“Dưới cầu Giang Tô” – Truyện thơ lục bát chống phát xít

Nguyễn Xuân Hòa

01/09/2021 21:46

“Dưới Cầu Giang Tô” (1940) là truyện thơ lục bát dài 324 câu, của thi sĩ  Quỳnh Dao, tuy vẫn mang bút pháp trữ tình của phong trào Thơ Mới, song nội dung của nó đã phản ánh được thời cuộc xã hội lúc bấy giờ và như một lẽ tự nhiên đã nhập vào dòng văn học hiện thực cách mạng.

anh-nha-tho-quynh-dao-1630479438.jpg

Thi sĩ QUỲNH DAO (1918-1947)

          Tác giả Quỳnh Dao, tên thật Đinh Nho Diệm, sinh năm 1918, quê làng Gôi Mỹ, xã Sơn Hòa (nay là An Hòa Thịnh), huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, là chiến sĩ cách mạng tiền khởi nghĩa và là thi sĩ có tên tuổi trong phong trào Thơ Mới 1932-1945 với các tác phẩm tiêu biểu: Tập thơ văn Tiếng chuông chiều (in chung với Liêu Kỳ Lộc - Nhà in Thụy Ký, Hà Nội, 1937); Tập thơ Tơ trăng (Nhà in Asiatic, Hà Nội, 1939) và Truyện thơ Dưới Cầu Giang Tô (Nhà in Minh Tâm, Hải Phòng, 1940). Ông hy sinh năm 1947 trong Kháng chiến chống Pháp.

          Với tác phẩm  Tơ trăng,.. Quỳnh Dao đã thực sự hoà mình vào phong trào Thơ Mới ở phong cách lãng mạn, mơ màng, có phần siêu thực đầy chất thi sĩ. Thơ trong tập Tơ trăng của Quỳnh Dao đã làm lay động bạn đọc đương thời, khiến nữ sĩ Mộng Tuyết đã ví tập thơ như “ Văn chương mây nước tao phùng/ Tơ trăng rung sợi tơ lòng bâng khuâng”  (Văn phẩm Quỳnh Dao. Nxb Thanh niên, 1999) nên đã lặn lội từ miền cực nam Hà Tiên ra Hà Nội, Hải Phòng сhỉ để mong tìm gặp được hai người - nhà văn nổi tiếng Nguyễn Tuân và nhà thơ Quỳnh Dao. Còn Lê Tràng Kiều, nhà phê bình văn học có uy tín trong văn đàn, chủ bút Tiểu thuyết thứ năm, tác giả Văn chương và hành động (cùng với Hoài Thanh và Lưu Trọng Lư), đã đánh giá cao về tập Tơ trăng. Trong hai số báo do mình làm chủ bút, Lê Tràng Kiều đã xem Tơ trăng là “những vần kiệt tác” và so sánh Tơ trăng với Mấy vần thơ của Thế Lữ và Thơ thơ của Xuân Diệu – hai chủ soái của phong trào Thơ Mới (Tiểu thuyết thứ năm, số 39 ngày 20/7/1939 và số 40, ngày 27/7/1939). Quỳnh Dao cũng được giới thiệu Tiểu sử và Thơ văn cùng hồi ức Nhớ bạn thơ Quỳnh Dao của nữ sĩ Anh Thơ trong cuốn Nhà văn Việt Nam thế ký XX (Nxb Hội Nhà văn, 2002).

              “Dưới cầu Giang Tô” – truyện thơ chống phát xít đầu tiên - viết theo thể lục bát

          Cốt truyện mô tả một mối tình say đắm của đôi trai gái Khánh Lang Vân – Bội Huyền, chàng ra trận bặt tin, nàng liều mình quyết đi tìm người yêu và bị  sa vào tay phát xít Nhật, phải giả vờ chịu chung chăn gối với tên tướng giặc “Tay quờ bao súng, tay vờ ôm nhau”, nhưng nàng đã không bắn trúng tên tướng giặc và đã bị chúng đưa về xử bắn bên cầu Giang Tô. Sự chiến đấu hy sinh quên mình của hai người trong thời kỳ chống phát xít Nhật ở Tây Hồ, Hàng Châu, Trung Quốc là hư cấu cả về nhân vật và địa danh, nhưng bối cảnh lịch sử là có thực, khi hoạ phát xít đang hoành hành khắp châu Âu và một phần lớn châu Á. Ở thời điểm đó, năm 1940, tác giả đã sớm dự cảm được nguy cơ  bọn phát xít Nhật sắp tràn sang Việt Nam dày xéo đất nước, và với  ý thức một công dân có trách nhiệm trước tồn vong của Tổ quốc, Quỳnh Dao đã bất chấp hiểm nguy viết nên truyện thơ lục bát “Dưới Cầu Giang Tô”  để thức tỉnh tinh thần dân tộc, kêu gọi nhân dân ta đứng lên chống phát xít Nhật.

