Xây dựng và lan tỏa hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, sức mạnh Việt Nam chưa bao giờ chỉ được tạo nên bởi tài nguyên thiên nhiên hay quy mô dân số. Điều làm nên tầm vóc và bản lĩnh Việt Nam chính là khí phách, ý chí độc lập tự cường và hệ giá trị được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước.

Chính hệ giá trị ấy đã kết tinh thành tinh thần yêu nước nồng nàn, ý chí quật cường, truyền thống nhân ái, đoàn kết, trọng nghĩa tình và khát vọng vươn lên không ngừng.

dt1a-b-vh1-1772076086.jpg
Tranh cổ động để minh hoạ. Nguồn: Internet.

Sinh thời, Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”. Lời dạy ấy đến hôm nay càng thể hiện tầm nhìn chiến lược sâu sắc. Văn hóa không chỉ đồng hành cùng phát triển, mà phải đứng ở vị trí dẫn đường, là nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh của quốc gia. Nếu kinh tế quyết định khả năng đi nhanh, thì văn hóa quyết định khả năng đi xa. Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ: Nếu kinh tế tạo ra của cải vật chất, thì văn hóa tạo dựng bản lĩnh, kỷ luật, niềm tin và sức mạnh tinh thần để dân tộc vượt qua thử thách, khẳng định vị thế và tầm vóc trong một thế giới đầy biến động.

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn về chất lượng tăng trưởng, về năng lực tự chủ và sức cạnh tranh quốc gia, việc xây dựng và lan tỏa hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam không chỉ là nhiệm vụ văn hóa, mà là nhiệm vụ chiến lược, mang tính sống còn đối với tương lai dân tộc.

Hệ giá trị quốc gia – “la bàn” định hướng phát triển trong thời đại biến động

Một quốc gia muốn phát triển bền vững phải có “la bàn” về giá trị. Hệ giá trị quốc gia chính là kim chỉ nam định hướng hành vi xã hội, là chuẩn mực phân định đúng – sai, tốt – xấu, thật – giả; là điểm tựa để chống lại sự lệch chuẩn, lai căng và những tác động tiêu cực trong quá trình hội nhập.

Hiện nay, thách thức lớn nhất đối với văn hóa không đơn thuần là thiếu nguồn lực đầu tư, mà là nguy cơ xói mòn hệ giá trị, sự lệch chuẩn trong hành vi, lối sống thực dụng, bạo lực ngôn từ trên không gian mạng, tin giả, tin thất thiệt và sự xâm nhập của các yếu tố độc hại. Nếu không kịp thời chấn hưng văn hóa, chúng ta có thể đạt tăng trưởng kinh tế ấn tượng trong ngắn hạn nhưng sẽ thiếu nền tảng dài hạn. Con người có thể giàu lên về vật chất nhưng nghèo đi về chuẩn mực, về lòng tự trọng, về trách nhiệm công dân và về khát vọng cống hiến.

Việc xác định rõ những phẩm chất cốt lõi của con người Việt Nam thời kỳ mới – yêu nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục, kỷ cương, liêm chính, trách nhiệm, nhân ái, sáng tạo và khát vọng vươn lên – chính là bước đi căn bản để định hình hệ giá trị quốc gia. Tuy nhiên, hệ giá trị không thể chỉ dừng lại ở khẩu hiệu hay văn bản. Nó phải được thể chế hóa thành chính sách, cụ thể hóa trong chương trình giáo dục, chuẩn mực công vụ, tiêu chí đánh giá văn minh cộng đồng và trở thành thước đo chất lượng phát triển.

Trong mối liên hệ đó, Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị và Văn kiện Đại hội XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nếu các nghị quyết về phát triển kinh tế tạo dựng nội lực vật chất, bảo đảm ổn định vĩ mô và nâng cao năng lực tự chủ quốc gia, thì Nghị quyết 80 tập trung củng cố nội lực tinh thần – bồi đắp bản lĩnh, kỷ cương, niềm tin và sức mạnh nội sinh của dân tộc. Đây không chỉ là một văn kiện về văn hóa, mà là một cấu phần chiến lược trong tổng thể định hướng phát triển đất nước nhanh và bền vững.

Tinh thần của Nghị quyết 80 đòi hỏi phải đặt văn hóa ngang tầm với kinh tế, chính trị, xã hội; coi xây dựng con người là trung tâm, là mục tiêu và động lực của phát triển. Điều đó có nghĩa, mọi chủ trương, chính sách đều cần được soi chiếu bởi hệ giá trị quốc gia; mọi hoạt động quản lý, điều hành đều phải hướng đến củng cố niềm tin xã hội và nâng cao chất lượng con người.

