Chuyện ông Nguyễn Sinh Khiêm - Anh ruột của Bác Hồ, ra Thủ đô thăm em trai năm 1946

“Cậu cả Khiêm” là tên gọi thân thương mà bà con ở quê thường gọi anh trai Bác Hồ - người đã cùng Bác lớn lên không chỉ là một người anh, mà còn như người bạn thân thiết và yêu thương nhau hết mực. Họ tên đầy đủ của ông là Nguyễn Sinh Khiêm (tức Nguyễn Tất Đạt), sinh năm Mậu Tý – 1888, tại làng Hoàng Trù, xã Chung Cự, Tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đường; sau là xã Kim Liên, huyện Nam Đàn (cũ) của tỉnh Nghệ An.

Từ thuở thiếu thời, Nguyễn Sinh Khiêm đã được tiếp thu truyền thống yêu nước thương người của hai gia đình nội ngoại. Đặc biệt, ông hiểu biết nhiều về văn học dân gian, y học cổ truyền, thông thạo về địa lý và có vốn Hán học uyên thâm.

dt1abh1-1768823720.jpg

Ảnh do tác giả cung cấp.

 

Với sự hiểu biết qua sách vở và những lần được theo cha đi nhiều nơi, ông đã thấu hiểu cuộc sống khổ cực của nhân dân Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp và triều đình phong kiến tay sai. Từ đó nhen nhóm trong ông tinh thần yêu nước, thương dân sâu sắc. Lớn lên, Nguyễn Sinh Khiêm tham gia nhiều hoạt động đấu tranh tích cực, nhằm thức tỉnh quần chúng đứng lên chống lại bọn thực dân phong kiến...

Năm 1908, ông tham gia phong trào chống thuế ở Trung kỳ cùng với em trai Nguyễn Tất Thành (vì việc này mà hai anh em ông đã bị khiển trách và cho thôi học ở Trường Quốc học Huế). Trở về quê hương ông cùng với chị gái là Nguyễn Thị Thanh tham gia phong trào yêu nước của chí sĩ Phan Bội Châu. Năm 1910, Công sứ Pháp yêu cầu sưu tầm, biên soạn ca dao, tục ngữ và dân ca Nghệ Tĩnh. Lợi dụng việc này Nguyễn Sinh Khiêm đã đưa vào trong đó có nhiều bài đả kích chống lại chế độ phong kiến thực dân.

Năm 1912, Nguyễn Sinh Khiêm đã gửi bản điều trần cho Toàn quyền Đông Dương, để đòi Nhà nước bảo hộ phải mở rộng quyền tự do dân chủ, giảm thuế và mở mang học hành.

Năm 1913, được nhân dân tín nhiệm bầu vào Hội đồng Hương chức của làng, phụ trách công tác hương bản, Nguyễn Sinh Khiêm đã mạnh dạn tiến hành những cải cách nhằm bài trừ mê tín dị đoan, rượu chè cờ bạc, mở mang dân trí theo chủ thuyết Duy tân - thu hồi được 36 mẫu ruộng chia cho dân nghèo. Ông bí mật tham gia trong tổ chức của Đội Quyên, Đội Phấn chống Pháp; sự việc bị bại lộ ngày 1/4/1914, ông bị chính quyền thực dân, phong kiến bắt giam. Ngày 25/9/1914 Toà án Nam Triều kết án Nguyễn Tất Đạt (tức Nguyễn Sinh Khiêm) 3 năm tù khổ sai với tội danh: âm mưu phản loạn. Ba tháng sau ông tham gia vượt ngục nhưng không thành, ông bị nâng mức án lên thành 9 năm tù và năm 1915 bị đày vào Ba Ngòi, Nha Trang.

Năm 1920, thực dân Pháp đưa Nguyễn Sinh Khiêm về giam lỏng ở Huế. Ông cư trú tại làng Trạch Phổ (nay thuộc xã Phong Hòa - huyện Phong Điền cũ của TT Huế). Ở đây ông làm nghề bốc thuốc cứu dân và mở lớp dạy chữ Hán cho con em nhân dân lao động. Tuy cuộc sống rất đỗi vất vả, nhưng với tấm lòng nhân hậu và phóng khoáng ông luôn sẵn lòng nhường cơm sẻ áo cho những người nghèo khổ.

Năm 1922, Nguyễn Sinh Khiêm cùng chị gái Nguyễn Thị Thanh bí mật hoạt động chống Pháp trong tổ chức Nhân sĩ trí thức Huế. Năm 1929 ông chuyển về Phú Lễ (nay thuộc xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế) tiếp tục bốc thuốc chữa bệnh cứu dân.

Với tính cương trực, thẳng thắn, Nguyễn Sinh Khiêm đã nhiều lần đấu tranh với bọn tay sai bán nước. Kẻ thù luôn luôn theo dõi các hoạt động yêu nước của ông, chúng hạn chế ông tiếp xúc với mọi người, ngăn ngừa các mối quan hệ. Thậm chí chúng còn đầu độc ông bằng rượu cồn...