          Có thể không phải bàn cãi nhiều, Dưới Cầu Giang Tô là tác phẩm văn học chống phát xít công bố đầu tiên ở nước ta. Sau đó dường như chỉ có hai tác phẩm thơ ca viết về đề tài này: Bài thơ Ly rượu thọ của Tố Hữu và bài hát Diệt phát xít của Nguyễn Đình Thi. Sự đàn áp khốc liệt của bọn Nhật, thậm chí cả trong sáng tác văn học, là một sự thật đau lòng đáng lên án, vì chính khi thi sĩ Quỳnh Dao bị giặc Nhật, Pháp bắt giam tại nhà tù Hoả Lò rồi khi ông vượt ngục thì truyện thơ “Dưới Cầu Giang Tô” đã bị đốt sạch. Ngay trong Thư viện Quốc gia hiện nay cũng chỉ còn lại thư mục. May thay tác phẩm này vẫn còn sống mãi trong trí nhớ thuộc nằm lòng của gia đình thi sĩ (Bà Đinh Thị Phúc, em ruột Quỳnh Dao, đã đọc lại từng câu một để gia đình khôi phục gần như nguyên vẹn truyện thơ), và năm 1999 truyện thơ khôi phục lại đã được nhà thơ Anh Chi đưa in trong tác phẩm sưu tầm nghiên cứu của mình (Văn phẩm Quỳnh Dao. Nxb Thanh niên, 1999). Đó chính là nguyên nhân khiến một thời gian dài chúng ta còn ít biết đến truyện thơ này và cái tên Quỳnh Dao một thời đã bị lãng quên như một thi sĩ của phong trào Thơ Mới.

          Về thể loại văn học, “Dưới Cầu Giang Tô” là truyện thơ thể lục bát bằng chữ quốc ngữ xuất hiện sớm nhất ở Việt Nam, tiếp nối được truyền thống truyện thơ lục bát chữ Nôm, tiêu biểu là Truyện Kiều của Nguyễn Du. Theo suy nghĩ của chúng tôi, khi viết tác phẩm này Quỳnh Dao đã thấm sâu ý tưởng về xây dựng một nền văn học chữ Quốc ngữ mà ông đã luôn cổ súy cho đến mãi về sau, như chính ông đã viết trong bài xã luận “Phải phổ thông học vấn cho toàn thể dân chúng” đăng trên Tạp chí Đông Tây (số 2, Janvier, 1942) do ông làm chủ bút. Ngoài tiếng Việt (chữ quốc ngữ), thể thơ lục bát của truyện thơ “Dưới Cầu Giang Tô” còn mang đậm dấu ấn truyền thống ca dao, tục ngữ độc đáo trong dòng văn học dân gian Việt Nam, được  thi sĩ Quỳnh Dao hết sức tôn thờ, đó là vần điệu. Khi viết “Dưới Cầu Giang Tô” tác giả rất chú ý tuân thủ vần điệu; ông mở đầu truyện thơ với hàng loạt câu được gieo vần lục bát chuẩn mực một cách tuyệt đối, nhưng vẫn thanh thoát bay bổng, giàu nhịp điệu, không hề gợn một chút gì gò bó:

                  Cả trời vừa chớm sang thu

                  Cành lê một nửa lá đu đưa vàng…

                  Sáng mai nay có một chàng

                  Mang hồn thơ giữa đất Hàng Châu thu

                  Bốn phương mây khói mịt mù

                   Nước non còn dấu khách du phong trần

                  Báo chương nổi tiếng xa gần

                  Khách Lang Vân với những vần mơ say.

           Trước một tác phẩm có giá trị hiện thực và giá trị nghệ thuật đã ít nhiều bị lớp bụi của thời gian che phủ, chúng tôi đã cố gắng tìm hiểu để có thể bước đầu giới thiệu tác phẩm này qua một số cảm nhận.

          Phong trào Thơ Mới, như nhận định của Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam, đã sáng tạo ra một quan niệm thơ mới, hệ thống hình thức thơ mới với thể loại thơ mới, cấu tứ mới, cảm xúc mới, ngôn ngữ mới, biện pháp tu từ mới. Viết “Dưới Cầu Giang Tô” Quỳnh Dao cũng có những quan điểm tương đồng.

