn dày đặc của địch, chúng tôi cũng lên đến đỉnh dông núi. Tại đây, các lối đường mòn và đường xe bò đã xuất hiện. Điều này báo hiệu khu vực bãi mìn đã hết và khả năng cao sắp chạm trán với địch. Cả đội tiếp tục cảnh giới cao độ để vượt qua con đường, rồi chui sâu vào một khu rừng già với hy vọng tìm được cơ quan đầu não hoặc mục tiêu cao cấp của địch.

Ầm!!!

Một tiếng nổ chát chúa vang lên. Theo phản xạ tự nhiên của một người lính trận, tôi đã ngồi thụp xuống từ lúc nào. Khi định thần nhìn lại, tôi thấy Trung bị thương nằm phía trước, Hải cũng bị thương ở phía sau. Cả hai người đều nhìn tôi, dồn dập hỏi: “Anh có sao không?” mà chưa kịp nhìn xem bản thân mình bị thương tích ra sao.

Đội hình trinh sát chỉ huy lúc đó gồm có 7 người. Trung – Trung đội trưởng Trinh sát đi đầu tiên, tiếp theo là một chiến sĩ, tôi đi ở vị trí thứ ba, và Hải – Trung đội trưởng Đại đội 2 đi ngay sau tôi ở vị trí thứ tư. Nguyên nhân phát nổ là do trong lúc đi đầu cắt đường thẳng, Trung gặp phải chướng ngại vật khó vượt qua nên đã chủ động lách sang bên trái. Người chiến sĩ đi thứ hai không bám sát dấu chân của Trung mà lại bước thẳng, vô tình vướng phải quả mìn nhảy KP2 của địch.

Còn về lý do tại sao tôi đi ở vị trí thứ ba – ngay sát hướng nổ – mà không hề bị thương: Đó là vì khi quả mìn nổ hất nhảy lên, hướng phóng mảnh đạn lệch về phía tôi. Nhưng đúng khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc đó, tôi vừa đi đến sát một bụi tre già cổ thụ. Bụi tre đã hứng trọn toàn bộ mảnh mìn găm vào thân. Sức ép khủng khiếp của tiếng nổ chỉ làm tôi giật mình và đổ sụp người xuống theo phản xạ vô thức. Trong khi đó, Hải là người đi thứ tư ở phía sau thì bị trúng mảnh vào chân!

Việc nổ mìn trong bãi mìn cũng là chuyện thường tình ở vùng biên, nên địch vẫn qua lại trên đường mà không hề sinh nghi. Thế nhưng, tình thế lúc này buộc chúng tôi phải dìu thương binh quay trở ra.

Lực lượng của chúng tôi có hạn. Nếu chuyển thương binh về cứ phải mất ba ngày đường, mỗi ca cáng ít nhất phải từ ba đến bốn người, như thế đội hình chiến đấu sẽ thiếu quân nghiêm trọng. Nghĩ vậy, tôi quyết định để thương binh tại chỗ chăm sóc, rồi lập tức điện về cho tiểu đoàn, chỉ đích danh người lên thay thế. Tôi tổ chức lại đội hình trinh sát chỉ huy, chấn chỉnh việc ăn ở và làm công tác tư tưởng cho bộ đội, rồi tiếp tục luồn sâu theo hướng mà trực giác mách bảo chắc chắn sẽ tìm ra mục tiêu quan trọng.

Lần này, tôi giao nhiệm vụ cắt đường cho Hùng – Đại đội phó Đại đội 1, một người thông minh, lanh lợi và có tinh thần chiến đấu rất tốt. Mọi việc diễn ra đúng như mong đợi. Đi trong rừng suốt ban ngày, đến chiều tối, chúng tôi đã phát hiện ra mục tiêu trước mắt: một khu nhà lớn!

