
Giữa khung cảnh đó, chiếc ghe nhỏ của chị Sáu Hồng cũng lặng lẽ neo mình. Cây bẹo đơn sơ, chỉ treo vài ổ bánh mì, cái ấm nước đen bóng, với mấy gói thuốc lá. Nhìn vậy thôi chớ ai quen chợ nổi là biết liền ghe này bán cà phê, bánh mì, thuốc lá… đủ cho những thương hồ ghé lại lót dạ.
Chị Sáu Hồng quen với sông nước từ hồi nhỏ xíu. Sinh ra ở miệt Hậu Giang, lớn lên nghe tiếng mái chèo khua nước, ngửi mùi phù sa riết rồi nó ăn vô máu. Cha mất sớm, má chị chèo ghe bán bún riêu dọc chợ nổi dưới đó. Sau này con nước đổi dòng, ghe tụ về chợ nổi Ngã Năm đông hơn, hai má con cũng theo dòng đời đưa đẩymà trôi dạt về Sóc Trăng.
Rồi tới lúc má mất, để lại cho chị chiếc ghe cũ với cái nghiệp lênh đênh. Nói là nghiệp cũng không sai, vì chị đâu có chọn. Mà thiệt ra, có muốn rời cũng không đành. Sông nước giữ chân chị, như cái duyên, cái nợ gì đó từ hồi nào.
Mỗi ngày, chị dậy sớm, nhóm bếp than, nấu ấm nước pha cà phê phin. Ghe nhỏ, hàng ít, nên cây bẹo cũng giản dị. Nhưng dân thương hồ nhìn vô là hiểu liền, khỏi cần rao. Cái thứ “ngôn ngữ” này, ai không sống trên sông chắc khó mà hiểu được.
Chợ nổi Ngã Năm lúc nào cũng rộn ràng, mà sâu trong đó lại buồn buồn. Ghe gặp nhau, mua bán xong rồi lại tách ra, như đời người, lướt ngang qua nhau, ít khi dừng lại lâu. Mà có khi, cũng từ đây cái duyên nó neo lại.
Tư Lộc là một người như vậy. Bữa đó ngày Rằm. Ghe ảnh chở đầy dưa hấu, ghé lại chỗ chị Sáu, kêu ly cà phê đen đá. Ảnh hỏi chuyện, giọng đậm chất miệt sông:
– Em bán ở đây lâu chưa?
– Dạ, cũng mười mấy năm rồi đó anh.
– Vậy chắc quen hết bà con?
Chị cười:
– Dạ đâu có, người tới người lui hoài hà.
Tư Lộc cũng cười, mà trong mắt ảnh có cái gì đó xa xăm. Dân thương hồ mà, nay đây mai đó, đâu có chỗ nào gọi là nhà thiệt sự.
Từ bữa đó, ngày nào ảnh cũng ghé. Khi thì uống cà phê rồi ngồi nhìn con nước lớn, khi thì kể chuyện đời mình. Có bữa, ảnh cầm cây đờn kìm, gảy mấy câu vọng cổ nghe buồn đứt ruột.
Một lần, ảnh cất giọng ca, giữa buổi chợ vãn:
"Đời thương hồ lênh đênh… tưởng đâu quen rồi cái cảnh một mình giữa dòng con nước lớn…
Ai dè gặp được em… bỗng nghe lòng mình muốn neo lại… một bến sông quê… có em chờ…"
Giọng ca Tư Lộc không phải kiểu trau chuốt sân khấu, mà mộc mạc, thiệt tình, nghe như rót vô lòng. Chị Sáu đứng đó, tay cầm cái ly, mà nghe cổ họng nghèn nghẹn.
Chiều bữa nọ, hai chiếc ghe neo gần nhau. Gió thổi làm cây bẹo kẽo kẹt. Tư Lộc nói:
– Hay mình buộc ghe lại sống chung đi. Có người nói chuyện, cũng bớt buồn.
Chị Sáu im lặng một hồi, rồi chị gật đầu, cái gật đầu nhẹ hều mà chắc nịch.