Ngày 6/2/1940 thực dân Pháp đã cho Nguyễn Sinh Khiêm về quê nhà cư trú. Ông lại tiếp tục tham gia hoạt động văn nghệ, diễn các tích tuồng yêu nước, dạy học, dạy võ khích lệ lòng yêu nước cho con em trong vùng. Vì những hoạt động đó, ngày 28/7/1940 chính quyền tay sai đã kết án ông hai tháng tù, phạt 20 đồng bạc Đông Dương và chúng kéo thời gian giam cầm tới 1 năm.

Ra khỏi nhà tù ít lâu, Nguyễn Sinh Khiêm đã cùng thầy học là cụ cử Hồ Phi Huyền đi khắp quê hương Nam Đàn, tìm kiếm nơi có phong cảnh đẹp. Cuối cùng ông tìm được một vị trí rất đắc địa ở Động Tranh, núi Đại Huệ thuộc địa phận xã Nam Giang, huyện Nam Đàn (cũ) để cùng người chị gái Nguyễn Thị Thanh đưa hài cốt người mẹ kính yêu - cụ Hoàng Thị Loan cát táng vĩnh hằng ở đó.

Trong những ngày hừng hực không khí cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Nam Đàn, đầu đội mũ calô, vai khoác súng gỗ, ông Nguyễn Sinh Khiêm đã hăng hái cùng với nhân dân địa phương đi diễu hành biểu dương lực lượng Cách mạng...

Năm 1946, sau khi bà Nguyễn Thị Thanh, chị cả của Bác Hồ từ Hà Nội về, đến lượt ông Nguyễn Sinh Khiêm lên đường từ Nghệ An ra Hà Nội thăm em trai. Lúc đầu, ông đi bộ từ Nam Đàn ra ga Cầu Giát, huyện Quỳnh Lưu (cũ) quãng đường ước chừng 70 cây số. Lúc ông Khiêm lấy vé tàu ở ga Cầu Giát, nhiều bà con ở đây đã chạy đến vây kín lấy, ai cũng khẳng định đây chính là “Chủ tịch Hồ Chí Minh cải trang để vi hành”.

Nhà nghiên cứu Hồ Sĩ Bằng (tức Nhà báo Công Bằng - nguyên Phó Tổng Biên tập Báo QĐND) lúc bấy giờ còn là cán bộ huyện Quỳnh Lưu, cũng tưởng là Bác Hồ nên rất xúc động. Bởi trông Nguyễn Sinh Khiêm có nhiều điểm rất giống người em trai Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh hồi ấy.

Ông Nguyễn Sinh Khiêm đã vui vẻ cải chính với bà con, khẳng định mình chỉ là một người dân bình thường.

Khi tàu đến ga Hàng Cỏ - Hà Nội, ông Nguyễn Sinh Khiêm vừa bước ra khỏi cổng ga thì đồng bào ở đây lại nhanh chóng ùa đến vây kín. Đông đảo bà con Hà Nội cứ khẳng định đây là “Cụ Hồ cải trang để vi hành” xem xét tình hình dân chúng.

Ông Nguyễn Sinh Khiêm ôn tồn giải thích: "Thưa bà con, tôi chỉ là một người dân xứ Nghệ, ra thăm Thủ đô, không phải là Cụ Hồ".

Nhưng đồng bào không tin. Ai cũng bảo khuôn mặt ấy, giọng nói ấy, nhất định là “Chủ tịch Hồ Chí Minh vi hành”. Bà con truyền tai nhau, cứ mỗi lúc kéo đến mỗi đông, người xếp hàng kín cả vòng trong vòng ngoài, khiến cho ông Nguyễn Sinh Khiêm không thể đi được.

May là lúc ấy có một số chiến sĩ Công an phát hiện thấy tình hình rất lạ, liền gọi điện về báo cáo lãnh đạo Nha Công an Trung ương. Nội dung báo cáo nêu rõ: "Có một cụ già nói giọng Nghệ Tĩnh, có râu, khuôn mặt rất giống Bác Hồ. Nhân dân tin là Bác Hồ nên vây kín chưa đi được. Nhiều khả năng đây là người anh ruột của Bác?".

Đồng chí Lê Giản - Tổng Giám đốc Nha Công an Trung ương nghe báo cáo, chột dạ liền cử ngay cán bộ đưa xe ra ga Hàng Cỏ đón người khách. Khi được hỏi: "Thưa cụ, có phải cụ là anh trai Bác Hồ thì mời cụ lên xe chúng cháu đón về". Bất đắc dĩ, vì cần thoát khỏi đám đông, nên ông Nguyễn Sinh Khiêm gật đầu và đành phải lên xe về Nha Công an Trung ương.

Biết chắc đây là người anh ruột của Bác Hồ, đồng chí Lê Giản mạnh dạn thưa chuyện:

- Thưa bác, bác ra thăm Hồ Chủ Tịch mà không thông báo trước, để chúng cháu cho xe đón đỡ vất vả ạ.