786282295-3212501512473228-3890652178050996067-n-1790599331.jpg
Đại tá Nguyễn Tiến Dùng ( bìa phải ) thời ở chiến trường K - Ảnh : NVCC

Tôi triển khai đội hình, chia theo nhiệm vụ của từng người, đợi bóng đêm đổ xuống đến đâu là đột nhập đến đó. Nằm sâu trong hậu phương của chúng nên địch lơ là, không chút cảnh giác. Nhờ vậy, chúng tôi nhanh chóng nắm chắc được toàn bộ mục tiêu trên tất cả các hướng. Chúng tôi buộc phải quay ra ngay trong đêm để kịp dự tính thời gian đột nhập mục tiêu và thời gian rút lui khỏi chiến trường cho trận đánh sắp tới.

Khi trời vừa mờ mờ sáng, bỗng nhiên có tiếng hô khẩu hiệu tập thể dục rất đông người vang lên bên tai. Tại sao lại như vậy? Lẽ ra sau một đêm ròng rã cắt rừng quay ra, chúng tôi phải ở cách xa mục tiêu lắm rồi chứ? Tôi giật mình, lập tức cùng anh em ngồi lại, đem cả bản đồ và địa bàn ra kiểm tra. Hóa ra, tổ trinh sát nhà ta đã đi suốt một đêm bằng chiếc địa bàn Trung Quốc bị lọt nước vào làm chết kim! Đi vòng quanh mà không biết.

Mọi người đều lo lắng nhìn tôi đầy căng thẳng. Tôi trấn an anh em: “Không sao! Bây giờ phải chia lại đội hình và các mũi, các hướng của các đơn vị. Tranh thủ lúc địch đang tập thể dục buổi sáng sớm không cảnh giác, ta trinh sát trực tiếp mục tiêu này ngay rồi sẽ bàn phương án sau. Lấy chính mục tiêu này để đánh! Còn mục tiêu dự định kia để lại đánh sau”.

Tôi dứt khoát quyết định, không bàn lui. Sau khi kiểm tra kỹ lưỡng, chúng tôi mới kinh ngạc nhận ra mục tiêu này rất lớn! Nơi đây có cả sân bay trực thăng, gồm nhiều phân khu và ước tính lực lượng địch không dưới một tiểu đoàn.

Bây giờ là lúc phải tìm đường rút về. Tôi bình tĩnh phân tích: Cứ lấy vận tốc trung bình đi đêm nhân với thời gian di chuyển, lấy tâm là vị trí xuất phát ban đầu đã biết rồi quay một đường tròn, chắc chắn vị trí hiện tại của ta phải nằm trong vòng tròn đó. Từ đây, tôi chia quân làm ba mũi, mỗi mũi xuất phát cách nhau 30 phút tiến về hướng cứ, yêu cầu anh em ghi rõ đặc điểm địa hình dọc đường rồi báo cáo. Căn cứ vào mô tả địa hình của từng hướng, tôi đối chiếu, tìm điểm tương đồng rồi dự đoán hướng đi đúng, kéo quân cắt thẳng vào một bãi tráng gần nhất. Kết quả chính xác hoàn toàn, chúng tôi đã xác định được vị trí đứng chân!

Tôi lệnh cho toàn đội cắt ra đường biên giới, rồi từ đó cắt về con suối cạn nơi tập kết. Khi chúng tôi tới được biên giới – nơi vách đá cao sừng sững như bức tường thành ngăn cách giữa Campuchia và Thái Lan – lúc này Hùng lại cho rằng hướng này không đúng.

Tôi không tranh luận dông dài mà bảo: “Cho phép cậu đi theo hướng cậu nghĩ. Khi đi nếu thấy đúng thì cứ về trước, còn nếu thấy sai thì phải cắt ngay về lối của đội hình chính mà về!”.

Nói rồi, tôi dẫn đội hình đi theo hướng đã định và về đến nơi tập kết an toàn. Khoảng hai tiếng sau, bỗng có tiếng mìn nổ vang lên từ hướng của Hùng… Đúng như lo ngại, Hùng đi sai hướng vướng mìn và đã hy sinh, Bình đi cùng bị thương. Tình huống mất mát quá đau đớn, ruột gan tôi như thắt lại. Rồi tất cả anh em cũng được đưa về đến nơi tập kết.

