Dự án “Sáng kiến tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh” (TTU-VWAI) vừa nhận được lá thư cảm ơn xúc động của ông Phạm Văn Nhưng, đại diện thân nhân liệt sĩ Nguyễn Văn Lập. Ông Nhưng cho biết, thông qua bài viết "Hồ sơ 116/2026..." của nhà văn Đặng Vương Hưng đăng trên Tạp chí Văn hóa và Phát triển, gia đình đã kết nối được với cựu chiến binh Nguyễn Công Mịch - người đồng đội từng tận tay mai táng liệt sĩ Nguyễn Văn Lập tại chiến trường Lộc Ninh.
Điều quý giá là ông Mịch vẫn lưu giữ những trang ghi chép về các trận đánh, những chặng đường hành quân và những đồng đội từng cùng ông sống, chiến đấu trong những năm tháng ác liệt của chiến tranh. Trong đó, những dòng kể về sự hy sinh của ông Lập khiến người thân không cầm được nước mắt.

Theo lời kể của ông Mịch, đêm 2, rạng sáng 3/4/1972, tiểu đội của ông rơi vào trận phục kích giữa rừng cao su...
“Nhiệm vụ của chúng tôi là dẫn một số cán bộ, chiến sĩ cối 160 ly mới từ ngoài Bắc vào đi nhận trận địa, rồi đi đài quan sát ở hướng đông chi khu Lộc Ninh (…).
Người nọ cách người kia từ 3 đến 5 mét. Vì đêm tối nên chúng tôi phải bám nhau kẻo lạc. Đi khoảng một giờ thì nghe phía sau truyền lệnh lên: ‘Dừng lại!’.
Thành ở đằng trước quay lại hỏi:
- Gì thế mày?
Tôi trả lời:
- Hình như dừng lại chuẩn bị vượt đường.
Trong đầu tôi chợt nghĩ: ngồi xuống gốc cây cao su, nếu pháo bắn thì còn kịp tránh. Tôi vừa ngồi xuống thì một tiếng nổ choáng tai vang lên. Phía trước, Thành lao về phía tôi:
- Tao bị thương rồi!
Thành giơ tay lên rồi ngã xuống. Tôi nhảy tới chỗ Thành nằm, bật đèn dầu soi vào nách Thành, chỉ thấy một lỗ nhỏ, tròn, nhưng không có máu chảy ra ngoài. Tôi lóng ngóng gỡ băng để băng cho Thành. Tiếng thở khò khè, nặng nhọc được mấy phút thì tắt lịm. Buông cuộn băng, tôi đặt tay lên ngực Thành, thấy tim không đập nữa, biết Thành đã hy sinh.
Vì mải băng bó cho Thành nên tôi không biết những gì xảy ra xung quanh. Khi rời chỗ Thành, tôi mới nghe thấy rất nhiều tiếng kêu rên. Thằng Mắm kêu:
- Tao bị vào tim rồi!
Tôi quát nó trong cuống họng:
- Vào tim thì mày đi rồi, còn kêu làm sao được! Im đi!
Bên cạnh tôi, người lính đi phối thuộc cũng kêu lên:
- Em đứt động mạch cổ rồi!
Tôi chửi tục:
- Mẹ mày, đứt động mạch cổ thì mày chết rồi, còn kêu sao được!
Người lính ấy cứ ngẩng cổ lên. Tôi lấy đèn dầu soi thì thấy nổi lên một cục bằng hạt ngô dưới da bên phải, gần sát động mạch cảnh, không thấy máu chảy ra. Có lẽ đó là viên bi của mìn mo. Tôi chạy tới chạy lui (…).
Tôi đến bên tiểu đội trưởng Nguyễn Văn Lập. Anh bị thương cả hai chân, máu ra nhiều quá, ướt đẫm quần. Có lẽ anh bị đứt động mạch ở đùi, mà tôi không biết ở chỗ nào nên không ga-rô được. Anh Lập cầm tay tôi rồi nói:
- Em về bảo với thằng Quyết báo cho bố mẹ anh là anh đã hy sinh rồi.
Anh Quyết là đồng hương, cùng xã và cùng nhập ngũ với anh Lập.
Không cầm nổi nước mắt, tôi ôm lấy anh, động viên anh. Nhưng chỉ được mấy phút thì anh đã ra đi. Đặt anh nằm xuống, tôi lại chạy tới mấy người bị thương khác (…).
Khoảng 3 giờ sáng, mìn lại nổ xung quanh chúng tôi. Thật kinh hoàng! Như vậy là chúng tôi đã rơi vào ổ phục kích của địch, nơi chúng gài mìn sẵn.
Tiếng nổ chát chúa như đóng vào tai. Sau một loạt nổ liên hoàn, không gian lại rơi vào im lặng đến rợn người (…).
Tiêu bảo tôi:
- Đừng để nó bắt sống nhé!
Tôi nói với Tiêu, giọng lạnh tanh:
- Mày cầm lấy trái lựu đạn này, nếu nó đến bắt thì chia đôi với chúng, chứ sợ gì bị bắt sống!
Chúng tôi và địch bắn nhau khoảng 10–15 phút thì chúng rút về căn cứ. Khu rừng cao su lại lặng im như không có chuyện gì xảy ra.
