Về làng Thuỵ Khuê thăm nhà thờ Phan Huy Chú

Bái lạy những tiền nhân trong nhà thờ Phan Huy, chúng tôi nhận ra, những danh sĩ của dòng họ này không chỉ có những nhà chính trị, nhà ngoại giao tài giỏi mà còn là những nhà văn, nhà thơ rất mực tài hoa; những học giả vô cùng uyên bác. Trong số ấy, nổi bật nhất là danh nhân Phan Huy Chú (1782 – 1840). Vốn là người thông minh, cần cù; lại xuất thân từ dòng danh gia, khoa bảng nên ngay từ nhỏ ông đã nhận được sự giáo dưỡng rất chu đáo của gia đình hai bên nội, ngoại.
nha-tho-dong-ho-phan-huy-o-lang-thuy-khe-1767520217.jpg
Nhà thờ dòng họ Phan Huy ở làng Thuỵ Khê

Dòng họ Phan Huy ở Thuỵ Khuê (còn gọi là làng Thầy) xã Quốc Oai thành phố Hà Nội (trước đây thuộc xã Sài Sơn huyện Quốc Oai) vốn rất danh giá và nổi tiếng từ lâu đời. Rồi đến năm 2015, khi ông Ban Ki Moon - Tổng thư ký Liên Hợp Quốc đến thăm và ghi vào sổ lưu niệm của dòng họ tại ngôi nhà thờ Phan Huy Chú ở dưới chân núi Thầy thì danh thơm của chi tộc Phan Huy lại càng lừng lẫy và được rất nhiều người trong và ngoài nước biết đến. Ngôi nhà thờ ấy, trong tôi từ lâu vẫn biết, đó không chỉ là nơi thờ tự các bậc tổ tiên tiền bối từng là những triều thần, những danh nhân văn hoá lỗi lạc của dòng họ Phan Huy, của nước nhà qua các triều đại phong kiến, trải từ thời Hậu Lê đến đời nhà Nguyễn mà còn là nơi ra đời của của rất nhiều tác phẩm văn chương, những công trình khảo cứu lịch sử đồ sộ, quý giá của nước nhà. Biết vậy, trong thâm tâm tôi đã nhiều lần muốn đến thăm không gian thờ tự này, đồng thời cũng có thể coi đó là một “chứng nhân” chứng kiến sự ra đời của không ít các tác phẩm, những công trình văn hoá đặc biệt ấy; nhưng rồi việc nọ việc kia mà mãi vẫn chưa thực hiện được. Cứ thế, lòng hẹn lòng mãi, cuối cùng, nhân kỳ nghỉ Tết, tôi cũng đã thu xếp công việc để hành hương về chiêm bái. Và rồi, từ chuyến hành hương ấy, tôi được mở mang, hiểu biết thêm nhiều về dòng họ Phan Huy và những danh sĩ rất mực tài hoa, uyên bác của dòng họ này trên đất phủ Quốc, xứ Đoài mây trắng.

Qua đường tỉnh lộ 422, chúng tôi đi về núi Thầy - một danh thắng nổi tiếng của Đoài phương. Theo đó xe tôi ngang qua “Sông Đáy chậm nguồn qua phủ Quốc”, đi giữa miền đất ngọt phù sa của dòng sông từng một thời được véo von ngợi ca: “sông trăng hay sông lụa”, với những đồng lúa chín vàng và những cảnh đêm mơ mộng: “Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng” trong thơ Quang Dũng. Đôi bờ bên sông, đồng bãi vẫn màu mỡ nhưng không còn những ruộng mía bãi, dâu xanh biếc trong những “nong kén vàng như lúa” nữa mà thay vào đó là những ruộng hoa, vườn cam, vườn ổi, vườn bưởi … ngột ngạt mùi thuốc trừ sâu. Cứ thế, trên đường đi, nỗi niềm trong tôi không khỏi chênh vênh giữa đôi bờ của thực tại và hư ảo. Hiện thực, trước mắt, cảnh vật bên đôi bờ sông Đáy càng khác xa với tưởng tượng bao nhiêu thì miền ký ức gọi về qua những lời ca và những vần thơ huy hoàng một thủa hiện lên càng ngọt ngào, trữ tình bấy nhiêu. Và đến khi xe sang sông, đi lên con đê địa phận làng Phúc Đức, nhìn thấy núi Thầy sừng sững và xanh thẫm trước mặt, ký ức trong tôi lại vọng về với những món đặc sản trứ danh: “Củ đồng Mai, khoai sọ Pháng” (củ là khoai lang) cùng “Sài Sơn chi biển bức” (dơi ngựa ở làng Thày to, chắc, cánh dài; ăn ngon và rất bổ) của kẻ Thầy bên bờ sông Đáy mà không khỏi thèm thuồng, ao ước …