           Truyện thơ Dưới Cầu Giang Tô có nhiều câu thơ mới lạ và hay, khắc hoạ được những hình ảnh đặc sắc đầy ấn tượng của hiện thực làm xúc động lòng người. Ngoài ra, xét về chủ đề tư tưởng, ta thấy, đối với cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc của bọn phát xít Nhật, thi sĩ Quỳnh Dao thông qua truyện thơ của mình đã đưa người đọc tiếp cận được hình ảnh tận cùng của sự chết chóc đau thương:

               Đồng khô xương trắng phơi đầy

              Chiều sương nặng cánh diều bay tha mồi

              Và gần Thượng Hải chao ôi!

               Đỏ sông Dương Tử máu người Trung Hoa.

          Và hệ luỵ của chiến tranh khiến không chỉ con người mà đất trời cũng phải sầu thảm: Mồ hoang đắp mảnh chiến bào/ Trăng rơi thấm đất lạnh vào hư không.

       

giay-chung-nhan-quynh-dao-1-1630480129.jpg
 

  Miêu tả phong cảnh thiên nhiên, tác giả đã khéo phối hợp được nhiều cảnh sắc trong cùng một câu thơ như: Cành hoa sương phủ lối mòn sau hiên. Ở đây, hoa cỏ, sương gió, đường đi, nếp nhà đã hoà quyện vào nhau làm đậm nét cho câu thơ. Bằng thủ pháp nhân cách hoá, Quỳnh Dao đã tạo nên câu thơ sống động một cách tài hoa: Nắng đào say khướt ngang xiên ngọn đồi; hoặc quyến rũ đến nao lòng: Cầm tay nhìn phía thuyền câu/ Lẳng lơ trăng đã bên lầu Bích Dương. Khi mô tả nhan sắc của người thiếu nữ, chỉ một vài nét chấm phá cũng đủ làm ta xiêu lòng: Xiêm y hé nở thân ngà/ Mịn màng như một màu hoa phớt hồng.

Truyện thơ “Dưới Cầu Giang Tô” phản ánh một hiện thực sinh động, phác hoạ được tính chất của cuộc chiến tranh xâm lược hiện đại, cảm xúc và tâm thế con người trước bối cảnh đó.

          Nếu như ở các thời đại trước, khi nói đến chiến tranh người ta thường dùng đến các từ ngữ chỉ binh khí sát thương và các công cụ thô sơ như: giáo, gươm, tên, nỏ, khiên, mộc, ngựa, thuyền…, thì ở truyện thơ “Dưới Cầu Giang Tô” đã được thay thế bằng những từ ngữ khác hẳn, thích hợp với thời đại lúc bấy giờ: bom, đạn, máy bay (phi cơ), giầy đinh như trong các câu: Bom rơi, đạn xé căm hờn ngút mây; hoặc Ngang trời trăm chiếc phi cơ; Đường đi đã lộ gót giầy sắt đinh, v.v… Phải nói giữa thế kỷ 20, ít có tác phẩm thơ nào đưa được vào thơ những từ ngữ phản ánh hiện thực như thế.

          Về vai trò của nhân dân bị áp bức bị xâm lược, cũng đã khác xưa. Không còn cảnh bị bắt lính ra chiến trận như: Đưa chàng lòng dằng dặc buồn/ Bộ khôn bằng ngựa thủy khôn bằng thuyền (Chinh phụ ngâm) mà là: Tòng quân thề với đất trời Hàng Châu, hoặc: Nhân dân đứng chật đường đưa tiễn để khích lệ: Chen trong người đứng lô xô/ Bội Huyền mờ lệ bên hồ vẫy tay; và chính ở thời kỳ này ở nhà thơ không còn dùng chữ trung với vua nữa mà là trung với nước: Lòng trung quên cả bước đường gian lao.

          Một điểm rất đáng chú ý là vai trò người phụ nữ trong chiến tranh đã được khắc họa đậm nét trong “Dưới Cầu Giang Tô” mà trước đây và ngay cả lúc bấy giờ ở các nước hầu như rất ít được nói đến. Câu chuyện xảy ra ở Hàng Châu, nhưng tinh thần bất khuất trong “Dưới Cầu Giang Tô” lại chính là nói về người phụ nữ Việt Nam mang truyền thống của Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Bùi Thị Xuân, Nguyễn Thị Minh Khai. Ở đây nhân vật Bội Huyền đã trở nên quen thuộc: Ruột gan như muốn tòng chinh theo chàng; và Chuyến này liều chết một phen/ Cùng chàng xin hẹn báo đền non sông…và cuối cùng Bội Huyền đã hy sinh oanh liệt trước mũi súng quân thù xâm lược:

               Năm tên lính Nhật xếp hàng

               Lia ngang loạt súng một tràng đạn bay

               Tây Hồ sẫm nước đùn mây

               Rưng rưng trăng vẽ nét mày hồng nhan

Về nghệ thuật ta thấy, truyện thơ “Dưới Cầu Giang Tô” đã có những cách tân trong nhịp điệu câu thơ và ngôn từ, như tác giả đã đưa vào tác phẩm những tính từ và động từ mới, tạo nên nét độc đáo cho truyện thơ. Ví như trước đây và ngay cả hiện nay người ta thường dùng tính từ vàng để chỉ vẻ đẹp của trăng: Hỡi cô tát nước bên đàng/ Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi (ca dao), hoặc: Trăng vàng đêm ấy bờ đê (Tuyển tập thơ lục bát Việt Nam. Nxb Văn hoá, 1994), thì  Quỳnh Dao  đã dùng tính từ vàng rộm (có màu vàng sẫm, pha sắc đỏ, đều và khắp) rất mới lạ khi nói về trăng: Trăng ngâm vàng rộm dưới cầu Giang Tô khiến trăng không chỉ đẹp mà như toả mùi thơm ngon của quả chín (cam, bưởi). Còn  nói về hành động thì nhà thơ đã dùng động từ “đưa” thay thế động từ hót (chim hót) để người đọc liên tưởng tới loài chim dường như là người nghệ sĩ đang dạo đàn: “Chim đưa khúc nhạc trên cành/ Lòng run như ý chưa thành chơi vơi”. Những từ ngữ mới như vậy còn tìm thấy ở nhiều chỗ trong “Dưới Cầu Giang Tô”, như: nắng đào, nhành rêu vây, chiều mơn man, xé mây, lầu dát trăng vàng, trăng vẽ, trăng ngâm, trăng rơi, đam mơ,…

Cũng phải thấy rằng “Dưới Cầu Giang Tô” chịu ảnh hưởng nhiều về giọng điệu, nhịp thơ cũng như  sử dụng ngôn từ của Truyện Kiều. Có thể kể ra đây không ít trường hợp mà Quỳnh Dao đã dùng từ ngữ theo cách dùng của Nguyễn Du như: cành lê, bốn phương mây, dấu giầy, phong lưu, trông theo, băng mình, chút lòng, cúi đầu, ra chào, duyên gì, thác oan thế này, đầu tường, thị hùng, cả cười, trướng đào…, nhưng khi sử dụng những ngôn từ đó Quỳnh Dao đã có sáng tạo chứ không hoàn toàn lệ thuộc, chẳng hạn: Cành lê trắng điểm một vài bông hoa của Truyện Kiều thật là đẹp, nhưng ở dạng tĩnh, còn cành lê ở “Dưới Cầu Giang Tô” đã trở nên sống động: Cành lê một nửa lá đu đưa vàng; hoặc ở Truyện Kiều Nguyễn Du dùng Gương nga chênh chếch dòm song thì ở “Dưới Cầu Giang Tô” Quỳnh Dao đã dùng một vật rất tĩnh là song cửa để tác động lên ánh trăng di động: Song cài lên ánh trăng khuya, có vẻ như cảm nhận này là vô lý nhưng mới lạ, và nhất là vẫn đúng do đã tuân theo quy luật chuyển động tương đối.

Truyện thơ “Dưới Cầu Giang Tô” là một thiên tình sử bi tráng. Hàng Châu với Tây Hồ không chỉ là một danh lam thắng cảnh bậc nhất của nước Trung Hoa mà còn là hàng nước mắt của trời khóc cho số phận của một đôi trai gái tài sắc mà hiên ngang, lẫm liệt trước hoạ xâm lăng được tác giả đã gửi gắm, tin cậy: Hàng Châu trời khóc sương đầy / Nàng ôi giờ biết bèo mây phương nào.Đọc đến đây người đọc như nghe văng vẳng bên tai câu thơ của ai đó đầy ám ảnh: Giáo gươm gỉ xuống đá mòn/ Biết đâu họng súng vẫn còn nơi nơi. Đó cũng là lời cảnh báo cho nhân loại thiết tha yêu chuộng hoà bình, phản đối chiến tranh.

Tác phẩm văn học “Dưới Cầu Giang Tô viết từ năm 1940 của thế kỷ trước trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945). Tác giả Quỳnh Dao cũng đã hy sinh cách đây hơn 70 năm. Tuy nhiên đến nay tác phẩm “Dưới cầu Giang Tô” vẫn còn giữ nguyên tính thời sự của nó.