1. Mộ bia năm 1856 (nằm cạnh mộ 1850): Là mộ của một người phụ nữ họ Phan. Nội dung văn bia ghi rõ: "Đây là mộ mẹ đã khuất của chúng tôi. Bà họ Phan, là vợ của cha tôi là kỳ lão họ Huỳnh".
Mối quan hệ: Bản dịch văn bia chỉ ra đây là cụm mộ có liên hệ gia đình (mộ 1850 là cha Huỳnh Hoàn Nhân và mộ 1856 Phan Thị là mẹ) 2 bia mộ đều do người con trai (hiếu tử Văn Dục) lập bia phụng thờ.
TS Sương kết luận: Bia mộ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân cùng bia mộ 1856 Phan Thị nằm trong cùng khu vườn, hiện còn nguyên vẹn, chứa đựng các thông tin trung thực về tên tuổi, danh xưng, quê quán và thân quyến, không có căn cứ nào liên quan đến mộ nữ sĩ Hồ Xuân Hương.

Không đồng thuận với ý kiến của TS Sương, nhà nghiên cứu Nghiêm Thị Hằng cho rằng quan điểm trên không có căn cứ lịch sử liên quan đến người nằm dưới mộ, không so sánh liên kết nội dung bia mộ, không xác định hiện trạng xương cốt người nằm dưới mộ 1850 (đã bị trộm đào) theo biên bản lập ngày 7/3/2012 của Công an Tp Tam Kỳ, không xác định phong thủy hiện trạng tập tục chôn cất người thân trong vườn nhà và vị trí mộ theo thứ bậc trong gia đình.
Nhóm nghiên cứu đưa ra căn cứ chính sử, gia phả phó ý, văn học sử, phong tục tập quán, phong thủy chôn cất, hiện trạng vị trí mộ phần, nội dung trên bia mộ và minh bia, biên bản hiện trạng xương cốt mộ 1850 bị đào trộm do công an lập ngày 7/3/2012, mật mã ký hiệu liên kết mộ Giày, mộ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân và mộ 1856 Phan Thị, qua kiến trúc phù điêu, điêu khắc lăng mộ, để đưa ra những nhận định có căn cứ khoa học chứng minh 11 nội dung xác nhận mộ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân là mộ cải táng.
Bia mộ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân cùng bia mộ 1856 Phan Thị, không có các thông tin rõ ràng chính danh trên bia mộ như các bia mộ khác trong vùng. Cụ thể mộ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân, đó là tên tự không phải chính danh, cũng không phải tên người nằm dưới mộ, không có năm mất, không có thông tin về tuổi thọ, không có quê quán, không có phẩm hàm tước vị. Không rõ chính danh thứ bậc trong gia đình và quê quán của người lập bia. Chỉ có quê quán của ông Trần Hòa Phủ và người viết bia mộ và minh bia ở Tam Kỳ- Hà Đông. Còn mộ 1856 chỉ ghi người nằm dưới mộ họ Phan là vợ cả, không có quê quán, tuổi thọ của người mất. Không rõ chính danh thứ bậc trong gia đình và quê quán của người lập bia.
Việc trên bia mộ 1856 Phan Thị và bia mộ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân đều có tên hiểu tử Văn Dục lập bia, nhóm nghiên cứu đưa ra căn cứ trong tiếng Hán, từ hiếu tử dùng chung cho con cháu có hiếu. Nếu là con của cụ Huỳnh và cụ Phan Thị, trên bia mộ phải ghi theo đúng thứ bậc trong gia đình là trưởng nam hay thứ nam và nhất thiết phải ghi theo huyết thống của bố là họ Huỳnh. Thực tế trên hai bia mộ này không thể hiện họ Huỳnh của Văn Dục, do đó không có quan hệ huyết thống là con của cụ Huỳnh và cụ Phan. Vậy vì sao hiếu tử Văn Dục lại lập bia, chỉ có thể đưa ra giả thiết trong trường hợp gia đình ông Phúc Hiển tại thời điểm đó vô tự, không có người nối dõi, do đó con cháu chi trưởng đã đổi sang họ Nguyễn là Văn Dục đã lập bia cho 2 người thím là vợ cả (mộ 1856 Phan Thị) và mộ vợ thiếp Hồ Xuân Hương (mộ 1850), là vợ của tử tù Trần Phúc Hiển.
