Hồ sơ Số 8/2026: Hé lộ vài bí danh của lực lượng Quân báo - Trinh sát Quân Giải phóng miền Nam, những năm 1966-1967

Trong số các tài liệu chiến tranh Việt Nam được quân đội Hoa Kỳ thu giữ và lưu trữ trong hệ thống CDEC (Combined Document Exploitation Center), hai hồ sơ mang số hiệu CDEC F034601640411 và CDEC F034602032098 cung cấp những manh mối đáng chú ý về hoạt động của lực lượng Quân báo thuộc Mặt trận Giải phóng miền Nam tại khu vực Bình Dương – Biên Hòa trong giai đoạn 1966–1967. Hồ sơ này vừa được chuyên viên nghiên cứu Hoàng Cẩm Thanh và nhóm Biên tập thuộc Dự án TTU–VWAI thực hiện.
649166543-2838927056499364-1404754965626968483-n-1773047834.jpg

Một buổi họp Điệp báo của QGPMN, để bảo mật tránh bị nhận diện, ai cũng mang
khăn che mặt. (Hình ảnh do "Trái tim người lính" tái hiện, chỉ mang tính minh họa).

Điều thú vị là những tài liệu có trong hồ sơ nêu trên không chỉ phản ánh hoạt động trinh sát và thu thập tin tức của lực lượng cách mạng dọc theo trục Quốc lộ 13 mà còn hé lộ một số bí danh của các cán bộ quân báo, gồm: T, Lan, Đông, 3 Lâm, Tư Nghĩa, Tư Trung (Út Nguyễn/Nguyện) và Ba Sê. Việc đối chiếu nội dung của hai hồ sơ cho thấy đây nhiều khả năng là một mạng lưới Trinh sát – Quân báo, hoạt động tại khu vực Chiến khu D và vùng Tam Giác Sắt, nơi được xem là căn cứ quan trọng của lực lượng Mặt trận trong giai đoạn cao điểm của chiến tranh.

Hồ sơ CDEC F034601640411 gồm 8 trang tài liệu do Đại đội C, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Kỵ binh số 4 thuộc Sư đoàn Bộ binh số 1 Hoa Kỳ thu giữ ngày 27/7/1967 tại khu vực Bình Mỹ, Tân Uyên (nay thuộc phường Bình Cơ, Thành phố Hồ Chí Minh). Tài liệu gốc là một lá thư viết tay đề ngày 22/12/1966, ký tên 3 Lâm, gửi cho Tư Trung, Tư Nghĩa và Ba Sê. Nội dung bức thư đề cập đến các hoạt động quân sự của lực lượng Hoa Kỳ và quân đội VNCH trong khu vực vào cuối năm 1966.

Theo đó, một cuộc hành quân càn quét ngày 27/11/1966 đã gây tổn thất đáng kể cho lực lượng Mặt trận Giải phóng, trong khi một phi vụ trực thăng “Eagle Flight” ngày 20/12/1966 tại An Hòa đã khiến phía cách mạng mất một số trang bị. Bức thư cũng yêu cầu các thành viên thuộc “2B – Ban Quân báo Bộ Chỉ huy Quân khu” phải tăng cường công tác bảo đảm an ninh. Ngoài ra, thư cho biết một cán bộ tên Tư vừa xuất viện và được đề nghị tiếp tục ở lại với C206, được cho là đơn vị trinh sát trực thuộc bộ chỉ huy quân khu, nhằm làm quen và nắm vững công tác trinh sát.

Hồ sơ thứ hai – CDEC F034602032098 được thu giữ ngày 9/8/1967 tại Tân Lập, Tân Uyên, chỉ cách vị trí thu giữ hồ sơ trước khoảng 9 km. Tài liệu gồm nhiều báo cáo ngắn phản ánh hoạt động quân sự của lực lượng Đồng minh tại khu vực Bình Dương – Bình Long – Phước Long cũ, trong tháng 6 và tháng 7 năm 1967. Các báo cáo này do các cá nhân mang bí danh T, Tư Trung và Đông soạn thảo và gửi cho Ba Sê. Nội dung cho thấy một mạng lưới trinh sát của Mặt trận Giải phóng đang theo dõi chặt chẽ sự di chuyển và bố trí lực lượng của quân đội Hoa Kỳ dọc theo các tuyến giao thông chiến lược. Các thông tin được báo cáo bao gồm sự xuất hiện của thiết bị dò tìm tại Biên Hòa, việc một số lượng lớn sĩ quan thuộc Sư đoàn Dù 173 Hoa Kỳ di chuyển đến Lai Khê, cùng nhiều đoàn xe cơ giới lớn hoạt động dọc Quốc lộ 13. Những báo cáo này cũng ghi nhận việc bố trí lực lượng Hoa Kỳ tại Bàu Bàng, Bến Cát, Phú Lợi và Bình Long cũng như các cuộc hành quân càn quét tại Trung An, Đất Cuốc, Tân Lợi và Tân Tịch.

Một báo cáo của Đông cho biết riêng ngày 6/7/1967, một đoàn xe quân Đồng minh gồm khoảng 60 xe cơ giới di chuyển từ Phú Lợi về Lai Khê, trong khi một đoàn khác gồm 262 xe đi từ Bình Long về Sài Gòn. Báo cáo ngày 14/7/1967 cũng cho biết lực lượng Đồng minh chịu tổn thất trong một trận pháo kích tại Phước Long, với 37 thi thể được trực thăng đưa về sân bay Phú Lợi. Những thông tin chi tiết như vậy cho thấy mạng lưới trinh sát này có khả năng theo dõi trực tiếp các tuyến giao thông quân sự và căn cứ hậu cần của Mỹ, đặc biệt là tuyến Quốc lộ 13 từ Lai Khê đến Chơn Thành – một tuyến vận chuyển quan trọng của quân đội Hoa Kỳ tại vùng chiến thuật III.

