Góc nhìn văn hoá: Nông nghiệp Việt Nam - Hành trình vươn ra thế giới

Từ những cánh đồng từng oằn mình trong thiếu đói đến những container nông sản nối dài trên hành trình ra thế giới, 40 năm Đổi mới đã làm nên một cuộc chuyển mình sâu sắc của nông nghiệp Việt Nam. Đó không chỉ là câu chuyện về năng suất, sản lượng hay kim ngạch xuất khẩu, mà còn là hành trình giải phóng nguồn lực, thay đổi tư duy sản xuất và đánh thức khát vọng vươn lên của hàng triệu người nông dân.

Nhìn từ chiều sâu văn hóa, mỗi hạt gạo, hạt cà phê, con tôm hay sản phẩm gỗ mang ra thị trường quốc tế hôm nay đều chứa đựng dấu ấn của một Việt Nam vượt qua gian khó, tự tin hội nhập và từng bước khẳng định giá trị của mình.

dt1a-01-vungdbscl3-1788015291.jpg

Thu hoạch lúa ở Đồng bằng Sông Cửu Long. Ảnh: Internet.

Từ bài toán “đủ ăn” đến một nền nông nghiệp hàng hóa

Trong lịch sử phát triển của đất nước, nông nghiệp chưa bao giờ chỉ là một ngành kinh tế. Với Việt Nam, đó còn là không gian sinh tồn, là nền tảng của văn minh, là nơi kết tinh những phẩm chất bền bỉ nhất của con người qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước.

Nhưng sau chiến tranh, nền nông nghiệp ấy đứng trước vô vàn khó khăn. Đất nước thiếu thốn nguồn lực, cơ sở hạ tầng yếu kém, sản xuất manh mún, năng suất thấp và bài toán lương thực luôn thường trực. Trong những năm đầu sau chiến tranh, bảo đảm “đủ ăn” là mục tiêu sống còn.

Chính từ điểm xuất phát ấy mới thấy hết ý nghĩa của cuộc chuyển mình trong 40 năm Đổi mới.

Nếu những công trình thủy lợi, hồ chứa, đập, kênh mương tạo nên nền tảng vật chất cho sản xuất thì những đổi mới về thể chế đã tạo ra động lực bên trong của nền nông nghiệp. Đến nay, khoảng 3,6 triệu ha đất canh tác, trong đó 95% diện tích lúa, được bảo đảm tưới. Nhưng điều quyết định không chỉ là có thêm bao nhiêu diện tích được tưới tiêu, mà là người nông dân đã có thêm quyền chủ động và động lực để làm giàu trên chính mảnh đất của mình.

Khoán 10 năm 1988 là một dấu mốc có ý nghĩa đặc biệt. Việc giao quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài cho hộ nông dân đã làm thay đổi căn bản quan hệ giữa người sản xuất với đất đai và thành quả lao động. Hiệu ứng của chính sách diễn ra gần như tức thời. Năm 1987, Việt Nam còn phải nhập khoảng 1,6 triệu tấn lương thực; chỉ sau 6 tháng thực hiện Khoán 10, nước ta đã xuất khẩu khoảng 1,4 triệu tấn lương thực.

Con số ấy không chỉ có ý nghĩa kinh tế. Nó là một minh chứng sinh động cho sức mạnh của đổi mới thể chế: Khi người dân được trao quyền, được tạo động lực và được đặt vào vị trí chủ thể của sản xuất, những nguồn lực tưởng như bị giới hạn có thể được giải phóng mạnh mẽ.

Đó cũng là lúc tư duy về nông nghiệp bắt đầu thay đổi.

Từ chỗ lấy mục tiêu bảo đảm lương thực làm trọng tâm, Việt Nam từng bước chuyển sang xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa, hướng đến thị trường và giá trị gia tăng. Khi sản xuất lúa đạt đến những giới hạn nhất định, câu chuyện không còn là trồng thêm bao nhiêu lúa mà là làm thế nào để sử dụng hiệu quả hơn đất đai, nguồn nước, lao động và lợi thế sinh thái.

Sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi từ đó được thúc đẩy mạnh mẽ. Cà phê, cao su, hồ tiêu, thủy sản, trái cây, sản phẩm gỗ... dần trở thành những ngành hàng có vị thế trên thị trường quốc tế.

Sản lượng cà phê từ khoảng 90 nghìn tấn năm 1990 đã tăng lên khoảng 2 triệu tấn năm 2024; cao su tăng khoảng 20 lần; hồ tiêu từ 9 nghìn tấn lên khoảng 250 nghìn tấn, đưa Việt Nam trở thành quốc gia sản xuất hồ tiêu lớn nhất thế giới. Sản lượng thủy sản tăng gần 10 lần so với năm 1990.

Những con số ấy cho thấy một cuộc cách mạng âm thầm nhưng sâu sắc trong đời sống nông thôn: Người nông dân Việt Nam không còn chỉ sản xuất những gì mình có, mà ngày càng học cách sản xuất những gì thị trường cần.

Đó là sự thay đổi từ văn hóa sản xuất tự cung sang văn hóa thị trường; từ kinh nghiệm truyền đời sang sự kết hợp giữa kinh nghiệm, khoa học và công nghệ; từ tư duy “làm ra sản phẩm” sang tư duy “tạo ra giá trị”.

