Cùng nhau đi tìm "Con đường Di sản Văn hóa Kinh Bắc"

Tại thư phòng “Trái tim người lính” tôi đã giới thiệu với Nguyễn Đức Đông cuốn sách “Nhà nghiên cứu văn hóa Lê Hồng Dương - Người lưu giữ hồn quê kinh Bắc” của Cao Thâm - Thái Hà vừa in xong và cả bản thảo tiểu thuyết lịch sử “Kinh Bắc người ơi”, dày 430 trang, mà tôi vừa hoàn thành. Chúng tôi hẹn gặp lại nhau trong Hội thảo khoa học “Nhà văn hóa Lê Hồng Dương với di sản văn hóa dân tộc”, 12/11 tới đây…
893627048-4713126988908342-3930685750115814661-n-1794131248.jpg

Từ trái qua: Nhà văn Đặng Vương Hưng và nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Đông.

Từ một chuyến tàu đưa khách về thăm đền Đô, kỹ sư xây dựng Nguyễn Đức Đông đã trở thành một nhà nghiên cứu văn hóa di sản, một nhà sưu tầm tư liệu lịch sử. Anh nghĩ đến một hành trình dài hơn qua những làng Quan họ, làng nghề và chùa cổ của quê mình. Trong một buổi sáng cuối tuần ở Thư phòng “Trái tim người lính”, chúng tôi bàn xem có thể bắt đầu hành trình ấy từ đâu và ai sẽ cùng đi?

Xin bạn hãy hình dung: Nếu như tạo hóa có thể xếp tất cả các di sản văn hóa của Bắc Ninh trong một một khu vườn mênh mông đầy lá rụng, thì chúng tôi giống như những người cầm chổi quét lá, mong tìm được con đường ngắn nhất và hành trình thuận tiện nhất. Để du khách gần xa có thể đi tàu, đi xe, đi bộ… đến chiêm ngưỡng và trải nghiệm tại các di sản ấy…

1- Câu hỏi từ một chuyến tàu về đền Đô

Nguyễn Đức Đông sinh năm 1972, quê Từ Sơn, Bắc Ninh, hiện sống ở Long Biên, Hà Nội. Là kỹ sư xây dựng, nhiều năm làm chủ thầu công trình, anh đến với việc nghiên cứu văn hóa từ một cuộc gặp tình cờ. Lần ấy, Đông gặp một đoàn khách đi tàu hỏa từ Hà Nội về thăm đền Đô. Từ chuyến đi của họ, anh nghĩ đến những nơi khách còn có thể ghé, những câu chuyện họ còn có thể nghe. Đã về nơi thờ các vị vua triều Lý, sao không đi thêm một chặng để thăm chùa Phật Tích, nghe một canh Quan họ hay gặp người làm tranh Đông Hồ?

Rời công việc chủ thầu xây dựng, Nguyễn Đức Đông dành thời gian nghiên cứu văn hóa, sưu tầm tư liệu lịch sử. Anh đi nhiều nơi trong và ngoài nước, tìm gặp những người có tâm huyết với Kinh Bắc. Công việc mới cũng đòi hỏi sự kiên nhẫn như nghề cũ. Có khi một tư liệu tìm được ở xa lại dẫn về một câu chuyện ngay tại quê mình. Đông cho tôi xem một bài viết tay của Giáo sư Trần Quốc Vượng 25 năm trước, một cuốn sách cũ viết về một làng cổ của Bắc Ninh.. Đông mong một ngày những gì anh và những người cùng chí hướng góp nhặt sẽ thành sách, thành một bộ phim điện ảnh, để bạn bè ngoài Việt Nam có thêm cách tìm hiểu Bắc Ninh.

Đọc loạt bài giới thiệu Hội thảo khoa học “Nhà văn hóa Lê Hồng Dương với di sản văn hóa dân tộc”, Đông liên hệ với tôi rồi đến Thư phòng “Trái tim người lính” tại Cà phê Lục Bát. Chúng tôi ngồi với nhau cả buổi sáng cuối tuần. Từ câu chuyện về những người đã dành công sức gìn giữ Quan họ và tranh Đông Hồ, chúng tôi trở lại câu hỏi của Đông.

Nếu đã có những người đi tìm, ghi chép và truyền lại từng câu hát, từng cách làm tranh, liệu hôm nay có thể tổ chức một hành trình để du khách gặp chính những người đang tiếp nối công việc ấy?