Từ nội dung 2 hồ sơ có thể suy đoán sơ bộ vai trò của các nhân vật được nhắc đến. Ba Sê xuất hiện chủ yếu với tư cách người nhận báo cáo từ các trinh sát như Đông và Tư Trung, cho thấy nhiều khả năng đây là người giữ vai trò chỉ huy hoặc điều phối trong mạng lưới quân báo. Một ghi chú viết tay trong tài liệu còn cho biết Ba Sê phải đến Bình Mỹ vào ngày 16/7 và yêu cầu chuẩn bị cho hoạt động phản công tại Bình Cơ, cho thấy nhân vật này có thể trực tiếp tham gia chỉ huy hoạt động quân sự. Tư Trung, còn gọi là Út Nguyễn (Nguyện), là người trực tiếp gửi báo cáo về tình hình di chuyển của quân đội Mỹ từ Tân Uyên đến Bình Cơ. Việc Tư Trung vừa được nhắc đến trong thư của 3 Lâm năm 1966 và tiếp tục xuất hiện trong các báo cáo năm 1967 cho thấy đây có thể là một cán bộ quân báo hoạt động lâu dài trong khu vực.

Nhân vật Đông xuất hiện nhiều lần trong hồ sơ với các báo cáo liên tiếp từ ngày 6 đến 14/7/1967. Đông cung cấp thông tin chi tiết về hướng hành quân của quân Mỹ, các đoàn xe cơ giới và vị trí đóng quân của lực lượng Đồng minh, cho thấy có thể là trinh sát trực tiếp theo dõi các tuyến vận chuyển quân sự. Trong khi đó, một báo cáo ngày 27/6/1967 do T soạn thảo đề cập đến việc các thiết bị dò tìm được đưa đến Biên Hòa, cho thấy T có thể là nguồn tin tình báo hoặc đặc vụ hoạt động gần các căn cứ quân sự. Ngoài ra, báo cáo của Tư Trung cũng nhắc đến Lan, một thành viên trong mạng lưới đang phải tạm ngừng hoạt động từ ngày 13/7 đến 13/10 do bệnh huyết trắng. Dù vai trò cụ thể chưa rõ, chi tiết này cho thấy Lan cũng tham gia vào mạng lưới quân báo trong khu vực. Hai nhân vật 3 Lâm và Tư Nghĩa chỉ xuất hiện trong bức thư năm 1966, nhưng việc họ được nhắc cùng với Tư Trung và Ba Sê cho thấy có thể thuộc cùng đơn vị quân báo hoặc cùng mạng lưới trinh sát.

Các địa danh xuất hiện trong hồ sơ – như Lai Khê, Bàu Bàng, Bến Cát, Phú Lợi, Trung An, Đất Cuốc và Phước Long – đều nằm trong khu vực Chiến thuật III, nơi diễn ra nhiều chiến dịch lớn của quân đội Hoa Kỳ trong năm 1967. Đặc biệt, khu vực này nằm gần Tam Giác Sắt, một căn cứ chiến lược của lực lượng Mặt trận Giải phóng nổi tiếng với hệ thống địa đạo và hầm trú ẩn dày đặc. Trong giai đoạn này, quân đội Hoa Kỳ, đặc biệt là Sư đoàn Bộ binh số 1 và Lữ đoàn Dù 173, đã tiến hành nhiều chiến dịch tìm và phá hủy các căn cứ hậu cần của lực lượng cách mạng tại Bình Dương. Việc hai bộ tài liệu bị thu giữ trong tháng 7 và tháng 8 năm 1967 nhiều khả năng là kết quả của các cuộc càn quét quy mô lớn trong khu vực Tân Uyên và vùng rừng giáp Chiến khu D.

Mặc dù các tên được nhắc đến trong hồ sơ phần lớn là bí danh, những tài liệu này vẫn cung cấp nhiều dữ kiện quan trọng để truy tìm danh tính thật của họ. Các yếu tố có thể giúp đối chiếu bao gồm thời gian hoạt động từ cuối năm 1966 đến giữa năm 1967, đơn vị được nhắc đến là Ban Quân báo (2B) và đơn vị trinh sát C206, địa bàn hoạt động tại khu vực Tân Uyên – Bình Dương – Lai Khê – Quốc lộ 13, cùng vai trò trinh sát và báo cáo tình hình quân sự.

Hai hồ sơ CDEC vì vậy có giá trị nhất định đối với công tác nghiên cứu lịch sử, không chỉ giúp tái dựng hoạt động Quân báo - Trinh sát của lực lượng Mặt trận Giải phóng, trong vùng chiến lược quanh Sài Gòn, mà còn mở ra khả năng giải mã các bí danh và làm sáng tỏ danh tính thật của một số cán bộ quân báo đã hoạt động bí mật tại chiến trường miền Nam trong giai đoạn 1966–1967. Nếu đối chiếu với hồ sơ quân nhân, danh sách liệt sĩ hoặc tài liệu của các đơn vị Quân báo - Trinh sát hoạt động tại Chiến khu D, có thể xác định được danh tính thật và số phận của những cá nhân mang bí danh này. Ai biết thông tin liên quan, mời cung cấp và liên hệ với chúng tôi, dù bạn từng ở bên nào của cuộc chiến.

Hà Nội, 09/03/2026
TTNL
(Biên soạn từ TTU-VWAI)