Đến con dốc đầu làng Phúc Đức, xe chúng tôi dời khỏi mặt đê hữu Đáy, theo con đường trải nhựa êm ái hướng về làng Thuỵ Khuê, phía khu di tích Quốc gia đặc biệt chùa Thầy, ở cách đó không xa, khoảng chừng hơn một cây số. Có lẽ, do được nghỉ tết dương lịch, khách tham quan đổ về leo núi, vãng cảnh chùa khá đông nên xe cô và người qua lại rất nhộn nhịp. Trên đường làng Thuỵ Khuê, hướng về phía chùa Thầy, tôi thấy có nhiều đoàn nữ sinh mặt hoa, da phấn, hồng hào, xinh đẹp đang rộn ràng trong những tà áo dài thướt tha đưa nhau về khu di tích chụp ảnh, nhìn rất duyên dáng. Nhìn quang cảnh đường làng tấp nập ấy, những hình ảnh thực tại của đôi bờ sông Đáy cùng những ký ức ngọt ngào của một miền quê thanh bình với biết bao sản vật nức tiếng hiện về lúc trước đã nhanh chóng bị chìm xuống, nhường chỗ cho cái tâm trạng háo hức tựa như người đi trẩy hội. Dường như cái nét hồn nhiên, vô tư, ngây thơ, hớn hở của những đám trẻ đang ríu rít, nô nức trên đường cái kia đang truyền sang chúng tôi khiến cho ai nấy đều có cảm giác rất phấn chấn. Loáng cái, xe đã đi qua trường trung học cơ sở Sài Sơn, rồi đến chỗ chợ cóc bên trục đường vào khu di tích thắng cảnh chùa Thầy. Nhìn về phía bên trái, chúng tôi nhìn thấy ngôi nhà thờ cấp bốn ba gian cổ kính nằm ở phía sau ao nước xanh biếc bên đường. Đấy chính là nhà thờ Phan Huy Chú và cũng là từ đường của dòng họ Phan Huy ở Thuỵ Khuê. Đương thời, đấy cũng từng là chốn đi về của biết bao vị đại quan, danh sĩ dòng họ Phan Huy thuộc các triều đại phong kiến Việt Nam từ khoảng nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX.

dang-huong-tai-ban-tho-dong-ho-phan-huy-o-lang-thuy-khe-1767520725.jpg
Dâng hương tại ban thờ dòng họ Phan Huy ở làng Thuỵ Khê

