
Bên cạnh đó, Nghị quyết số 16/2026/NQ-HĐND tỉnh Lào Cai có hiệu lực từ ngày 10/7/2026, quy định các mức hỗ trợ cho hoạt động xúc tiến thương mại, trong đó có hội chợ, kết nối cung cầu, quảng bá hàng hóa vùng miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nếu nghề dệt được duy trì và hình thành sản phẩm đáp ứng yêu cầu, những cơ chế ấy có thể giúp người làm nghề tiếp cận người mua rộng hơn. Nhưng từ luống lanh hôm nay đến một sản phẩm có thị trường vẫn cần thêm thời gian, sự liên kết và công sức của chính người dân.
Các chính sách nói trên của lãnh đạo tỉnh Lào Cai đã hỗ trợ thiết thực cho cơ sở giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, phát triển nghề truyền thống, là động lực quan trọng phát triển kinh tế xã hội.
Những ngày cuối tuần, Nghệ nhân Dân gian Đinh Thị Hiến lại đón học viên đến ngôi nhà sàn bên dòng Nậm Đông, phường Nghĩa Lộ, để học Khắp Thái. Chị mở lớp miễn phí từ năm 2015, dạy người trẻ từng cách phát âm, luyến láy và cả ý nghĩa phía sau lời hát. Có người theo học nhiều năm. Từ lớp học ấy, một câu lạc bộ Khắp Thái với hơn 10 thành viên đã hình thành.
Khắp Thái từng đi cùng lời ru, cuộc giao duyên và những sinh hoạt của cộng đồng. Nếu người trẻ chỉ nghe lại giai điệu mà không hiểu lời ca, họ khó cảm nhận được điều cha ông gửi gắm trong đó. Vì vậy, công việc của chị Hiến không dừng ở dạy một tiết mục biểu diễn. Chị đang giúp lớp sau tìm lại một cách nói về tình cảm và đời sống bằng chính ngôn ngữ của dân tộc mình.
Ở thôn Hòa Cuông 1, xã Trấn Yên, Câu lạc bộ Khuyến học múa hát Sình Ca và bảo tồn tri thức bản địa tạo một không gian tương tự cho người Cao Lan. Sau 10 năm, câu lạc bộ phát triển từ 6 lên 56 thành viên, duy trì sinh hoạt từ một đến hai lần mỗi tháng. Các thế hệ gặp nhau để học hát, học múa, tìm hiểu tiếng nói và chữ viết. Nhờ có những cuộc gặp đều đặn, kiến thức của người cao tuổi có người đón nhận, còn người trẻ có chỗ để tập và hỏi.

Ở thôn Móng Xóa, xã Ngũ Chỉ Sơn, hành trình giữ trang phục truyền thống của người Mông bắt đầu từ cây lanh. Năm 2026, Hội Phụ nữ xã hỗ trợ giống và phân bón để 25 hộ hội viên trồng 3 ha lanh. Những người phụ nữ tham gia dành đất của gia đình cho cây nguyên liệu làm vải. Đây là một lựa chọn đáng chú ý khi vải công nghiệp ngày càng phổ biến, còn trang phục truyền thống ít hiện diện trong sinh hoạt thường ngày.
Một bộ trang phục không hình thành từ lúc người thợ ngồi vào khung cửi. Trước đó là người trồng lanh, tước sợi, se sợi; sau đó mới đến dệt, nhuộm và thêu. Nếu không còn nguyên liệu, người muốn giữ nghề cũng khó thực hành những kỹ năng mình đã học. Bởi vậy, 3 ha lanh ở Móng Xóa có ý nghĩa lớn hơn diện tích gieo trồng: nó cho thấy người dân đang tìm cách giữ lại công đoạn đầu tiên của một nghề gắn với bản sắc dân tộc.
Tuy nhiên, trồng được lanh mới là bước khởi đầu. Để cây lanh đi hết hành trình thành tấm vải, cần người tiếp tục làm nghề và cần điều kiện để sản phẩm có chỗ đứng trong đời sống. Ở tầm chính sách, Nghị quyết số 30/NQ-HĐND ngày 29/6/2026 của Hội đồng nhân dân tỉnh đã đưa dự án phát triển làng nghề thủ công truyền thống vào danh mục lĩnh vực đầu tư, cho vay của Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh giai đoạn 2026–2030. Đây là một hướng tạo nguồn lực cho những dự án làng nghề đủ điều kiện; chưa phải khoản hỗ trợ đã cấp cho các hộ trồng lanh ở Móng Xóa.

Nhìn từ Ngũ Chỉ Sơn, ý nghĩa của chính sách đối với vùng cao nằm ở khả năng nối các việc tưởng như tách rời: có nguyên liệu để làm nghề, có điều kiện để phát triển làng nghề, có cơ hội để giới thiệu sản phẩm. Mỗi khâu được thực hiện đến nơi đến chốn sẽ giúp người phụ nữ Mông có thêm lý do giữ kỹ năng dệt vải và truyền lại cho con cháu. Khi ấy, bộ trang phục truyền thống tiếp tục được làm ra từ đời sống của bản làng.
Tiếng Khắp ở Nghĩa Lộ, câu Sình Ca ở Trấn Yên hay cây lanh ở Ngũ Chỉ Sơn đều cần người dân tự mình gìn giữ. Vai trò của chính sách là tạo thêm điều kiện để sự gìn giữ ấy không chỉ dựa vào tâm huyết của một vài cá nhân. Bản sắc văn hoá có tương lai khi người trẻ còn muốn học, người làm nghề còn có thể làm nghề và cộng đồng còn thấy những giá trị của mình hiện diện trong cuộc sống hôm nay.