Xây dựng môi trường văn hóa và phát triển con người – củng cố nội lực tinh thần quốc gia

Nếu hệ giá trị quốc gia là “la bàn”, thì môi trường văn hóa chính là “không gian sống” để những giá trị ấy thẩm thấu và lan tỏa. Môi trường văn hóa là tổng hòa của chuẩn mực ứng xử, tinh thần thượng tôn pháp luật, sự tôn trọng sự thật, tôn trọng nhân phẩm, tôn trọng lao động và cống hiến.

Trong kỷ nguyên số, môi trường văn hóa không chỉ tồn tại trong không gian vật lý mà mở rộng sang không gian mạng – nơi thông tin lan truyền với tốc độ chưa từng có, nơi cảm xúc dễ bị kích động và nơi các yếu tố độc hại có thể gây nhiễu loạn nhận thức. Do đó, xây dựng “miễn dịch xã hội” trước tin giả, hình thành văn hóa tranh luận văn minh, kiên quyết bài trừ bạo lực ngôn từ, hành vi xúc phạm nhân phẩm và gieo rắc hằn thù là nhiệm vụ cấp thiết.

Trọng tâm của chấn hưng văn hóa phải là giáo dục và phát triển con người. Nhà trường không chỉ dạy chữ mà phải dạy làm người, dạy trách nhiệm công dân, dạy kỷ luật và năng lực sống. Gia đình không chỉ nuôi dưỡng thể chất mà phải hình thành nhân cách và lòng tự trọng. Cộng đồng không chỉ là nơi sinh hoạt mà phải là môi trường tôn vinh điều tốt, khuyến khích lao động, học tập và cống hiến. Văn hóa phải bắt đầu từ những điều giản dị nhưng cốt lõi: trung thực, tử tế, trách nhiệm và tinh thần “mình vì mọi người”.

Đồng thời, phát triển công nghiệp văn hóa theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, gắn với chuyển đổi số sẽ giúp văn hóa vừa là nền tảng tinh thần, vừa là nguồn lực kinh tế và sức mạnh mềm quốc gia. Một nền văn hóa mạnh không chỉ được đo bằng chiều sâu truyền thống mà còn bởi năng lực sáng tạo và khả năng sản xuất những sản phẩm văn hóa có giá trị, có sức lan tỏa trong nước và quốc tế.

Đặc biệt, xây dựng văn hóa trong hệ thống chính trị phải được coi là gốc rễ của niềm tin xã hội. Văn hóa công vụ phải là văn hóa nêu gương, nói đi đôi với làm, trọng danh dự, trọng kỷ luật và tận tụy phục vụ nhân dân. Niềm tin của nhân dân không được tạo ra từ lời hứa, mà từ hành động cụ thể, từ thái độ phục vụ và từ sự nghiêm minh trong thực thi kỷ luật. Ở đâu cán bộ gương mẫu, ở đó kỷ cương được củng cố; ở đâu kỷ cương được củng cố, ở đó hệ giá trị được bảo vệ và lan tỏa.

Tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh một yêu cầu then chốt: Quán triệt nghị quyết là để hành động; hành động phải tạo chuyển biến; và chuyển biến phải được nhân dân cảm nhận rõ trong đời sống hằng ngày. Điều đó khẳng định rằng xây dựng hệ giá trị quốc gia không thể làm dàn trải, hình thức, mà phải có chương trình hành động cụ thể, phân công rõ trách nhiệm, đề cao vai trò người đứng đầu và kiểm tra, giám sát thường xuyên.

Xây dựng và lan tỏa hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam là một quá trình lâu dài, đòi hỏi quyết tâm chính trị cao và sự tham gia chủ động của toàn xã hội. Khi nội lực vật chất và nội lực tinh thần được kết hợp hài hòa; khi tăng trưởng kinh tế song hành với củng cố bản lĩnh văn hóa; khi mỗi con người Việt Nam ý thức rõ trách nhiệm gìn giữ và phát huy giá trị tốt đẹp của dân tộc – thì đất nước sẽ có nền tảng vững chắc để phát triển nhanh mà vẫn bền vững, hội nhập sâu rộng mà không hòa tan, hiện đại mà không đánh mất bản sắc.

Văn hóa soi đường – đó không chỉ là tư tưởng chỉ đạo, mà phải trở thành phương thức hành động. Hệ giá trị quốc gia không chỉ nằm trong nghị quyết, mà phải sống động trong từng gia đình, từng nhà trường, từng cơ quan và từng cộng đồng. Khi đó, sức mạnh Việt Nam sẽ không chỉ nằm ở tiềm lực kinh tế, mà còn ở chiều sâu nhân cách và khát vọng vươn lên – nguồn động lực bền bỉ đưa đất nước tiến bước vững vàng trong kỷ nguyên mới.

V.X.B