Từ bên ngoài đường cái nhìn vào, chúng tôi thấy nhà thờ sử gia Phan Huy Chú - từ đường của dòng họ Phan Huy tĩnh lặng, bình yên giữa xóm làng dưới chân núi Sài Sơn. Khoảng cách của nơi thờ tự với mặt đường chỉ là một khoảng ao nhưng mọi thứ ồn ào của chợ búa hay cái không khí náo nức hội hè của khách tham quan trên đường đi dường như đều bị mặt nước thanh lọc. Ngôi nhà được làm từ thế kỷ XIX, có tuổi đời quãng chừng 200 năm. Nó đã trải qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa nhưng vẫn giữ nguyên cái dáng dấp cổ kính theo lối kiến trúc truyền thống của vùng Bắc Bộ. Ngôi nhà có kết cấu ba gian chính và hai gian phụ (mỗi gian phụ ở bên đầu nhà rộng chừng hơn một mét). Thiết kế ngôi nhà khá độc đáo, lòng nhà nhô lên cao hơn mái hè khoảng gần một mét, chia thành năm ô, trong đó ô ở giữa có viết bốn chữ Hán: “Phan Bình Chương Từ” (nhà thờ Phan Bình Chương, tức Phan Huy Cẩn, sinh năm 1733 mất năm 1800; người được coi là vị tổ khai khoa của dòng họ Phan Huy; ông đậu Giải Nguyên năm Đinh Mão - 1747, đậu Hội Nguyên năm Giáp Tuất – 1754; làm quan đến chức Bình Chương Sự - Tể Tướng; sau về trí sĩ rồi lại được mời ra làm Tham Tụng, Quốc sử Tổng tài, Tả Thị Lang, tước Khuê Phong Hầu; ông chuyển về ở dưới chân núi Thầy và được coi là thuỷ tổ khai lập nên dòng họ Phan Huy ở đây). Mái hè được hạ từ bức tường mặt tiền xuống hai tường hồi và các vì kèo đặt trên bốn cột gạch xây vuông để viết các câu đối bằng chữ Hán. Mái nhà và mái hè được lợp bằng ngói ta (hình mũi hài). Mặt tiền nhà thờ nhìn ra ao và đường làng. Trước hiên nhà là một khoảng sân rộng lát gạch vuông, màu đỏ. Trong nhà, gian giữa là chính điện, hai gian bên và hai gian phụ đều có các ban thờ bày ngai, đồ thờ và di ảnh các nhân vật lỗi lạc của dòng họ Phan Huy như Thượng thư Phan Huy Cẩn, Thượng thư Phan Huy Vịnh, Thượng thư Phan Huy Thực, Thượng thư Phan Huy Ích… cùng các sắc phong và bằng công nhận di tích lịch sử văn hoá… Không gian khu di tích nhà thờ Phan Huy Chú và từ đường dòng họ Phan Huy thoáng mát, trang nghiêm và thanh tịnh, thơm mát hương trầm.

Trước đây tôi đã từng nghe dòng họ Phan Huy ở Sài Sơn có gốc từ tỉnh Hà Tĩnh. Trước đó dòng họ này là Phan Văn, đến năm 1743 thì đổi thành Phan Huy với mong ước con cháu sau này phát triển để tổ tiên được vẻ vang (Huy có nghĩa là huy hoàng, xán lạn). Nghe kể, tôi thấy mong ước của vị tiền bối Phan Văn Tịnh đã ứng nghiệm. Sau khi đổi tên đệm, con cháu của dòng họ Phan này quả thực đã phát triển vược bậc mà mở đầu là cụ Phan Huy Cẩn. Rồi tiếp theo sau, con cháu dòng họ Phan Huy nối đời đỗ đạt và trở thành một dòng họ khoa bảng nổi tiếng cả nước; trong đó có nhiều người được triều đình trọng dụng và trở thành những bậc lương đống của quốc gia như Thượng thư Phan Huy Ích đỗ Tiến sĩ năm 1775, Tiến sĩ Phan Huy Ôn đỗ năm 1779 (hai ông là con của Thượng thư Phan Huy Cẩn); Thượng thư Phan Huy Thực, nhà bác học Phan Huy Chú (hai ông con của cụ Phan Huy Ích); Thượng thư Phan Huy Vịnh (con của cụ Phan Huy Thực) …