- Ông làm chức trách Nhà nước mà ăn nói buồn cười. Lẽ đời thì em thăm anh, chứ anh nào thấy em làm to lại ra thăm. Tôi ra đây là thăm Thủ đô nước Việt Nam mới xem thế nào, chứ không phải thăm em làm Chủ tịch Nước nhé!

Nghe nói thế, đồng chí Lê Giản thành khẩn xin lỗi ông Nguyễn Sinh Khiêm. Sợ em trai không nhận ra mình, ông Nguyễn Sinh Khiêm đã nhờ cảnh vệ gửi cho Bác Hồ một tờ giấy nhỏ, chỉ vỏn vẹn 3 từ “Đạt thăm Thành”.

Sau đó đồng chí Lê Giản báo cáo với Bí thư của Bác Hồ lúc ấy là ông Vũ Đình Huỳnh nhờ ông báo cáo với Bác chuyện ông Nguyễn Sinh Khiêm ra thăm…

Đọc tờ giấy nhỏ có mấy chữ trong tay, Bác Hồ lặng đi vì xúc động. Nhớ lần trước, lúc Người đang chủ trì cuộc họp quan trọng bàn chuyện cấp gạo cho quân Tàu Tưởng, khi nghe thư ký thông báo rất nhỏ là có người chị là Nguyễn Thị Thanh ra thăm, Bác Hồ đã bàng hoàng, hai tay bám chặt vào bàn để kìm nén nỗi xúc động quá lớn; nhiều người lúc ấy thấy đôi mắt của Bác Hồ rớm lệ…

Gần 40 năm xa quê hương vì việc nước, Bác Hồ mới được gặp lại người chị ruột và hôm nay lại được gặp người anh ruột Nguyễn Sinh Khiêm. Nhưng tình hình năm 1946 ấy rất phức tạp, nhất là về mặt trị an, an ninh. Nhiều hôm Bác Hồ phải bí mật rời chỗ ngủ để tránh bọn Quốc dân đảng manh động.

Bác Hồ đã nói với Bí thư Vũ Đình Huỳnh đại ý: “Nhờ chú Huỳnh lo tiếp anh cả của tôi. Ông mới ở tù ra, cũng thích uống rượu. Nhờ chú kiếm cho anh tôi một ít rượu trắng, loại ngon; một ít sách báo để anh tôi đọc. Cảm thông với anh là tối nay tôi sẽ đến”...

Đêm đầu năm 1946 ấy, trời mưa. Bác Hồ hóa trang mặc áo the, đội ô cùng đi bộ với hai người là Bí thư Vũ Đình Huỳnh và người Thư ký Vũ Kỳ. Sau khi vào phòng làm việc của đồng chí Lê Giản ở phố Trần Hưng Đạo có cửa ra vào phía phố Dã Tượng, Bác Hồ cởi áo the ra.

Đồng chí Lê Giản mở cửa phòng riêng. Vừa thấy người anh trai, Bác Hồ chạy đến ôm lấy anh khẽ kêu lên: "Anh Cả!". Tiếng gọi tên “Anh Cả” đầu tiên sau 37 năm trời xa cách biền biệt…

Ông Nguyễn Sinh Khiêm cũng ôm lấy Bác Hồ rồi nghẹn ngào thốt lên: "Chú râu đã dài thế này à?". Rồi hai anh em ôm nhau khóc. Người thư ký nhẹ nhàng khép cửa lại rồi nhè nhẹ lui ra…

Hai anh em chỉ gặp nhau được hơn 1 giờ đồng hồ. Không biết họ đã nói những chuyện gì, nhưng đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng anh em Bác Hồ được gặp nhau sau gần 40 năm xa cách.

Sau đó, ông Nguyễn Sinh Khiêm đã trở về Làng Sen sống một cuộc đời thanh bạch, giản dị trong tình yêu thương của bà con họ hàng và nhân dân xã Nam Liên (cũ). Ông từ trần ngày 15/10/1950 (tức ngày 23 tháng 8 năm Canh Dần) tại làng Kim Liên, hưởng thọ 62 tuổi.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận được tin Anh Cả qua đời trong lúc đang bận công tác xa, không thể về được nên đã điện cho Ủy ban Kháng chiến hành chính Liên khu IV, bức điện số 1229, nhờ chuyển cho họ Nguyễn Sinh làng Kim Liên, nội dung như sau:

“Nghe tin anh Cả mất, lòng tôi rất buồn rầu. Vì việc nước nặng nhiều, đường sá xa cách, lúc anh đau yếu tôi không thể trông nom, lúc anh tạ thế tôi không thể lo liệu. Tôi xin chịu tội bất đễ trước linh hồn anh và xin bà con nguyên lượng cho một người đã hy sinh tình nhà vì phải lo việc nước”.

Ảnh đính kèm: Chân dung cụ ông Nguyễn Sinh Khiêm – người anh ruột của Bác Hồ lúc sinh thời, vừa được “Trái tim người lính” phục dựng màu từ ảnh đen trắng.

Hà Nội, 19/01/2026

TTNL