Trận đánh chưa kịp diễn ra mà cả hai lần đi chuẩn bị, chúng tôi đều bị tổn thất, mà đau xót thay lại toàn là những cán bộ chỉ huy cốt cán. Nhiều anh em trong Ban Chỉ huy bắt đầu dao động, cho rằng: “Có lẽ nên rút quân về cứ, giải quyết thương binh tử sĩ xong xuôi rồi mới triển khai đánh tiếp…”.

Ý kiến đó nghe thì có vẻ hợp lý trong hoàn cảnh ấy. Nhưng nếu rút lui, nghĩa là chúng tôi không hoàn thành nhiệm vụ, lỗi hẹn với ngày lễ lớn của quân đội! Trong đầu tôi lúc đó chỉ có một quyết tâm sắt đá: Chỉ có đánh và trận này bắt buộc phải chiến thắng!

Tôi họp anh em lại, thẳng thắn phân tích nguyên nhân tổn thất và vạch ra cách xử lý để tránh vết xe đổ, quyết tâm giành chiến thắng. Vấn đề nổ mìn không phải vì mìn quá khó ta không gỡ được, mà là do ta chủ quan, không bám sát bước chân của người đi trước.

Cách giải quyết là: Không được để một người đi trước gỡ mìn suốt cả tiếng đồng hồ. Khi mệt mỏi, người ta dễ chủ quan, làm ẩu gây mất an toàn. Thay vào đó, chia ra làm ba tổ, mỗi tổ do một cán bộ bản lĩnh chỉ huy gỡ mìn, cứ sau một tiếng là thay tổ tiếp theo vào thế chỗ. Trong bãi mìn sâu này địch không thể vào tuần tra thường xuyên, nên người đi trước cứ bẻ cành cây làm dấu, người đi sau cách người đi trước không quá 5m, tuyệt đối bám dấu mà đi thì sẽ an toàn.

Tôi phân công Hài, Hùng (Đại đội trưởng C2) và các cán bộ còn lại luân phiên chỉ huy gỡ mìn, đánh dấu đường tiến quân để đưa toàn bộ đội hình vào khu vực mục tiêu.

Bên cạnh việc điện khẩn về cứ xin người lên thay thế lực lượng tổn thất, việc giải quyết thương binh tử sĩ được tôi xử lý dứt khoát: Tôi quyết định không đưa anh em về ngay. Thương binh được giữ lại tại chỗ, giao cho quân y tiêm glucose để ổn định sức khỏe, cho uống thuốc trị thương, treo võng nằm nghỉ và cử người chăm sóc chu đáo, chờ đánh xong sẽ cùng rút theo đội hình. Đối với tử sĩ, anh em cho vào bao buộc chặt, dùng võng treo trang trọng lên thân cây cao, cũng chờ sau trận đánh khi rút quân sẽ đưa các anh về cùng. Tất cả đơn vị đều nghiêm ngặt chấp hành mệnh lệnh và thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch.

Do tình thế gấp bách, lực lượng lên thay thế chỉ có Cự (Đại đội phó C1) lên thay cho Hùng đã hy sinh và Thi (Bút trưởng) lên thay cho Bình bị thương, cùng một số chiến sĩ tăng cường để cáng thương binh, tử sĩ. Số lượng cán bộ lên thay vẫn không đủ so với số người đã thương vong. Đợt tổn thất thứ hai vừa xảy ra nên báo điện về cứ chưa kịp có người lên ngay, mà nếu cứ nằm chờ thì không thể được, càng chậm trễ tư tưởng anh em càng dễ hoang mang.

Trước các yếu tố ngặt nghèo đó, tôi quyết định giao cho Hài – Trợ lý Tham mưu tiểu đoàn – trực tiếp chỉ huy một mũi gồm lực lượng trinh sát và các bộ phận của Đại đội bộ để vào trận. Hai đại đội còn lại theo hai hướng đã chuẩn bị, sẵn sàng luồn sâu đánh tiêu diệt mục tiêu theo đúng kế hoạch.