Nếu ghi rõ hiếu tử Nguyễn Văn Dục, thì không thể chứng minh vì sao người họ Nguyễn lại là hiếu tử đứng ra lập bia mộ người họ Huỳnh và họ Phan xa lạ và không đúng nguyên tắc ghi trên bia mộ theo huyết thống dòng họ cha.

Căn cứ bia mộ và minh bia 1856 ghi là vợ cả, thọ “thất trật” trên 70 tuổi. Nếu Huỳnh Hoàn Nhân là chồng cụ Phan Thị và hai vợ chồng bằng tuổi nhau, thì cụ Huỳnh Hoàn Nhân mất năm 1850 ( trước 6 năm so với vợ là cụ Phan Thị) . Cụ Phan Thị qua đời trên 70 tuổi, thì cụ chồng mất trước 6 năm, ít nhất cũng trên 64 tuổi hưởng thọ chết già. Thế nhưng trên minh bia cụ Huỳnh Hoàn Nhân lại ghi:“Đáng ra ngài phải được hưởng phúc dài lâu, sao lại vội lìa cõi đời?”. Cho thấy người nằm dưới mộ 1850 là người chết trẻ không phải người chết già như chồng cụ Phan Thị. Do đó người nằm dưới mộ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân không phải là chồng cụ Phan Thị.
Căn cứ biên bản hiện trường xương cốt người nằm dưới mộ 1850 do trộm đào ngày 6/3/2012, công an TP Tam Kỳ lập biên bản ngày 7/3/2012 và báo cáo ngày 6/1/2023 của Luật sư, đại tá Nguyễn Huy Hoàng, điều tra viên cao cấp Bộ Công an (đã nghỉ hưu) là thành viên của nhóm nghiên cứu, làm việc với ông Nguyễn Văn Thạch, người được thuê đào mộ 1850 và được chính quyền thuê nhặt xương mộ 1850 bị trộm vứt lên vườn chôn cất lại, thì hiện trường xương cốt người nằm dưới mộ 1850 là mộ cải táng của người phụ nữ từ miền Bắc đưa vào Tam Kỳ chôn cất.
Với những căn cứ khoa học viện dẫn trên, nhóm nghiên cứu bác quan điểm của TS Sương: Mộ 1850 là mộ hung táng của cụ Huỳnh Hoàn Nhân chồng của cụ Phan Thị (người nằm dưới mộ 1856).
Đến đây thì câu hỏi đặt ra, người nằm dưới mộ cải táng 1850 là di cốt của phụ nữ đưa từ miền Bắc vào Tam Kỳ chôn cất trong vườn cùng với mộ 1856 cụ Phan Thị vợ cả, là ai?
Trả lời câu hỏi này, nhóm nghiên cứu đã tìm hiểu phong tục chôn người thân
trong vườn nhà của địa phương vùng Tam Kỳ- Quảng Nam và xác định mộ 1856
Phan Thị (vợ cả) và mộ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân, phải là người trong cùng một gia đình.
Một câu hỏi lại được đặt ra, nếu là người cùng một gia đình, mộ 1856 Phan Thị
ghi là vợ cả, thì di cốt cải táng của người đàn bà từ miền Bắc đưa vào chôn cùng vườn nhà với cụ Phan Thị vợ cả là người có vai vế như thế nào trong gia đình?
Trả lời câu hỏi này, nhóm nghiên cứu đã tìm hiểu phong tục chôn cất vợ chồng theo phong thủy “Nam tả nữ hữu” thì mộ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân và mộ 1856 Phan Thị (vợ cả) không theo phong thủy mộ vợ chồng. Còn phong thủy đối với mộ chôn “Tiền thê hậu thiếp”, mộ vợ cả và mộ vợ thiếp, thì trên hiện trường vị trí chôn cất mộ 1856 Phan Thị là mộ của người vợ cả ở phía ngoài vườn, phải đi qua mộ vợ cả vào trong vườn mới đến mộ 1850 ở vị trí của người vợ thiếp.
Một câu hỏi lại được đặt ra, nếu trong vườn nhà đã chôn 2 người vợ (vợ cả và vợ thiếp) thì mộ người chồng ở đâu? Tại sao không cùng chôn trong vườn nhà?
