Nhiều ngôi nhà mới khang trang đã mọc lên bên các con đường lớn. Làng quê dẫu khác nhiều, nhưng trong ánh mắt hồn hậu, trên làn da rám nắng của mỗi người dân ở đây vẫn còn nguyên một nét gì đó rất riêng của những con người lớn lên trên vùng cát, vùng “gió lào cát trắng” đã thành biểu tượng của dải đất miền Trung này.

Tôi đến nơi đây lần đầu vào một buổi trưa tháng tám hơn 32 năm trước. Ngoài con đường chính từ thị xã Quảng Trị (nay là phường Quảng Trị) về làng Hà Tây, xã Triệu An, (nay là xã Nam Cửa Việt) đầy ổ gà, chỉ có những con đường ngập cát nối liền thôn xóm. Bàn chân không quen đường cát thật khó bước đi khi dép cứ mắc vào trong cát. Biết tin có người cháu từ Gia Lai trở về, nên các ông, các mệ, các chú bác, O dì và bà con đến rất đông. Tình cảm và sự thân mật của mọi người đã xóa đi khoảng cách, giúp tôi bớt đi cái e ngại lúc đầu.

Sáng hôm sau, tôi theo mẹ và chị ra chợ. Ngôi chợ làng nằm bên bờ con sông Hiếu nối liền Cửa Việt với Đông Hà. Nước sông trong xanh soi bóng những con thuyền đánh cá sau một đêm ra khơi về neo đậu. Chợ làng ngoài cá, tôm, mực là những sản phẩm từ biển còn là heo, gà, vịt, các sản phẩm rau quả từ các vườn nhà. Con đường cát lấp bước chân khiến tôi chỉ đi thôi đã khó nhọc. Nhưng trên con đường đó, các mệ, các O, các chị, các em vẫn kĩu kịt những gánh lúa, gánh khoai, những gánh rau. Cát mùa khô như níu bước chân người, có lẽ vì vậy mà người vùng cát này thường để chân trần khi đi trên cát để đi làm, đi chợ. Những bàn chân khô đen vì cát, màu nắng cháy trên làn da, mái tóc như là một nét đặc trưng của những con người lớn lên từ cát.

Trưa hè nóng rát, ngay cả cái gió cũng đem theo hơi nóng len lõi “vào thăm các ngôi nhà”. Những bóng cây phi lao, tràm xanh quanh nhà thành nơi trốn nắng. Vốn sinh ra lớn lên trên vùng Tây Nguyên quanh năm mát mẻ, mưa thuận gió hòa, tôi thật cảm phục bà con nơi đây khi phải sống và làm việc trong sự khắc nghiệt của thời tiết. Cũng bởi yếu tố thiên nhiên chi phối, nên cây lá nơi đây phát triển chậm và màu xanh chỉ phủ đầy khi mùa mưa, mùa xuân đến.


Cũng chính trên những đồi cát, những dòng sông, và xa chút nữa là biển cả, năm tháng đi qua bà con ở đây và chồng tôi đã để lại một tuổi thơ nhiều vất vả nhưng cũng không thiếu những kỷ niệm ngọt ngào. Sáng lội sông bắt cá, tối lội biển kéo tôm, vừa học vừa làm, vất vả mưu sinh, rồi vươn lên như một cây xương rồng trên cát. Mẹ chồng tôi nhọc nhằn với những gánh khoai, gánh lúa, quanh năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Như những phụ nữ thế hệ trước ở làng cát này, mẹ tôi và các dì, các O sống một cuộc đời lam lũ, cam chịu, chưa hề ra khỏi lũy tre làng. Vất vả nuôi con, những người mẹ quê chỉ mong con cháu có cuộc sống ấm no hơn mình.

Đi rồi về. Tôi đã nhiều lần trở lại làng quê cát trắng và vui hơn vì các cháu ngày càng được học hành và có nhiều cơ hội để đi xa, đem lại cho quê hương một sự thay đổi. Nhưng có một điều rất buồn, dù nó đã là quy luật, là mỗi năm tôi về, những ông mệ chú bác o dì ngày nào đón tôi, giờ đã lần lượt trở thành “người thiên cổ”. Cha mẹ chồng tôi cũng đã không còn. Tôi nhớ mẹ mỗi lần về lại lấy những đồng tiền lẻ đã dành dụm được để dẫn các cháu mua những món quà quê, như một cách thể hiện tình thương của bà dành cho cháu. Tôi nhớ chú tôi, lúc nào cũng chu đáo ân cần, lo cho cháu từng ly nước, chén cơm khi cháu xuống xe ghé nhà, rồi lại cùng cháu thức chờ đón những chuyến xe luôn chậm trễ và đầy khách vào những ngày khó khăn thuở đó. Gần 30 năm, các con tôi đã trưởng thành, tôi cũng đã già đi nhiều, vậy mà sao không khỏi xót xa khi những bóng hình thân yêu cứ xa dần.
Đúng vào ngày này 32 năm về trước, sau khi tổ chức đám cưới ở Gia Lai, vợ chồng tôi cùng chú Thái, chú Tình và cậu Chiến về quê chồng. Hai chú và cậu lần đầu đi xa, vào tận phố núi Pleiku lo việc lớn cho cháu, với bao lo âu về những bất trắc dọc đường, đã viết tên và địa chỉ của mình lên tất cả hành lý, phòng trường hợp xấu nhất xảy ra.