Xuất phát từ tình hình thực tế, trận này ta buộc phải đánh địch theo phương thức hiệp đồng giữ bí mật tuyệt đối, không sử dụng bất kỳ phương tiện thông tin vô tuyến hay hữu tuyến nào (vì ta không có đủ lực lượng và phương tiện bảo mật).

Tôi trực tiếp dẫn đội hình của Đại đội bộ vào chiếm lĩnh trận địa. Giao cho Hài Tham mưu sẽ chỉ huy trong quá trình chiến đấu, lúc đó tôi mới rút về vị trí chỉ huy chung của mình. Dù biết phương án này là mạo hiểm, bởi người trinh sát nắm rõ mục tiêu từ đầu đã tổn thất, người chỉ huy mới (Hài) không phải người chuẩn bị từ đầu, phương án dùng lực lượng Đại đội bộ cũng là mới phát sinh để thay thế, nhưng vào thế trận này, tôi bắt buộc phải chấp nhận!

Địa hình tại mục tiêu khá phức tạp: Từ dãy nhà của địch đến mép rừng cách khoảng 5m. Từ mép rừng trở ra khoảng 100m là bãi cây rừng bị chặt hạ, để khô ngổn ngang nhưng không đốt, tạo thành một hàng rào vật cản tự nhiên rất khó di chuyển. Địch bố trí cứ điểm theo kiểu làm nhà xung quanh quay mặt vào một cái sân lớn ở giữa, các hầm hào công sự được bố trí sát ngay mép rừng.

Cách đánh của ta được quán triệt rõ: Mỗi chiến sĩ trang bị gồm một quả mìn hướng Claymore (của Mỹ), một súng chống tăng M72 (của Mỹ), súng AK và lựu đạn theo cơ số định trước. Khi vào vị trí, anh em gài mìn định hướng xong thì lùi về vị trí phù hợp ẩn nấp. Sẵn sàng khi có hiệu lệnh bấm mìn để tiêu diệt nhà địch (nhà địch thưng bằng vách tre nên mảnh mìn rất dễ sát thương). Nếu thấy địch còn sống sót, lập tức dùng M72 bắn trực diện vào tiêu diệt, dùng lựu đạn để đánh địch ngoài công sự chứ không dùng thủ pháo.

Tôi đi đầu, trực tiếp dẫn từng chiến sĩ một vào áp sát vị trí mục tiêu. Đến lượt Bá, tôi dẫn Bá vào xong, vừa quay trở ra thì đã thấy Bá lủi thủi theo sau, run rẩy nói: “Anh ơi, em không tìm thấy mục tiêu…”.

Tôi nghiêm giọng truyền lệnh: “Dừng lại chờ ở đây!”.

Nói rồi, tôi quay lại dắt Bá vào tận nơi, chỉ thẳng mục tiêu cho cậu ấy. Nhìn qua khe thưng vách tre chắn, tôi thấy rõ mồn một trong nhà có ba tên đàn ông đang ngồi chơi bài với hai đứa con gái. Đúng lúc đó, tôi nghe có tiếng động xột xoạt từ phía ngoài. Một tên địch trong nhà chợt khựng lại, cầm súng ra hiệu cho cả bọn im lặng, ý bảo có tiếng động khả nghi.

Tôi vội vã lùi nhanh ra hết khoảng sân, ép chặt mình dán vào một gốc cây cụt lớn, cao khoảng hơn một mét ở rìa sân. Tên địch xách súng chạy vụt ra, bắn mấy phát chỉ thiên ra hướng có tiếng động khả nghi nhưng không thấy gì, hắn lại lầm lũi quay vào nhà.

Tôi vừa định quay ra để dẫn số quân còn lại vào lót tiếp vị trí thì anh em ở phía ngoài do không nghe được lệnh truyền “dừng lại chờ” nên cứ tiếp tục tiến vào. Khổ nỗi, bãi cây khô ngổn ngang không đốt, dù kỹ thuật bò luồn của đặc công có giỏi đến mấy thì khi địch đã đề cao cảnh giác, việc phát ra tiếng động là không thể tránh khỏi.