Tôi lại đi đến chỗ những người bị thương, xem họ còn sống không. Đang đi thì nghe tiếng rên, kêu đau. Tôi chạy lại, thì ra là Anh. Anh bị thương nặng, một bàn chân đứt rời, vẫn ở trong chiếc dép cao su bốn hai. Chỗ chân đứt đã được ga-rô nên không chảy máu nữa.
Thấy tôi đến bên, Anh hỏi:
- Y tá phải không?
Tôi xưng tên. Anh thều thào bảo:
- Em lấy súng bắn cho anh một phát. Anh đau lắm, không chịu nổi nữa rồi!
Tôi động viên:
- Y tá sắp đến rồi, anh cố chịu đựng nhé! (…)
Một lúc sau, Anh ra đi vĩnh viễn, để lại người vợ và ba đứa con thơ dại ở quê nhà. Để Anh nằm đó, tôi quay lại kiểm tra xem ai còn, ai mất. Lúc ấy, trời đã sáng hẳn.
Sáng 3/4/1972, tiểu đội tôi có bốn người hy sinh, ba người bị thương. Ba người là anh Lập, Thành và Duyên mất tối 2/4; còn Anh mất lúc khoảng 4–5 giờ sáng 3/4. Hai thương binh được anh Tiền đưa về tuyến sau; còn lại tôi và Tiêu bị thương (…).
Chúng tôi ở lại, chia làm hai nhóm để chôn cất liệt sĩ. Một nhóm chôn cất liệt sĩ bên đơn vị phối thuộc; nhóm còn lại chôn cất liệt sĩ của tiểu đội tôi.
Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn áy náy không yên: Tại sao khi về đơn vị, mình không lấy tăng, võng của các anh để bó cho các anh trước khi mai táng? Đến khi đặt các anh xuống rãnh thoát nước của lô cao su thì không có gì để bó cả.
Tôi đặt Anh và anh Lập gối đầu nhau, Thành và Duyên gối đầu nhau, thành một hàng dài, rồi lấy một mảnh ni lông và một tấm màn phủ lên. Tôi còn mang bàn chân của Anh đặt vào chỗ chân bị đứt.
Chúng tôi lấp đất xong thì trời cũng vừa tối. Vĩnh biệt các anh! Các anh yên nghỉ trong lòng đất mẹ, chúng tôi trở về đơn vị đợi lệnh.
Đêm hôm ấy, mồng 3/4, đúng giờ G, tiếng pháo, cối bắn mở màn chiến dịch Nguyễn Huệ vào chi khu Lộc Ninh. Ngày 7/4, chi khu Lộc Ninh được giải phóng hoàn toàn (…).
Cuộc chiến kéo dài, nay đánh chỗ này, mai đánh chỗ khác, chiến trường trải rộng khắp Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, chúng tôi không có điều kiện đến thăm các anh. Chiến tranh mà, ai còn, ai mất, ai chôn… Cho đến hôm nay, ngồi suy nghĩ lại, trong lòng tôi vẫn ân hận vô cùng. Mấy từ ‘tại sao’, ‘giá như’ cứ thường xuyên xuất hiện trong đầu (…).
Sau 40 năm, tôi cùng hai cựu chiến binh thông tin, cùng ở Đoàn Pháo binh Biên Hòa, vào thăm lại chiến trường xưa để tìm nơi các anh yên nghỉ. Hình ảnh chỗ các anh nằm, tôi còn nhớ như in: cách ngã ba Lộc Tấn khoảng 2 km về phía Campuchia, gần bìa lô cao su, cách lộ 13 khoảng 300–400 mét.
Vậy mà khi chúng tôi đến khu vực đó, chỉ thấy cao su bạt ngàn, không thể nào định hình nổi (…).
Chúng tôi đành thắp hương tạ lỗi các anh rồi ra về với cái đầu nặng trĩu…”.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, những trang hồi ức ấy vẫn giữ lại lời trăng trối của người lính giữa chiến trường, tình đồng đội trong giờ phút sinh tử và cả nỗi day dứt đeo đẳng người ở lại. Với gia đình liệt sĩ Nguyễn Văn Lập, đó còn là những thông tin quý giá về giây phút cuối cùng của người thân và nơi ông được đồng đội mai táng.
Trong thư gửi chúng tôi, gia đình bày tỏ lòng tri ân sâu sắc:
“Những ngày cuối tháng 10/2026 này có một ý nghĩa vô cùng đặc biệt. Sau hơn nửa thế kỷ mong mỏi, lần đầu tiên chúng tôi có thêm một đầu mối quan trọng, một tia hy vọng mới trong hành trình tìm kiếm hài cốt người thân đã hy sinh vì Tổ quốc”.
Lá thư cảm ơn ấy tiếp thêm động lực cho những người thực hiện TTU-VWAI bền bỉ nối những đầu mối, tìm lại những chứng tích và kết nối thân nhân với đồng đội của người đã khuất. Hành trình đưa những người lính trở về với gia đình đôi khi bắt đầu từ một trang ghi chép cũ, một lời kể muộn màng, một ký ức chưa nguôi.
Và từ những cuộc kết nối như thế, niềm hy vọng tìm lại nơi người thân yên nghỉ lại được thắp lên.
Hà Nội, 05/11/2026
Đặng Vương Hưng
(Thành viên Dự án TTU–VWAI)