Lễ rước nước - nghi lễ văn hoá tâm linh
Nói đến văn hoá là nói đến những gì là tinh hoa, tinh tuý nhất, được chưng cất, kết tinh, hun đúc thành những giá trị tốt đẹp, cao thượng, đặc sắc, rất nhân văn, nhân ái, nhân nghĩa, nhân tình và tiến bộ.
Trao đổi với ông Vương Hồng Thái, Chủ tịch UBND xã Vạn An, ông cho biết, Lễ hội đền Vua Mai (Mai Hắc Đế) diễn ra trong 3 ngày (từ ngày 13 đến hết ngày 15 tháng Giêng Âm lịch hàng năm) không chỉ đáp ứng yêu cầu của một lễ hội mang đậm nét tâm linh, mà còn thể hiện truyền thống trọng nghĩa hiếu khách của người dân quê Bác Hồ.

Đến với Lễ hội đền Vua Mai, du khách không những được hòa mình trong không khí linh thiêng, trang trọng của phần lễ mà còn được tham gia nhiều hoạt động hội mang đậm nét văn hóa dân gian truyền thống.
Các trò chơi dân gian trong Lễ hội đền Vua Mai khá đa dạng, phong phú gắn với các tích trò liên quan đến nhân vật Mai Hắc Đế và thể hiện nét văn hóa, phong tục tốt đẹp từ ngàn đời nay của người dân nơi đây, như: Đấu vật, chọi gà, leo núi, đua thuyền, cờ thẻ…
Nói về lễ rước nước, ông Thái cho biết thêm, đây là một nghi lễ tâm linh có từ ngàn xưa, xuất phát từ tập quán sản xuất nông nghiệp của người dân địa phương, mang ý niệm khơi trong, gạn đục, tẩy trần, cầu mong một mùa lễ hội viên mãn.
Từ đền Vua Mai, đoàn rước nước mang theo nhiều đồ tế khí như trống, chiêng bộ hành ra bến Sa Nam. Tại bến Sa Nam, đoàn rước lên thuyền ngược dòng sông Lam, ra giữa dòng đoạn đầu nguồn nước (trước khu Lăng mộ Vua Mai) để lấy nước.

Người được giao nhiệm vụ lấy nước dùng gáo dừa múc nước vào chum sành; khi nước đã đầy chum, đoàn rước quay về lại bến Sa Nam, tiếp tục rước nước về đền thờ Vua Mai và làm lễ. Tại Đền Vua Mai, các bậc cao niên trong làng, người quản lý đền lấy nước trong chum sành để rửa đồ tế khí.
Với nhân dân Vạn An, Nghệ An nói riêng và nhân dân cả nước nói chung, Mai Thúc Loan đã trở thành một biểu tượng sinh động cho tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh ngoan cường chống giặc ngoại xâm để giành và giữ độc lập dân tộc.
Lễ hội đền Vua Mai mang dấu ấn văn hóa xứ Nghệ, thể hiện lòng tự tôn dân tộc; góp phần gắn kết các thành viên cộng đồng, xây dựng tính cách và tâm hồn người dân xứ Nghệ, giáo dục truyền thống “uống nước nhớ nguồn”.
Tên Phượng, tự Thúc Loan
Sách Khâm định Việt sử không giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi, Mai Thúc Loan là “người Mai Phụ, huyện Thiên Lộc”. Làng Mai Phụ xưa nay thuộc xã Mai Phụ, tỉnh Hà Tĩnh. Từ Mai Phụ, bà mẹ họ Mai đã dời lên Ngọc Trừng, nay thuộc xã Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Nhiều truyền thuyết dân gian, gia phả, văn tế, hát chầu văn… đều xác nhận quê hương của họ Mai từ Mai Phụ dời lên Ngọc Trừng.
Mai Thúc Loan (sinh khoảng cuối thế kỷ 7, mất 722) ở động Cồn Chèm (làng Ngọc Trừng, xã Nam Đàn) - nơi ông chấp nhận muôn nỗi đắng cay, tủi nhục của một cậu bé mồ côi cho đến khi ông thành thủ lĩnh tối cao của cuộc khởi nghĩa Hoan Châu.
Theo truyện Hương lãm Mai Đế ký trong Tân đính hiệu bình Việt điện u linh thì Mai Thúc Loan có cha tên là Mai Sinh và mẹ là Vương Thị. Khi sinh ra Mai Thúc Loan, ông bà Mai Sinh đã căn cứ vào một giấc mộng của bà lúc sắp sinh. Chồng bà bèn đặt tên con là Phượng, tên tự là Thúc Loan, để ghi lại cái điềm được thấy trong giấc mộng.