Nghe thấy tiếng động lạ lần nữa, tên địch lúc nãy lại chạy ra, nhưng lần này đi cùng hắn có cả thảy năm tên. Ngay sau lưng tôi có một con đường mòn nhỏ. Thấy có tiếng xao động dưới đất, bọn chúng nghi ngờ, liền thắp một ngọn đuốc sáng rực ra soi tít ra phía ngoài đường.

724103919-3137009266689120-3554185883333657218-n-1790600471.jpg
Đại tá Nguyễn Tiến Dũng thời ở chiến trường K. Ảnh: NVCC ↵

Khi trở vào trong sân, chúng xì xầm bàn tán với nhau điều gì đó bằng tiếng bản địa rồi bảo hai đứa con gái lùi vào phòng sâu phía sau. Một tên lăm lăm súng AK chĩa thẳng vào phía gốc cây cụt nơi tôi đang nấp. Còn một tên nữa đeo súng sau lưng, tay cầm đuốc từ từ tiến lại gần. Hắn rất cẩn thận, mồm cứ lẩm bẩm thăm dò.

Tôi nghĩ bụng: Chắc chắn tên này đã nghi ngờ sau gốc cây này có người trốn. Hắn một tay cầm đuốc giơ cao, một tay bám vào đỉnh gốc cây cụt, rướn người nhô ra, rọi thẳng ngọn đuốc vào vị trí của tôi!

Theo phản xạ sinh tử của một người lính đặc công, tôi lập tức đưa mặt ra, khoảng cách từ mặt tôi đến mặt hắn chỉ chừng hai mươi phân. Tay phải tôi đã thủ sẵn khẩu K70, chĩa thẳng vào trán hắn và bóp cò!

Tạch!

Đạn thối lép, súng không nổ! Phản ứng tức thì trong chớp mắt, tôi dằn mạnh mũi súng vào thẳng mặt tên địch, đồng thời nhảy đệm người sang bên phải, tung một cú đá trời giáng vào bộ hạ của hắn!

Tên địch rú lên một tiếng "Ối!" đau đớn, ngã bật ngửa ra sau. Ngọn đuốc trên tay hắn tung lên không trung rồi rơi xuống đất tắt ngóm. Bọn đi cùng hoảng loạn chạy thục mạng vào trong nhà. Ngay lập tức, tôi nhảy vọt về phía vị trí của Bá, rút chốt tung liền mấy quả lựu đạn vào nhà địch.

Đó cũng là lúc quân địch bừng tỉnh phản ứng bắn trả dữ dội. Nhận được tín hiệu, Ráng – chiến sĩ đã chiếm lĩnh vị trí từ trước – lập tức bấm nút kích nổ mìn Claymore. Tiếng nổ long trời lở đất vang lên, quân ta đồng loạt nổ súng tới tấp trên toàn tuyến...

Sau khi giải quyết xong mục tiêu, tôi cho đội hình xóa dấu vết. Dù biết với một đội hình lớn như thế này thì việc xóa sạch dấu vết là điều không thể, tôi vẫn bàn với Hài: Phải chủ động tổ chức phục kích, đánh cho quân bám đuôi một trận thật đau thì chúng mới sợ mà từ nay không dám bám theo nữa.

Chúng tôi bỏ qua một bãi tráng đầu tiên – nơi có nhiều mỏm đá rất thuận lợi cho việc phục kích. Đến bãi tráng thứ hai, gần sát đường biên giới, tôi mới bố trí một tổ phục kích, sử dụng mìn định hướng (mìn Mo) để chờ giặc trước khi toàn quân tiến vào khu rừng sâu.

Bỗng nhiên, từ phía trước tiếng súng nổ rộ lên tới tấp. Tôi ra lệnh thu quân, nhanh chóng cơ động toàn đội hình lên phía trước ứng cứu. Thì ra, bộ phận Đại đội 1 đi đầu đã chạm trán với lực lượng địch chặn đường. Tình thế buộc ta phải dàn đội hình lên gỡ mìn, bám sát lực lượng địch đang triển khai chặn trên con đường ô tô ngay trên dông núi. Đây cũng chính là đường biên giới mà chúng tôi phải đi qua để xuống vách đá cao dốc đứng, rút về nơi tập kết.