Mang giá trị Việt Nam đi xa hơn những con số xuất khẩu

 Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản lần đầu tiên vượt mốc 70 tỷ USD, xuất siêu khoảng 21,4 tỷ USD. Tính đến hết tháng 7/2026, con số này đạt gần 42,8 tỷ USD và ngành Nông nghiệp và Môi trường hướng tới mục tiêu xuất khẩu 74 tỷ USD trong cả năm.

Đây là những cột mốc đáng tự hào. Nhưng nếu chỉ nhìn nông nghiệp qua những con số xuất khẩu, chúng ta có thể bỏ qua tầng ý nghĩa sâu xa hơn của hành trình này.

Bởi đằng sau 70 tỷ USD là hàng triệu hộ nông dân, hàng nghìn doanh nghiệp, những vùng chuyên canh, những hợp tác xã, những nhà khoa học, đội ngũ khuyến nông và cả một hệ thống hạ tầng, chính sách đã được vun đắp trong nhiều thập niên.

Bốn mươi năm qua, nông nghiệp Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 3,5% mỗi năm, cao hơn mức bình quân khoảng 2% của thế giới. Việt Nam từ một quốc gia từng phải nhập khẩu lương thực đã bước vào nhóm 15 nước xuất khẩu nông, lâm, thủy sản lớn nhất thế giới. Thu nhập bình quân của nông dân cũng tăng mạnh, từ 16 USD/người/tháng năm 1999 lên 185 USD năm 2024.

Nhưng điều đáng kể hơn cả là sự thay đổi về tâm thế.

Nông dân Việt Nam hôm nay đứng trước thị trường thế giới với những yêu cầu hoàn toàn khác. Một sản phẩm muốn đi xa phải đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, môi trường và trách nhiệm xã hội. Điều đó buộc phương thức sản xuất phải thay đổi.

Nông nghiệp vì thế đang chuyển từ “làm nhiều” sang “làm tốt”; từ bán nguyên liệu sang chế biến; từ sản phẩm vô danh sang xây dựng thương hiệu; từ cạnh tranh bằng giá rẻ sang cạnh tranh bằng chất lượng, câu chuyện và bản sắc.

Đây chính là nơi câu chuyện kinh tế gặp câu chuyện văn hóa.

Việt Nam có một nền văn hóa nông nghiệp lâu đời, nhưng lợi thế văn hóa không tự động biến thành giá trị kinh tế. Muốn một hạt gạo mang được câu chuyện Việt Nam ra thế giới, trước hết hạt gạo ấy phải đạt chuẩn của thị trường thế giới. Muốn cà phê Việt Nam có vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị, chúng ta phải vượt qua giới hạn của xuất khẩu nguyên liệu. Muốn trái cây Việt Nam chinh phục những thị trường khó tính, phải xây dựng được cả một hệ sinh thái từ vùng trồng, logistics, công nghệ bảo quản đến thương hiệu.

Vì vậy, mục tiêu 74 tỷ USD xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trong năm 2026 không nên chỉ được nhìn như một “đích kim ngạch”. Đó phải là một phép thử về chất lượng của quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng nông nghiệp.

Xuất khẩu nhiều là đáng mừng. Nhưng giữ lại nhiều hơn giá trị trong nước, xây dựng được thương hiệu Việt mạnh hơn và đưa những giá trị văn hóa Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu mới là bước tiến có ý nghĩa lâu dài.

Trong không khí kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, nhìn lại 40 năm Đổi mới, câu chuyện nông nghiệp vì thế mang một ý nghĩa đặc biệt.

Từ những cánh đồng thiếu thốn của những năm tháng hậu chiến đến những vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn; từ người nông dân sản xuất theo kinh nghiệm đến những chủ thể ngày càng biết tính toán thị trường; từ nỗi lo thiếu lương thực đến vị thế một trong những quốc gia xuất khẩu nông sản lớn của thế giới - đó là một hành trình vượt khó bằng chính nội lực của đất nước.

Cách mạng Tháng Tám đã mở ra một kỷ nguyên độc lập dân tộc. Đổi mới mở ra một chặng đường phát triển mới, trong đó sức dân, trí dân và nguồn lực xã hội được khơi thông mạnh mẽ hơn.

Nông nghiệp là một trong những nơi thể hiện rõ nhất sức mạnh ấy.

Và hôm nay, khi những sản phẩm từ đất Việt vượt qua biên giới để hiện diện trên bàn ăn, trong những chuỗi cung ứng và thị trường lớn của thế giới, điều chúng ta cần hướng tới không chỉ là “đi xa” hơn, mà còn là đi sâu hơn vào giá trị.

Để mỗi hạt gạo không chỉ mang theo phù sa của những dòng sông Việt Nam; mỗi hạt cà phê không chỉ mang theo hương vị của đất đỏ bazan; mỗi sản phẩm nông nghiệp không chỉ là một món hàng xuất khẩu, mà còn là một phần câu chuyện về con người Việt Nam - cần cù nhưng sáng tạo, giàu truyền thống nhưng không ngừng đổi mới, gắn bó với đất đai nhưng đủ tự tin để bước ra thế giới.

Bốn mươi năm Đổi mới đã chứng minh rằng, khi tư duy được đổi mới, chính sách được khai thông và người dân trở thành chủ thể, những cánh đồng Việt Nam có thể tạo ra những giá trị vượt xa giới hạn của một nền nông nghiệp thuần túy.

Từ đất, người Việt đã làm nên lương thực. Từ đổi mới, người Việt đang làm nên giá trị. Và từ những giá trị ấy, nông nghiệp Việt Nam đang viết tiếp hành trình vươn mình ra thế giới.

V.X.B