Có lẽ trong các dòng họ khoa bảng ở Việt Nam hiếm có họ nào có nhiều người đỗ đạt và làm quan như dòng họ Phan Huy. Trong Văn Miếu - Quốc Tử Giám hiện vẫn còn bia đá khắc tên những người đỗ đạt của dòng họ Phan Huy. Ở đấy, ta thấy dưới thời Lê - Trịnh, dòng họ này có cha và hai con cùng đỗ Tiến sĩ và được bổ làm quan. Đây có lẽ là hiện tượng “Tam phụ tử huynh đệ đồng triều” rất ít gặp. Những vị quan của dòng họ Phan Huy ấy rất thanh liêm. Bởi thế khi nghĩ về dòng họ này, với những vị quan đức độ như thế, với những đóng góp về văn hoá cho đất nước, với những đóng góp cho quê hương (cụ Phan Huy Cận và con trai là Phan Huy Ích giỏi về địa lý nên đã thiết kế đường xá, mương máng; cổng làng, hướng đình, văn chỉ, giếng nước cho làng Thuỵ Khuê …; dân làng nhớ ơn, thờ phụng cụ làm hậu thần), tôi chợt nghĩ, nếu làm quan cả họ được như thế thì quả là phúc phần cho trăm họ, chứ chẳng như ai “một người làm quan cả họ được nhờ”.

ben-non-nuoc-chua-thay-1767520845.jpg
Bên non nước chùa Thầy

Đến thăm nhà thờ dòng họ Phan Huy, ngắm nhìn di ảnh Thượng thư Phan Huy Thực, bất chợt tôi lại nhớ đến bản dịch bài thơ “Tỳ Bà Hành” (Bạch Cư Dị) nổi tiếng của ông (trước đây người ta cho rằng bản dịch bài thơ của Phan Huy Vịnh nhưng sau tìm được tài liệu ghi chép thì phần lớn khẳng định bản dịch hiện hành được nhiều người sử dụng là của Phan Huy Thực). Bản dịch bài thơ nổi tiếng tới mức, bất kỳ ca nương ca trù nổi tiếng nào cũng thuộc và bài hát này là một tiết mục không thể thiếu được trong bất cứ cuộc chơi “chat tom tom tom” nào. Giữa không gian tĩnh lặng, dìu dịu hương trầm phảng phất, đâu đó vang lên trong tâm tưởng những tiếng đàn, tiếng phách luyến láy khi thì khoan nhặt, du dương, tha thiết lúc lại nỉ non, sầu thảm, xé lòng cùng những lời ca sâu lắng, dạt dào cảm xúc của ca nương Quách Thị Hồ, kể lại cuộc gặp gỡ và sự đồng cảm của Giang Châu Tư Mã và người ca kỹ tài sắc bậc nhất kinh kỳ đang phải chịu chung số phận bi thương, bất hạnh. Theo miền tâm tưởng như thế mà một đêm trên: “Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách/ Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu/ Người xuống ngựa khách dừng chèo/ Chén quỳnh mong cạn nhớ chiều trúc ti…” như hiện ra trước mắt. Ta như thấy quan Tư Mã Giang Châu nghe được tiếng đàn thánh thót bay trên mặt sông mà lòng không khỏi ngậm ngùi, xao xuyến. Để rồi vị quan ấy phải tìm gặp người ca kỹ chơi đàn để hỏi, để nghe. Cảnh tượng người ca kỹ chơi đàn cứ thế mà hiện lên. Tiếng đàn: “Nghe não nuột mấy dây buồn bực/ Dường than niềm tấm tức bấy lâu/ Mày chau tay gẩy khúc sầu/ Dãi bầy hết nỗi trước sau muôn vàn/ Ngón buông, bắt khoan khoan dìu dặt/ Trước Nghê Thường sau thoắt Lục Yêu/ Dây to nhường đổ mưa rào/ Nỉ non dây nhỏ khác nào chuyện riêng/ Tiếng cao thấp lựa chen lần gẩy/ Mâm ngọc đâu bỗng nẩy hạt châu/ Trong hoa oanh ríu rít nhau/ Nước tuôn róc rách chảy mau xuống ghềnh/ Nước suối lạnh dây mành ngừng đứt/ Ngừng đứt nên phút bặt tiếng tơ/ Ôm sầu mang giận ngẩn ngơ/ Tiếng tơ lặng ngắt bây giờ càng hay/ Bình hạc vỡ tuôn đầy dòng nước/ Ngựa sắt giong xô xát tiếng đao/ Cung đàn trọn khúc thanh tao/ Tiếng buông xé lụa lựa vào bốn dây …”. Và, trong nỗi cô đơn, sầu thảm ấy; người ca kỹ như thể muốn mượn tiếng đàn để giãi bày cái cõi lòng đang tê tái cùng cuộc đời đầy trắc trở, truân chuyên: “Rằng: xưa vốn là người kẻ chợ/ Cồn Hà Mô trú ở lân la/ Học đàn từ thuở mười ba/ Giáo phường đệ nhất chỉ đà chép tên/ Gã Thiện tài sợ phen dừng khúc/ Ả Thu nương ghen lúc điểm tô/ Ngũ Lăng, chàng trẻ ganh đua/ Biết bao the thắm chuốc mua tiếng đàn”. Nghe tiếng đàn, ta như thấy được ngày tháng cũng dần trôi, những huy hoàng một thủa cũng lùi dần vào dĩ vãng. Người ca kỹ nhan sắc cũng tàn phai và lẻ bóng trong ngôi nhà vắng lặng. Rồi nàng cũng phải gá nghĩa cho người lái buôn hòng nương thân lúc tuổi già đau yếu. Nhưng kẻ lái buôn kia cũng chỉ là phường tham lam, ích kỷ. Hắn đã bỏ nàng cô độc trên con thuyền u uất trên bến Tầm Dương: “Thuyền không, đậu bến mặc ai/ Quanh thuyền trăng dãi nước trôi lạnh lùng/ Ðêm khuya sực nhớ vòng tuổi trẻ/ Chợt mơ màng dòng lệ đỏ hoen”. Dường như, không ai hiểu nàng, cuối cùng chỉ có một ông quan Tư Mã từng ôm mộng hoài bão với bao khát vọng cao xa nhưng bị bãi chức, đày đoạ thấu cảm: “Nghe não nuột khác tay đàn trước/ Khắp tiệc hoa sướt mướt lệ rơi/ Lệ ai chan chứa hơn người?/ Giang Châu tư mã đượm mùi áo xanh”. Thế đấy! Những vần thơ sang trọng và tài hoa nhưng cũng đầy ám ảnh vọng về trong đâu đó.