Khi đã phát hiện ra ta, địch lập tức nổ súng cối và DKZ dữ dội. Nhưng giữa khu rừng già lổm nhổm đá tai mèo và dày đặc bãi mìn của chính mình, quân địch không dám xông vào. Súng DKZ của chúng bắn trúng cây cản nên không thể phát huy tác dụng. Nghĩ rằng ta sẽ chạy sâu vào lối đất Thái Lan, chúng huy động 3 khẩu cối 82 và 5 trận địa cối 60 bắn tới tấp sang hướng đó. Tôi nhanh chóng truyền lệnh cho quân ta vừa gỡ mìn, vừa áp sát dãn ra thật gần với tuyến của chúng. Nhờ vậy, hỏa lực tầm xa của địch hoàn toàn mất tác dụng vì sợ bắn trúng quân mình!

Bắn ròng rã khoảng 20 phút, địch tạm ngừng hỏa lực để thăm dò tình hình. Thấy phía ta vẫn im lặng, chúng tổ chức đội hình tiến thẳng theo lối con đường ta vừa xuất hiện (nơi có một đồng chí của ta hy sinh còn nằm nguyên tại chỗ). Mấy tên địch huênh hoang xông lên đầu tiên liền ăn trọn một quả mìn Mo của ta gài sẵn, bị hất bay sạch.

Súng địch lại bắn ra như mưa. Nhưng quân ta vẫn kiên cường ẩn nấp sau các gốc cây cổ thụ, các tảng đá lớn, nằm im re không hề phản ứng. Một lúc sau, lại có hai tên địch nữa lén lút tiến lên. Lần này chúng thận trọng hơn, dò dẫm tiến dần đến chỗ đồng chí của ta hy sinh. Một tên đưa báng súng lên định nện vào đầu người chiến sĩ đã khuất...

Quyền – người chiến sĩ đang nấp ngay gần bên cạnh – lập tức nổ một loạt ba viên đạn đanh gọn. Tên đi trước chết gục ngay tại chỗ, tên đi sau hoảng hốt nhào người bỏ chạy. Bọn địch bị bất ngờ đến nỗi không kịp phản ứng, cứ đứng nhìn ngơ ngác. Thấy thời cơ thuận lợi, tôi bảo Quyền bò ra thu lấy khẩu súng và đạn của tên chết trận. Sau khi lấy súng xong, Quyền thấy tên địch còn đeo trên cổ một cái võng dù. Cậu ấy bò về vị trí ẩn nấp, thấy địch vẫn chưa kịp phản ứng, liền táo bạo chạy thoáng ra, giật phắt cái võng rồi nhanh như sóc biến mất vào chỗ nấp!

Địch lúc này điên cuồng bắn tới tấp. Nhưng trước những mô đá, gốc cây vững chãi, đạn bắn thẳng của chúng trở nên vô hại, còn đạn cối thì không thể rót vào khoảng cách vài ba chục mét trong rừng già hiểm trở này. Địch không dám xông vào, ta cũng không lùi, nhưng cũng không tiến lên để đối đầu trực diện, bởi lực lượng của chúng đông gấp nhiều lần ta. Trong thế trận phải vượt đường ô tô lại chuẩn bị xuống vực đá sâu mấy chục mét, vũ khí mang theo của ta đã gần cạn kiệt sau các đợt đụng độ liên tiếp. Giải pháp tốt nhất lúc này là bí mật giấu mình ngay trong bãi mìn sát sạt cạnh địch!

Tôi hội ý nhanh với Hài rồi truyền lệnh cho các bộ phận: Nằm im chờ lệnh, tuyệt đối tiết kiệm vũ khí.