Từ đó, hai chiếc ghe buộc lại. Cây bẹo cũng treo gần nhau, như nói với thiên hạ: “Tụi tui có đôi rồi nghen”.
Buổi sớm bán cà phê, trưa bán trái cây, tối nấu cơm, rồi Tư Lộc lại ca vài câu vọng cổ. Mấy cái giản dị vậy thôi, mà ấm lòng dữ lắm.
Nhưng buôn bán đâu phải lúc nào cũng suôn sẻ. Năm đó, trái cây thất mùa, ghe thưa dần. Tư Lộc đành xuống tận Cà Mau tìm mối.
Trước khi đi, ảnh đứng trên mũi ghe, nhìn chị Sáu một hồi lâu rồi dặn:
– Em ở lại giữ gìn sức khoẻ. Tui đi chừng nửa tháng, rồi về liền.
Chị Sáu chuẩn bị cho ảnh chút đồ ăn, mà trong bụng cứ bồn chồn.
Những ngày sau đó, chị Sáu vẫn bán hàng. Mà hễ thấy ghe lạ là ngó theo, hy vọng rồi lại hụt hẫng. Nửa tháng… rồi một tháng. Tư Lộc không về.
Bỗng tin dữ tới như cơn giông. Người quen báo, ghe Tư Lộc gặp bão, lật giữa sông, không ai còn sống.
Chị Sáu nghe xong, như hụt chân khỏi mạn ghe. Ngồi thừ ra, nhìn cây bẹo của chiếc ghe bên cạnh, giờ trống trơn.
Đêm xuống, một mình trên hai chiếc ghe buộc lại. Tiếng nước vỗ mạn ghe nghe như tiếng ai thở dài. Lần đầu tiên, chị thấy sợ cái mênh mông của sông nước.Mấy bữa sau, chị nghỉ bán. Hạ cây bẹo xuống. Ghe nằm im một chỗ.
Một hôm, chờ con nước lớn, chị chèo ghe về Hậu Giang. Tấp vô một ngôi chùa ven sông, mái ngói phủ rêu xanh. Chị vô chánh điện, ngồi phía sau nghe sư thầy tụng kinh. Nghe kinh vô thường, sinh diệt...
Sau buổi tụng, sư thầy hỏi:
– Con có chuyện gì nặng lòng hả?
Chị kể. Tới đoạn nhắc tên Tư Lộc, nước mắt rơi không kìm được.
Thầy khuyên:
– Con nước không giữ được ai. Đời cũng vậy. Cái gì tới là duyên, đi cũng là duyên...
Chị hỏi:
– Vậy con phải làm sao?
– Con cứ sống cho nhẹ lòng. Như cây bẹo ngoài kia, treo gì thì người ta biết vậy. Tâm con treo nỗi buồn, thì đi đâu cũng gặp chuyện buồn.
Chị ngồi im. Nghe đơn giản mà thấm sâu.
Từ đó, chị hay ghé chùa. Khi quét sân, khi phụ nấu cơm. Lòng cũng nhẹ dần.
*
Mùa nước nổi, chị quay lại chợ Ngã Năm. Chiếc ghe cũ vẫn ở đó. Chị dựng lại cây bẹo. Treo lại vài ổ bánh mì, cái ấm nước quen thuộc. Mà lần này, chị treo thêm một chùm bông lục bình tím biếc.
Người ta hỏi:
– Ủa, chị treo bông chi vậy?
Chị cười, giọng nhẹ tênh:
– Để nhớ người cũ… mà cũng để nhắc mình...
Con nước lớn rồi con nước ròng. Cây bẹo đong đưa theo gió. Chị Sáu Hồng vẫn tiếp tục một kiếp thương hồ. Nhưng giờ đây, trong lòng chị, không còn trôi dạt nữa. Vì chị đã có một bến-không phải bến đất liền… Mà là bến bình yên, nằm ngay giữa dòng sông đời chảy hoài, chảy mãi.