Lào Cai: Chính sách ở vùng cao được đo bằng những thay đổi thực sự đời sống của bà con

Với 95/99 xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó có 47 xã khu vực III và 1.033 thôn đặc biệt khó khăn, Lào Cai đang tiếp tục dành nguồn lực để chính sách thực sự đi vào cuộc sống. Từ hạ tầng, nước sinh hoạt, điện, nhà ở đến sinh kế, việc làm và dịch vụ xã hội, mục tiêu xuyên suốt là nâng cao đời sống và khơi dậy nội lực vươn lên.

Sau hợp nhất, Lào Cai là một tỉnh miền núi, biên giới có quy mô địa bàn và dân số lớn, với 99 xã, phường. Toàn tỉnh có trên 1,7 triệu người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 60,9% dân số. Theo kết quả rà soát được công bố trong năm 2026, có 95 xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, gồm 12 xã khu vực I, 36 xã khu vực II và 47 xã khu vực III; 2.438 thôn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó có 1.033 thôn đặc biệt khó khăn.

Những con số ấy phần nào cho thấy quy mô cũng như những yêu cầu đặt ra đối với công tác dân tộc ở Lào Cai trong giai đoạn mới. Bởi phía sau mỗi địa bàn khó khăn không đơn thuần là câu chuyện của những chỉ tiêu phát triển, mà còn là nhu cầu rất cụ thể về đường giao thông, điện, nước, trường học, trạm y tế, nhà ở, việc làm và sinh kế của người dân.

Chính vì thế, khoảng cách từ một chủ trương đúng đến hiệu quả của chính sách ở vùng cao được đo bằng những thay đổi thực sự trong đời sống của bà con. Một con đường được mở phải tạo thuận lợi cho trẻ đến trường, cho nông sản xuống chợ; một công trình nước phải giúp người dân giảm bớt khó khăn trong sinh hoạt; một mô hình hỗ trợ sản xuất phải từng bước giúp hộ dân tạo được sinh kế ổn định.

Sau khi rà soát, số vốn của giai đoạn trước được kéo dài thực hiện sang năm 2026 là 979,913 tỷ đồng, tương đương 15,53% tổng nguồn vốn Trung ương giao. Đến ngày 7/7/2026, tiến độ giải ngân nguồn vốn kéo dài đạt 88,609 tỷ đồng, tương ứng 9,9% kế hoạch vốn đã được phân bổ chi tiết.

Những con số này đồng thời cho thấy một vấn đề cần tiếp tục tháo gỡ: nguồn lực đã có nhưng phải được đưa vào cuộc sống nhanh hơn. Hiệu quả cuối cùng của một chương trình không nằm ở số vốn được bố trí mà ở số công trình thực sự phát huy tác dụng, số hộ dân được hưởng lợi, số sinh kế được tạo ra và thu nhập của người dân được nâng lên.

Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, Lào Cai đang đặt ra những mục tiêu cao hơn. Theo định hướng thực hiện Chiến lược công tác dân tộc của tỉnh, riêng năm 2026, Lào Cai phấn đấu thu nhập bình quân của người dân vùng dân tộc thiểu số đạt 40 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ giảm hộ nghèo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo chuẩn nghèo đa chiều bình quân giảm 1,68 điểm phần trăm/năm; tỷ lệ lao động là người dân tộc thiểu số trong độ tuổi được đào tạo nghề phù hợp và có thu nhập ổn định đạt từ 20% trở lên, trong đó ít nhất 50% là lao động nữ.

Cùng với đó, tỉnh đặt mục tiêu 99% hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia và các nguồn điện phù hợp; 96% hộ đồng bào dân tộc thiểu số được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; 45% hộ nông dân người dân tộc thiểu số làm kinh tế nông - lâm nghiệp hàng hóa; 98% trường, lớp học và trạm y tế được xây dựng kiên cố.

1790135223935-2013702674182287036-4434561099557105860-6ba306cc741e89de9011c815399ae835-1790135505.jpg
Hạ tầng nước sinh hoạt được quan tâm đầu tư, góp phần cải thiện điều kiện sống và nâng cao chất lượng cuộc sống của đồng bào vùng cao Lào Cai.

Nhìn lại Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025, tổng kế hoạch vốn ngân sách Trung ương giao cho tỉnh Lào Cai theo phạm vi sau hợp nhất là hơn 6.309 tỷ đồng. Tính đến ngày 31/1/2026, tỉnh đã giải ngân hơn 5.329 tỷ đồng, đạt 84,47% kế hoạch vốn Trung ương giao cho cả giai đoạn.