Cách vị trí tôi nằm khoảng 50m có một khẩu cối 82 của địch đang bắn liên tục. Tôi gọi Hài lại bàn cách đưa mấy anh em trinh sát ra tiêu diệt khẩu cối này. Khi chúng tôi tiếp cận đến rất gần, bọn chúng vẫn hoàn toàn mù tịt, mấy thằng lính cứ cắm cúi bắn cối như chỗ không người. Thời cơ tuyệt vời là thế, nhưng Hài liền nói nhỏ, can tôi:
– Anh ơi, tiểu đoàn bây giờ chỉ có mình anh là chỉ huy thôi... Đánh thế này nhỡ có tình huống gì xảy ra thì các đơn vị biết làm thế nào!

Nghe Hài nói, tôi thấy cũng có một phần lý do, nhưng trong lòng chợt gợn lên một chút băn khoăn như một điềm gở. Suy nghĩ kỹ, tôi quyết định chuyển hướng khác.

Tôi nhận định: Khi chiều muộn, địch sẽ cho quân vác hết hỏa lực tầm xa về cứ, nhưng quân bộ binh của chúng vẫn chưa thấy rút. Điều này chứng tỏ chúng đang dàn quân phục kích ban đêm, vì chúng thừa biết sở trường của Đặc công Việt Nam là tác chiến trong bóng tối.

Do đó, tôi ra lệnh cho quân ta nằm tại chỗ chờ lệnh. Chỉ khi nào nghe thấy tiếng mìn nổ trên đường ô tô thì lập tức cơ động theo hướng tụt xuống vách đá, rút về hậu cứ theo đội hình của từng đơn vị đã được đánh dấu sẵn. Tôi giao cho Hài chỉ huy tổ trinh sát bám sát mặt đường, thả dây xuống vực, vừa gỡ mìn vừa bẻ cành cây làm dấu để quân ta rút theo lối đó.

Tôi chỉ định Bá – Tiểu đội trưởng Trinh sát – ở lại cùng tôi. Mỗi người trang bị một quả mìn Mo và hai quả lựu đạn (vũ khí lúc này đã gần như cạn sạch). Chúng tôi đi sau đội hình của Hài, nán lại trên mặt dông núi, chọn một đoạn đường ô tô thẳng tắp rồi đặt hai quả mìn Mo quay về cùng một phía, đặt cách nhau 50m. Bố trí mìn xong, hai anh em tìm đến một ụ mối lớn bên đường, khéo léo giấu mình chờ địch. Vì sợ địch có thể có lực lượng đi ngược chiều bất ngờ phát hiện ra, chúng tôi đặt mìn qua khỏi chỗ ụ mối đang nằm chừng hơn chục mét, đảm bảo trong mọi tình huống, địch đều lọt thỏm vào tầm tiêu diệt của mìn.

Một đêm căng thẳng trôi qua thật nhanh. Đến mờ sáng hôm sau, khi vừa giật mình tỉnh táo lại thì địch đã xuất hiện! Ba tên đi đầu lướt qua ngay trước chỗ chúng tôi nằm. Bá ghé đầu ra, nói gấp gáp bằng giọng thầm thì:
– Anh ơi, nó đông lắm, nhung nhúc luôn!

Tôi nhìn ra, quả thực đội hình địch đi hàng ba hàng bốn, dày đặc theo sau tổ dẫn đường. Theo hiệp đồng đã quy ước, khi nào nghe tiếng quả mìn của tôi nổ thì Bá mới được bấm quả tiếp theo. Để chắc chắn không bị lộ, tôi bắt Bá cúi rạp đầu xuống. Khi toán địch đã đi qua khỏi vị trí ụ mối của chúng tôi chừng cả chục tên, tôi dứt khoát bấm nút kích nổ.

Ầm!!! Ầm!!!

Hai tiếng nổ kinh hoàng liên tiếp vang lên nối đuôi nhau. Tôi đã đặt sẵn hai quả lựu đạn trên tay, định tung ra tiếp nhưng thấy tình hình đã ổn nên lại khóa chốt an toàn. Quân địch đổ rầm rập như bức tường đất bị đổ dưới trời mưa lớn, kèm theo những tiếng rên rỉ ồ ồ, ặc ặc đầy thê thảm.