Bái lạy những tiền nhân trong nhà thờ Phan Huy, chúng tôi nhận ra, những danh sĩ của dòng họ này không chỉ có những nhà chính trị, nhà ngoại giao tài giỏi mà còn là những nhà văn, nhà thơ rất mực tài hoa; những học giả vô cùng uyên bác. Trong số ấy, nổi bật nhất là danh nhân Phan Huy Chú (1782 – 1840). Vốn là người thông minh, cần cù; lại xuất thân từ dòng danh gia, khoa bảng nên ngay từ nhỏ ông đã nhận được sự giáo dưỡng rất chu đáo của gia đình hai bên nội, ngoại (mẹ Phan Huy Chú là con gái của Ngô Thì Sĩ, em gái của Tiến sĩ Ngô Thì Nhậm - một dòng họ khoa bảng nổi tiếng ở Thanh Oai, những người dòng họ Ngô này cũng là tác giả của bộ tiểu thuyết “Hoàng Lê nhất thống chí”, nghe kể Ngô Thì Nhậm rèn dạy Phan Huy Chú từ khi mới 6 tuổi). Sau này khi xây dựng gia đình ông lại làm con rể của Thượng thư Nguyễn Thế Lịch, người ở xã An Khánh (trước đây thuộc huyện Hoài Đức). Sinh trưởng trong môi trường như thế nhưng Phan Huy Chú là người trọng việc thực học hơn khoa cử. Ông chỉ thi đến Tú tài rồi không tham gia trường thi nào nữa. Nhưng với tài năng và việc làm thực tế của mình, ông đã để lại cho đời rất nhiều các tác phẩm có giá trị. Trong đó, tiêu biểu như: “Hoàng Việt dư địa chí”, “Mai Phong du Tây thành dã lục”, “Hoa thiều ngâm lục”, “Hoa trình tục ngâm”, “Hải trình chí lược”, “Lịch đại yến thông luận”, … đặc biệt bộ sử “Lịch triều hiến chương loại chí”. Bộ sách “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú gồm có 49 quyển khảo cứu về lịch sử Việt Nam từ khi lập quốc đến cuối triều Lê. Ông đã dày công sưu tầm tư liệu; đối chiếu, sắp xếp một cách khoa học; có tầm khái quát và chia theo 10 loại hiến chương gọi là chí, gồm: “Dư địa chí” (khảo cứu về đất đai, phong thổ, lịch sử địa lý Việt Nam qua các đời); “Nhân vật chí” (ghi chép tiểu sử từ vua chúa, tướng sĩ đến những người trung thần, tiết nghĩa có công với nước); “Quan chức chí” (xét về chế độ quan lại ở Việt Nam); “Lễ nghi chí” (khảo sát các quy định, thể chế, phẩm phục của vua chúa, quan lại cùng các nghi lễ trong triều đình); “Khoa mục chí” (viết về chế độ giáo dục, khoa cử đời xưa); “Quốc dụng chí” (nói về chế độ thuế khóa, tài chính của các triều đại); “Hình luật chí” (xem xét về pháp luật của các đời); “Binh chế chí” (khảo cứu về quy chế tổ chức và việc luyện binh qua các đời); “Văn tịch chí” (nói về tình hình sách vở của nước ta đời trước); “Bang giao chí” (viết về việc giao thiệp, nghi lễ đón tiếp các sứ thần qua các đời). Nghe kể, sau khi đỗ tú tài, Phan Huy Chú đã “đóng cửa tạ khách”, lên ở chỗ chùa Một Mái, trên núi Thầy, từ năm 1809 đến năm 1819, để hoàn thành bộ “Lịch triều hiến chương loại chí”. Sau khi viết xong bộ sách, hai năm sau, năm 1821, Phan Huy Chú mới dâng bộ sách lên vua Minh Mệnh. Nhà vua xem xong thấy có giá trị nên rất đắc ý và khen thưởng cho Phan Huy Chú 30 lạng bạc, một chiếc áo sa, 30 cái bút, 30 thoi mực và thăng chức Lang trung bộ lại. Đồng thờ cho khắc bản gỗ, in ra thành nhiều bản để phổ biến trong cả nước. Sau này, khi đọc công trình “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú, G.P. Mu-ra-sê-va (học giả người Liên Xô trước đây) đã đánh giá rất cao: “Lịch triều hiến chương loại chí là bộ sách xứng đáng được gọi là bộ bách khoa toàn thư về cuộc sống Việt Nam. Công trình này thực tế không có công trình nào sánh nổi về bề rộng của phạm vi các vấn đề trong khoa lịch sử sử học Việt Nam thời phong kiến”. Có thể nói, bộ sách “Lịch triều hiến chương loại chí” đã đánh dấu một bước phát triển cao về học thuật ở nước ta hồi đầu thế kỷ XIX. Với đóng góp này, Phan Huy Chú đã được người đời tôn vinh là một trong hai nhà bác học lớn nhất của Việt Nam thời phong kiến (một người khác là Lê Quý Đôn). Đặc biệt, trong tác phẩm của mình, Phan Huy Chú là một trong những nhà sử học sớm khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, ông từng viết: “Ngoài biển phía Đông Bắc có đảo Hoàng Sa, nhiều núi lớn nhỏ, đến hơn 130 ngọn núi, Từ chỗ núi chính đi ra biển sang các đảo khác ước chừng hoặc một ngày, hoặc vài trống canh. Trên núi có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng, dài ước chừng 30 dặm, bằng phẳng rộng rãi. Trong bãi có dòng nước trong suốt đến đáy. Sườn đảo có vô số vỏ yến sào … Các đời chúa Nguyễn đã đặt đội Hoàng Sa 70 người, người làng An Vĩnh thay phiên nhau đi lấy hải vật. Hàng năm cứ đến tháng ba, khi nhận được mệnh lệnh sai đi, phải đem đủ sáu tháng lương thực, chở năm chiếc thuyền nhỏ ra biển…”. Vốn sống gần dân nên hơn ai hết Phan Huy Chú là người có tư tưởng rất tiến bộ. Ông luôn trọng dân, đứng về phía lợi ích của nhân dân, bênh vực người nghèo, chống lại chế độ chiếm hữu, bóc lột của giai cấp phong kiến. Ông đã từng viết: “chế độ ruộng đất ở Bắc Hà từ trước đến nay sổ sách thiếu sót không thể kê cứu được. Nhưng đại thể ruộng đất của dân để mặc cho bọn cường hào chiếm đoạt. Hơn một ngàn năm nay những người làm vua làm chúa trong nước không ai khôi phục lại chế độ ruộng đất của đời cổ để trừ tai vạ cho dân”. Một nhân cách như thế quả là rất hiếm và rất đáng quý biết bao!