Ý tưởng ấy gặp một định hướng được nêu tại lễ công bố Nghị quyết số 39/2026/QH16 về thành lập thành phố Bắc Ninh và trao Huân chương Lao động hạng Nhất ngày 19/9/2026. Tại buổi lễ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh việc đưa Quan họ, tranh Đông Hồ, làng nghề và di tích vào đời sống hiện đại, “biến di sản thành nguồn lực cho công nghiệp văn hóa, du lịch và sáng tạo”.

2- Hơn ba nghìn di tích và tám di sản UNESCO

Thành phố Bắc Ninh ngày nay bao gồm toàn bộ địa bàn hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang trước hợp nhất. Theo kết quả kiểm kê được công bố năm 2026, toàn thành phố có 3.154 di tích, trong đó 1.455 di tích đã được xếp hạng và 1.699 di tích thuộc danh mục kiểm kê. Trên cùng địa bàn ấy, các mái đình, chùa cổ, địa điểm khảo cổ và di tích lịch sử lưu giữ dấu vết của nhiều thời kỳ, từ Dâu – Luy Lâu đến Xương Giang, Yên Thế và An toàn khu II Hiệp Hòa.

Tám di sản được UNESCO ghi danh thuộc ba nhóm. Trong sáu di sản phi vật thể, bốn di sản nằm trong Danh sách đại diện của nhân loại gồm Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Nghi lễ và trò chơi kéo co có thực hành ở làng Hữu Chấp, Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt và Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam. Ca trù và Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ thuộc Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Một số di sản được nhiều địa phương cùng gìn giữ. Riêng Quan họ có các làng thực hành trên địa bàn cả hai tỉnh trước hợp nhất.

893767239-987759874404750-991655507953665611-n-1794131276.jpg

Hai di sản còn lại cho thấy một ngôi chùa có thể lưu giữ nhiều lớp giá trị. Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm là di sản tư liệu được ghi vào Danh mục Ký ức thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương năm 2012. Còn chính ngôi chùa, cùng chùa Bổ Đà, là hai hợp phần trên địa bàn Bắc Ninh của quần thể di tích và danh thắng Yên Tử – Vĩnh Nghiêm – Côn Sơn, Kiếp Bạc, được ghi vào Danh mục Di sản thế giới năm 2025. Một hồ sơ nói về những bản khắc gỗ lưu truyền kinh sách, hồ sơ kia đặt hai ngôi chùa trong một quần thể trải rộng trên nhiều địa phương.

Với Nguyễn Đức Đông, những con số ấy gợi ra cách chọn điểm dừng. Người muốn tìm hiểu Phật giáo có thể theo dấu các ngôi chùa và mộc bản. Người muốn nghe dân ca có thể đi từ một làng Quan họ đến làng kết bạn với làng ấy. Khi mỗi chặng có một câu chuyện đủ rõ, khách sẽ có lý do trở lại để đi tiếp một con đường khác.

3- Những câu chuyện dọc đường Kinh Bắc

Ở vùng Dâu – Luy Lâu, những mảnh khuôn đúc trống đồng có niên đại thế kỷ III–IV cho người xem một hình dung cụ thể về nghề đúc đồng trên vùng đất cổ. Cũng ở vùng này, chùa Dâu và tín ngưỡng Tứ Pháp mở ra câu chuyện về sự gặp gỡ giữa Phật giáo và tín ngưỡng bản địa. Qua Từ Sơn và Tiên Du, đền Đô và chùa Phật Tích gợi hai cách tiếp cận thời Lý. Một nơi lưu giữ ký ức về vương triều, một nơi cho thấy bàn tay người thợ qua pho tượng Phật A Di Đà bằng đá.

Nếu kể theo dòng lịch sử, đó đã là những chặng rất khác nhau. Nhưng với một người mới đến, câu chuyện có thể bắt đầu từ điều gần gũi hơn. Vì sao làng dựng đình ở chỗ ấy? Vì sao một pho tượng đá qua bao thế kỷ vẫn được người dân gìn giữ? Mỗi điểm dừng chỉ cần trả lời thấu đáo một câu hỏi như thế, chuyến đi đã có lý do để nối dài.

Từ không gian chùa cổ ở địa bàn Bắc Giang cũ, nếu đi tiếp qua Thổ Hà, Xương Giang và Yên Thế, câu chuyện đổi khác qua từng chặng, từ kiến trúc làng cổ đến ký ức chống ngoại xâm và cuộc khởi nghĩa gắn với Hoàng Hoa Thám.