Đúng như hiệp đồng chiến đấu, nghe tiếng mìn nổ hiệu lệnh, quân ta ở phía dưới lần lượt đu dây xuống núi, rút an toàn về nơi tập kết. Hai tiếng đồng hồ sau, từ phía nơi phục kích, tiếng súng của địch mới nổ ran lên suốt mấy mươi phút đồng hồ. Đó là dấu hiệu cho sự hoảng loạn, kinh hãi của bọn quân ứng cứu, giờ đây chúng rơi vào cảnh "trông gà hóa cuốc", tự bắn nhau trong vô vọng!

Dù đây là những dòng ký ức cuộc đời tôi, không phải một bản báo cáo chiến lệ chính thức, và tôi cũng chỉ kể lại những công việc mà tự mình trực tiếp trải qua là chính, nhưng có lẽ cũng cần phải ghi lại kết quả của trận đánh lịch sử này. Theo thông báo từ Tiền phương Bộ: Sư đoàn 801 của Pôn Pốt sau đó đã báo cáo về Bộ Tổng tham mưu của chúng rằng trận này chúng bị "tổn thất 122 tên", chưa kể các thiệt hại khác. Về phía ta, 3 đồng chí đã hy sinh anh dũng và 5 đồng chí bị thương.

Khi quân ta còn đang trên đường rút về, các Thủ trưởng Bộ bao gồm Thiếu tướng Hồ Quang Hóa và Tư lệnh Mặt trận – Thiếu tướng Huỳnh Hữu Anh đã bay trực thăng lên tận đơn vị để kịp thời động viên anh em, đồng thời chỉ đạo viết chiến lệ để phổ biến rộng rãi cho các đơn vị học tập kinh nghiệm.

Hóa ra lúc bị địch vây, Bộ đã nắm được bức điện của Sư đoàn 801 địch báo cáo về tổng cứ của chúng: "Đang vây chặt một tiểu đoàn đặc công Việt Nam, dồn vào bãi mìn để tiêu diệt...". Ngay lập tức, Tiền phương Bộ đã chỉ đạo các đơn vị trong khu vực khẩn trương triển khai lực lượng ứng cứu. Sư đoàn 315 đã rải quân dọc đường và may mắn đón được Hùng (Đại đội trưởng C2) bị thương ở chân nên bị lạc trong quá trình rút quân.

Trận đánh chào mừng ngày 22/12 năm 1982 ấy, tính từ lúc nhận lệnh, đi tìm địch, trinh sát chỉ huy cho đến khi đánh địch bằng đủ loại hình chiến thuật rồi rút về đơn vị, toàn bộ hành trình đã bước sang những ngày đầu năm 1983.

Đúng là một TRẬN ĐÁNH CỦA HAI NĂM!

tai-xuong-2-1790599318.jpg
Ảnh từ phải sang trái :Đinh Huy Trụng , Nguyễn Văn Nhạ ( nguyên chính trị viên trưởng D406 đặc công QK5 ) Nguyễn Tiến Dũng , Đào Ngọc Anh CCB D406 đặc công QK5- Ảnh : Huy Trụng

Sau này, có một đàn anh thời chống Mỹ từng bảo tôi: “Chú là thằng liều!”.

Đúng vậy! Nếu nhận một mệnh lệnh đi tìm cho ra địch sâu trong mịt mùng mìn bẫy trên đất Thái Lan, rồi tự mình vừa trinh sát vừa chỉ huy trận đánh, “đơn phương độc mã” giữa lòng địch… thì nếu không liều, làm sao có thể hoàn thành?

Nhưng cái liều của những kẻ khủng bố là vì động cơ tôn giáo cực đoan, còn cái liều của những người lính trong đội quân cách mạng chính là sự bất chấp hy sinh vì nghĩa lớn, vì độc lập dân tộc và Tổ quốc khi thật sự cần thiết. Một khi chúng ta đã tự nguyện chấp nhận điều đó, mọi thứ trở nên thật đơn giản, và lòng mình ắt sẽ thanh thản, thảnh thơi!

(Còn nữa)

Đón đọc kỳ sau: Trận đấu vòng hai