but-tich-luu-niem-cua-tong-thu-ky-lien-hop-quoc-ban-ki-moon-tai-nha-tho-dong-ho-phan-huy-o-lang-thuy-khe-1767520944.jpg
Bút tích lưu niệm của Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki Moon tại nhà thờ dòng họ Phan Huy ở làng Thuỵ Khê

Chiêm bái nhà thờ Phan Huy Chú, dâng hương tưởng nhớ những bậc tiền nhân xong chúng tôi lên núi Thầy vãng cảnh và tìm đến nơi người xưa từng đóng cửa mười năm viết sách. Cảnh chùa cổ kính thanh tịnh; không khí thoáng đãng trong lành; sơn thuỷ thơ mộng hữu tình; thực là quyến rũ! … Thong thả men theo những bậc đá chúng tôi lên chùa Cao lễ phật; vòng ra phía sau tìm xuống hang Cắc Cớ thăm nơi Lữ Gia tuẫn tiết; đi qua hàng đại vài trăm tuổi lên đền Thượng bái thánh Văn Xương, thăm nơi Đông Kinh Nghĩa Thục hội họp; sang chùa Một Mái thăm nơi ra đời của bộ bách khoa toàn thư “Lịch triều hiến chương loại chí”, xem lại nơi ở của Bác trong những ngày người về sinh sống ở nơi đây; leo lên Chợ Trời thưởng thức gió trăng nơi tiên đánh cờ … Từ trên núi cao nhìn xuống, phong cảnh làng quê hiện lên thật đẹp. Non nước xứ Đoài trữ tình như thế bảo sao bao đời tao nhân mặc khách cứ không ngừng đưa nhau đến vãng cảnh và làm thơ!

Núi Thầy, ngày 2 tháng 01 năm 2026

Ngày 23 tháng 5 năm 2015, Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki Moon đến thăm nhà thờ Phan Huy Chú và viết lưu niệm. Nội dung được bài viết được dịch như sau: “Tôi rất xúc động khi viếng thăm và tỏ lòng thành kính sâu sắc trước ngôi nhà thờ Phan Huy Chú và các thành viên khác của dòng họ Phan. Cảm ơn dòng họ đã giữ gìn và bảo quản ngôi nhà thờ này. Là một người con của dòng họ Phan, giờ đây giữ chức Tổng Thư ký của Liên Hợp Quốc, tôi hứa với bản thân sẽ cố gắng làm theo những lời dạy của tổ tiên”.