Quan trọng hơn những con số về nguồn lực là những chuyển biến đã hiện hữu tại cơ sở. Đến năm 2026, Lào Cai đã hoàn thành và vượt 23/32 chỉ tiêu của Chương trình. Tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số giảm bình quân 6,36%/năm, vượt kế hoạch Trung ương giao. 100% xã có đường ô tô đến trung tâm được nhựa hóa hoặc bê tông hóa; 98% xã có trạm y tế được xây dựng kiên cố; tỷ lệ hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia và các nguồn điện phù hợp đạt 99%; 98,6% đồng bào dân tộc thiểu số được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh.

Thu nhập cũng là một thước đo quan trọng cho hiệu quả chính sách. Năm 2025, thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số trên địa bàn đạt trên 33 triệu đồng/người/năm, khoảng gấp hai lần so với đầu kỳ thực hiện Chương trình.

Đằng sau những tỷ lệ ấy là quá trình nguồn lực của Nhà nước từng bước được đưa về những địa bàn còn khó khăn. Nhưng với một tỉnh miền núi có tới 47 xã khu vực III và hơn một nghìn thôn đặc biệt khó khăn, những khoảng trống về hạ tầng và điều kiện sống vẫn còn hiện hữu.

Qua rà soát trong năm 2026, Lào Cai xác định nhu cầu đối với 266 công trình cấp thiết với tổng kinh phí khoảng 811 tỷ đồng, tập trung vào nước sinh hoạt, điện, sắp xếp dân cư và phòng, chống thiên tai. Đây đều là những nhu cầu gắn trực tiếp với cuộc sống hằng ngày và sự an toàn của người dân vùng cao.

1790135223966-2013702674182287036-4434561099557105860-f138ae94b7b5ae93c2f515588e47294a-1790135505.jpg
Cùng với nguồn lực đầu tư của Nhà nước, sự tham gia của người dân góp phần từng bước hoàn thiện hạ tầng, tạo thêm điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ở vùng cao Lào Cai.

Đặc biệt, thiên tai tiếp tục đặt ra những thách thức lớn. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn Lào Cai xảy ra 6 đợt thiên tai, ảnh hưởng tới 6.701 nhà ở, hơn 1.190 ha sản xuất nông nghiệp cùng nhiều công trình hạ tầng thiết yếu. Điều đó cho thấy phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi không thể tách rời yêu cầu bố trí dân cư an toàn, bảo đảm sinh kế và nâng cao khả năng chống chịu trước thiên tai.

Nhưng nếu chỉ nhìn chính sách qua những con số thì vẫn chưa đủ mà điều quan trọng hơn là làm sao để đồng bào không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà ngày càng trở thành chủ thể của quá trình phát triển. Hỗ trợ một giống cây, con giống hay công trình sản xuất chỉ thực sự có ý nghĩa lâu dài khi người dân có thể làm chủ kỹ thuật, tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và tạo ra thu nhập. Một sản phẩm văn hóa truyền thống cũng chỉ trở thành nguồn lực phát triển khi cộng đồng vừa gìn giữ được bản sắc, vừa có thể tạo thêm sinh kế từ chính giá trị văn hóa của mình.

Đó cũng là lý do chính sách trong giai đoạn mới cần chuyển mạnh từ hỗ trợ đơn thuần sang tạo năng lực phát triển. Nguồn lực Nhà nước đóng vai trò tạo nền tảng, nhưng sức sống lâu dài phải được hình thành từ chính cộng đồng.

1790135223894-2013702674182287036-4434561099557105860-d334aa87fa93dd35e8ee46825e5dcafd-1790135505.jpg
Hỗ trợ téc nước giúp các hộ dân vùng cao Lào Cai chủ động tích trữ nước sinh hoạt, từ những nhu cầu thiết yếu từng bước cải thiện chất lượng cuộc sống.

Ở Lào Cai, yêu cầu ấy càng có ý nghĩa khi vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi chiếm phần lớn địa bàn của tỉnh. Phát triển vùng cao vì thế không phải câu chuyện của riêng một chương trình hay một ngành, mà gắn trực tiếp với sự phát triển chung của địa phương, với củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững biên giới và xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc.

Chính sách chỉ thực sự có sức sống khi rời những trang văn bản để hiện diện trong từng mái nhà, từng con đường, nguồn nước, việc làm và sinh kế. Khi nguồn lực của Nhà nước gặp được ý chí vươn lên của đồng bào, mỗi bản làng không chỉ thay đổi diện mạo mà còn hình thành nội lực để phát triển bền vững.

Và đó cũng chính là thước đo thực chất nhất của hành trình đưa chính sách đến với đồng bào vùng cao Lào Cai.