Và hầu hết các tư liệu đều cho rằng, năm Mai Thúc Loan 10 tuổi, mẹ đi hái củi bị hổ giết hại, chẳng bao lâu cha mất, vị vua tương lai rơi vào cảnh mồ côi. Điều may mắn là một người bạn của cha Mai Thúc Loan là Đinh Thế đã đem Mai Thúc Loan về nuôi, coi ông như con đẻ và sau đó gả con gái Ngọc Tô cho ông.
Tháng 4 năm 713, Mai Thúc Loan lên ngôi vua, sử gọi ông là Mai Hắc Đế (Mai Hắc Đế mang mệnh thủy tức là nước, mà nước được tượng trưng là màu đen. Vì vậy, ông lấy hiệu là Hắc Đế để hợp với mệnh của mình (theo Việt điện u linh) chứ không phải là do màu da đen do nhiều người tưởng nhầm).
Ông cho xây thành lũy, lập kinh đô Vạn An (xã Vạn An hiện nay), tích cực rèn tập tướng sỹ. Cuộc nổi dậy của ông được hưởng ứng rộng rãi ở trong nước và có cả sự liên kết với Lâm Ấp và Chân Lạp. Khởi nghĩa Hoan Châu do Mai Thúc Loan lãnh đạo nổ ra vào năm Khai Nguyên thứ nhất đời vua Đường Huyền Tông ở Trung Hoa, tức năm Quý Sửu (năm 713). Khởi nghĩa nổ ra tại Rú Đụn, còn gọi là Hùng Sơn (Nghệ An).
Năm Giáp Dần (714), Mai Hắc Đế tiến binh đánh thành Tống Bình (Hà Nội ngày nay). Thái thú nhà Đường là Quang Sở Khách cùng đám thuộc hạ không chống cự lại được, phải bỏ thành chạy về nước. Lực lượng Mai Hắc Đế lúc đó lên tới chục vạn quân.

Nhà Đường bèn huy động 10 vạn quân do tướng Dương Tư Húc và Quang Sở Khách sang đàn áp. Quân quan nhà Đường tiến theo đường bờ biển Đông Bắc và tấn công thành Tống Bình. Sau nhiều trận đánh khốc liệt, từ lưu vực sông Hồng đến lưu vực sông Lam, cuối cùng Mai Hắc Đế thất trận, thành Vạn An thất thủ, nghĩa quân tan vỡ. Không đương nổi đội quân xâm lược, Mai Hắc Đế phải rút vào rừng, sau bị ốm rồi mất.
Tương truyền, con trai thứ ba của ông là Mai Thúc Huy lên ngôi Hoàng Đế tức Mai Thiếu Đế và tiếp tục chống trả các cuộc tấn công của nhà Đường tới năm 723.
Thờ thần chủ Mai Hắc Đế
Đền thờ Vua Mai Hắc Đế trước thuộc làng Hương Lãm, tổng Nộn Liễu, nay thuộc xã Vạn An, tỉnh Nghệ An. Từ trăm năm trước, nơi đây đã là ngôi đền uy linh. Năm 1996, đền được công nhận di tích lịch sử văn hóa. Ngày 29/12/2022, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã ký Quyết định số 1649/QĐ-TTg về việc xếp hạng di tích Quốc gia đặc biệt đối với Đền thờ Vua Mai Hắc Đế (Thị trấn Nam Đàn, huyện Nam Đàn) nay là xã Vạn An, tỉnh Nghệ An.
Xưa kia, nơi đây là tổng hành dinh cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan, khi Ngài xưng đế, lập quốc hiệu Vạn An và chọn nơi này là Quốc đô. Đời sau nhớ ơn Mai Hắc Đế, lập đền thờ ông ở trên núi Vệ Sơn và trong thung lũng Hùng Sơn.

Cổng đền thờ Vua Mai khá đồ sộ, 3 tòa, sáu trụ nhưng chỉ một lối vào rộng thênh thang. Hai trụ chính cao lớn, trên chóp có tượng kỳ lân, những trụ khác gắn sen búp. Hai bên cổng xây tường có mái giả, bên trái đắp tượng quan võ đeo kiếm, ngựa hồng, bên phải đắp tượng quan văn cầm quyển thư, ngựa bạch.
Theo sử ghi, trước đây nơi thờ vua Mai là một ngôi đền nhỏ, đơn giản. Đến năm Minh Mạng thứ hai được xây dựng khang trang hơn, kiểu chồng diềm tám mái. Đầu thời nhà Nguyễn, đền được mở rộng diện tích hơn 10.000m2. Cuối năm 2004, đầu năm 2005, đền được trùng tu gồm ba phần: Thượng điện thờ vua và gia quyến; trung điện thờ tướng sĩ có công; hạ điện là nơi hành lễ, thờ cúng công đồng và lưu giữ nhiều cổ vật còn lại như long ngai, bài vị, câu đối.