Trả lời câu hỏi này, nhóm nghiên cứu đã tìm theo chính sử, tử tù Trần Phúc Hiển thi hành án giảo (mất ngày 16 tháng 9 âm lịch năm 1819), hiện ở địa phương không có ngôi mộ nào ghi chính danh mộ tử tù Trần Phúc Hiển, vậy mộ của ông ở đâu? Trong chính sử ghi Trần Phúc Hiển có người vợ cả ở trong quê và người vợ thiếp là nữ sĩ Hồ Xuân Hương ở kinh thành Thăng Long. Vậy trong khu vườn có mộ 1856 Phan Thị được ghi trên bia mộ là vợ cả, còn mộ cải táng di cốt của người phụ nữ từ phía Bắc đưa vào Tam Kỳ chôn cùng vườn với mộ người vợ cả, có phải là mộ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, di hài cốt từ miền Bắc về quê chồng chôn cùng vườn nhà với mộ người vợ cả Phan Thị mộ 1856?
Từ đây xác định khu vườn có 2 ngôi mộ 1856 Phan Thị vợ cả và mộ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân (nghi là mộ vợ thiếp Hồ Xuân Hương) đều chôn trong vườn nhà của ông Trần Phúc Hiển. Vì ông Trần Phúc Hiển là tử tù đang phải dấu phần mộ nên không thể chôn trong chính khu vườn của gia đình ông.
Vậy phần mộ của ông Trần Phúc Hiển tử tù chôn ở đâu?
Theo ký hiệu điêu khắc trên bia mộ Giày, mộ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân và mộ 1856 Phan Thị (vợ cả), nhóm nghiên cứu xác định mộ Giày truyền thuyết chôn ở nghĩa địa cổ bãi Sơn phía trước lăng mộ tiền hiền mở đất họ Trần ở làng Tam Kỳ, nghi là ngôi mộ thay tên đổi họ của tử tù Trần Phúc Hiển, chôn trước lăng mộ tiền hiền họ Trần, để đánh dấu khẳng định mộ Giày là nơi chôn cất người con họ Trần đã thay tên đổi họ.
Việc thay tên đổi họ được chứng minh, phù hợp với người lập bia mộ Giày là
Nguyễn Văn Phúng, quê ở Diêm Điền cũng quê với Thầy Lánh trong truyền thuyết. Mộ Giày không chôn Thầy Lánh trong truyền thuyết, mà chôn người mượn danh Thầy Lánh để nằm dưới mộ. Thông tin trên bia mộ Giày cũng không rõ ràng, không có tên chính danh người nằm dưới mộ mà mang tên truyền thuyết Nguyễn Đức Lánh. Mộ Giày không có ghi niên đại triều vua, không có năm mất, không có tuổi thọ, không có quê quán, phẩm hàm của người nằm dưới mộ. Điều này phù hợp với mộ ông Trần Phúc Hiển đã thay tên đổi họ, không tìm ra mộ chính danh của tử tù tại địa phương. Vị trí chôn cất người nằm dưới mộ Giày nghi là mộ của ông Trần Phúc Hiển, đã trả lời cho câu hỏi vì sao, mộ tử tù không chôn tại vườn nhà của gia đình ông cùng mộ 2 người vợ.
Trở lại với chủ nhân mảnh vườn có 2 ngôi mộ cổ, hiện là ông Thu họ Nguyễn. Nhóm nghiên cứu đã tìm thấy trong chính sử và gia tộc họ Trần, vụ án tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn xẩy ra vào năm 1429 (năm Thuận Thiên thứ 2) dưới thời Lê sơ, cụ thể là trong triều đại của vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi), con cháu nhánh trưởng họ Trần Nguyên Hãn đã chuyển sang họ Nguyễn, để trừ hậu họa tru di tam tộc. Trong vụ án của tử tù Trần Phúc Hiển, chi trưởng của người anh cũng đã đổi sang họ Nguyễn, chính là Nguyễn Văn Phúng người anh trưởng lập bia mộ cho Nguyễn Đức Lánh (nghi là tử tù Trần Phúc Hiển em trai -mượn tên này để nằm dưới mộ). Ông Nguyễn Thu có thể là hậu duệ của chi trưởng họ Trần, đã đổi sang họ Nguyễn. Theo đó ông Trần Phúc Hiển là em trai thứ 3 trong gia đình (do vô tự), nên mảnh vườn nhà ông Phúc Hiển chính là đất thừa tự của con cháu hậu duệ người anh trưởng đã chuyển sang họ Nguyễn, quản lý đến bây giờ.
Còn rất nhiều những bất đồng chính kiến giữa TS Sương ở Bảo tàng Quảng Nam với nhóm nghiên cứu . Chúng tôi sẽ đề cập ý kiến của các bên, sau khi nhóm nghiên cứu báo cáo tại Sở Văn hóa –Thể thao-Du lịch TP Đà Nẵng vào ngày 26/6/2026 tới đây.
(HẾT)