Sau mấy tiếng đồng hồ chờ xe mệt mỏi, cuối cùng chúng tôi cũng lên một chiếc xe khách đường dài. Chiếc xe dừng bắt khách nhiều lần, đến Quảng Ngãi thì đã đêm. Một đêm Trung Thu! Đường phố Quảng Ngãi chật kín người và rộn rã tiếng trống múa lân. Chiếc xe chúng tôi đi đành phải tìm đường khác, loanh quanh hết một giờ mới ra khỏi thị xã Quảng Ngãi.
32 năm đã đi qua với biết bao thay đổi, các chú và cậu đều đã đi xa. Ba mẹ chồng và nhiều bà con đón tôi về ngày ấy đều đã thành người thiên cổ. Tôi về, không còn gặp họ bằng hình hài xương thịt, chỉ có khói hương bảng lảng trên rú, bên những ngôi mộ im lìm nơi họ nằm yên nghỉ. Họ, cùng với những người thân yêu khác của tôi, đã là những người đã cũ, đã thuộc về một nơi mà thời gian không còn trôi đi nữa.
Cửa Việt – Quảng Trị hôm nay đã được khoác lên màu áo mới, cây cối xanh tốt, những trục đường giao thông thông suốt, trải nhựa láng bóng, đường thôn, ngõ xóm sạch đẹp, môi trường nông thôn tốt thuận, tạo nên sự an lành, tự tin cho một đời sống dân sinh yên bình và bền vững. Biết tận dụng thời cơ và sức mạnh nội lực để vươn lên, nên cuộc sống người dân đã thay đổi rất nhiều, nhà cửa được xây dựng kiên cố, to cao với nhiều kiểu dáng rất đẹp. Cũng những bãi cát ngày xưa bơ vơ, hoang vắng, nóng bỏng, nhưng hôm nay trở lại sao cứ ôm lấy bàn chân trần mát rượi, lôi cuốn. Bàn chân của những đứa con tha hương, của những cô dâu, chú rể đã bước đi trên biết mấy con đường chốn lạ. Chiều gió Nồm vào đem theo hương của biển mát rượi, đi trên con đường cát trắng quê hương, bước chân cảm thấy như cứ níu lại, lòng cứ nôn nao, mùi cát nồng nàn, thân thuộc…cảm giác cay cay ở khóe mắt. Cái mùi vị rất riêng, rất đặc biệt mà chỉ những người sinh ra trên cát, làm dâu, làm rể lâu ngày đi theo thời gian cùng với cát mới hiểu mới thấm thía vô chừng.


Lần này tôi trở về, việc đầu tiên, cũng như mọi lần, là lên rú thắp nhang tưởng nhớ những người bà con đã khuất. Rú là một động cát lớn, dài với những cây bụi tự nhiên mọc chen nhau, không đủ bóng mát để che đi cái nắng mùa hè và cái nóng bốc lên từ cát. Mộ cha mẹ, các chú bác và tất cả họ hàng nội ngoại của chồng tôi đều ở đây. Họ đã sống bên nhau một cuộc sống nhọc nhằn trên cát rồi lại về bên nhau trên đồi cát. Họ sống lặng lẽ, và bây giờ trong thế giới bên kia, họ vẫn đang lặng lẽ bên nhau cùng phù hộ cho quê hương và con cháu vươn lên thoát nghèo.


Trong buổi chiều tà, khi cái nắng cái nóng đã phần nào dịu bớt, nhìn làn khói hương phảng phất bay trên những ngôi mộ được chạm hình rồng phượng và nhiều họa tiết rất đẹp, tôi lại như thấy những người thân yêu đang hiện hữu quanh tôi dù không bằng hình hài xương thịt. Vùng cát này dẫu nắng, dẫu nóng, dẫu bao nhọc nhằn, nhưng với tôi nó đã là quê hương thân thiết.

Tôi yêu mỗi sáng sớm khi ông mặt trời lên trên ngọn phi lao, những con thuyền từ khắp nơi về bến đậu. Tôi yêu những lùm cây lộc vừng với những chùm hoa đỏ đẹp như những chiếc lồng đèn lung linh trong nắng. Tôi yêu những con người chân chất thật thà nơi đây để mỗi lần về lại cho tôi cảm giác về nhà. Tôi yêu con đường làng, con sông quê, những ngôi nhà và cả những ngôi mồ trên cát. Ấm áp biết bao màu cát trắng quê mình.