Còn Quan họ vốn đã có con đường riêng của mình. Từ lâu, tục kết bạn giữa các làng đã đưa người hát qua những địa giới mà nay ta quen gọi là Bắc Ninh cũ và Bắc Giang cũ. Cũng như vậy, ở Đông Hồ, xem một bức tranh và nhìn người thợ in từng lượt màu là hai trải nghiệm khác nhau. Khi hiểu vì sao cần nhiều bản khắc và bàn tay phải đặt tờ giấy thế nào cho khớp, khách sẽ hiểu vì sao đối tượng được UNESCO ghi danh vào danh sách cần bảo vệ khẩn cấp là nghề làm tranh, với cả vốn hiểu biết và kỹ năng người thợ trao truyền.

4- Bắt đầu bằng những chuyến đi thử

Theo tôi, việc đầu tiên của Nguyễn Đức Đông và những người muốn đồng hành là lập một nhóm nhỏ và chọn một hành trình vừa sức. Trong ba tháng đầu, có thể khảo sát một tuyến một ngày từ Hà Nội, lấy đền Đô làm điểm mở đầu, rồi nối với một làng Quan họ và làng tranh Đông Hồ. Chặng tàu hỏa gợi lại câu chuyện khởi đầu của Đông, nhưng cần kiểm tra lịch tàu, ga xuống và phương tiện nối chặng trước khi đưa vào chương trình. Tuyến Vĩnh Nghiêm – Bổ Đà – Thổ Hà… có thể khảo sát tiếp sau chuyến đầu.

Ở mỗi điểm, nhóm cần làm việc với người trông nom di tích, nghệ nhân và đại diện địa phương. Giờ nào có thể đón khách? Một nhóm bao nhiêu người thì vừa với nơi hát hay gian làm tranh? Ai kể chuyện, ai có thể hướng dẫn trải nghiệm, và thù lao được tính thế nào? Những điều ấy cần thống nhất ngay từ đầu. Người giữ di sản phải có quyền quyết định cách đón khách, cách ghi âm, ghi hình và những phần sinh hoạt họ muốn dành riêng cho cộng đồng.

1-bia-sach-1794131192.png

Song song với khảo sát, có thể làm một bản đồ Việt – Anh gọn nhẹ và một hồ sơ cho từng điểm, ghi rõ nguồn tư liệu, người kể và điều kiện tham quan. Sau đó, mời một nhóm nhỏ gồm giáo viên, học sinh, hướng dẫn viên và khách quan tâm đến văn hóa đi thử. Hãy xem khách nhớ được điều gì sau chuyến đi, đoạn nào mất quá nhiều thời gian, người đón khách có muốn tiếp tục hay cần điều chỉnh. Từ những phản hồi ấy, nhóm mới có căn cứ để hoàn thiện tuyến, tính chi phí và đề nghị cơ quan văn hóa, đơn vị đường sắt, doanh nghiệp lữ hành cùng tham gia.

Ước mơ làm sách và phim của Đông cũng có thể bắt đầu ngay trên đường khảo sát. Một cuộc trò chuyện được ghi chép cẩn thận, một bức ảnh cũ có xuất xứ rõ ràng, một đoạn phim ngắn về người thợ in tranh, nếu được người trong cuộc đồng ý, đều có thể trở thành tư liệu cho những công việc lớn hơn. Tôi hình dung sau buổi sáng ở Thư phòng “Trái tim người lính”, cuộc hẹn tiếp theo của chúng tôi có thể là ở đền Đô. Từ nơi Đông từng gặp đoàn khách đi tàu, chúng tôi sẽ thử đi tiếp một chặng và lắng nghe những người sống dọc con đường ấy kể về quê mình.

Tại thư phòng “Trái tim người lính” tôi đã giới thiệu với Nguyễn Đức Đông cuốn sách “Nhà nghiên cứu văn hóa Lê Hồng Dương - Người lưu giữ hồn quê kinh Bắc” của Cao Thâm - Thái Hà vừa in xong và cả bản thảo tiểu thuyết lịch sử “Kinh Bắc người ơi”, dày 430 trang, mà tôi vừa hoàn thành. Chúng tôi hẹn gặp lại nhau trong Hội thảo khoa học “Nhà văn hóa Lê Hồng Dương với di sản văn hóa dân tộc”, 12/11 tới đây…

Hà Nội, 08/11/2026
Đặng Vương Hưng