Gặp Nghệ nhân Phan Thị Liên, đang sinh sống tại Làng Văn hóa - Du lịch các Dân tộc Việt Nam, cho biết chị là người dân tộc Tày đến từ Thái Nguyên. Theo chị Liên, trên những nếp nhà sàn vùng cao Thái Nguyên, có một màu sắc không bao giờ phai nhạt theo năm tháng, đó là sắc chàm truyền thống.
Trang phục truyền thống của người Tày là một trong những nét văn hóa đặc sắc, phản ánh đời sống, thẩm mỹ và bản sắc dân tộc của cộng đồng cư dân lâu đời ở vùng trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam.

Người Tày thường sinh sống tập trung tại các tỉnh như Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên… Trong đời sống văn hóa của họ, trang phục không chỉ là một bộ đồ để mặc mà trong đó còn thể hiện cả sự giản dị, tinh tế và hài hòa với thiên nhiên của người dân đồng bào tày.
Trang phục nam giới dân tộc Tày mang đậm tính thực dụng và vẻ đẹp khỏe khoắn, giản dị. Trong sinh hoạt hằng ngày, họ thường mặc áo dài kiểu áo tứ thân hoặc áo ngắn với cổ tròn hay cổ đứng, kết hợp cùng quần chàm hoặc đen ống rộng, dài đến mắt cá chân; quần thường được may khá rộng và có dây vải để thắt cho gọn gàng. Áo của thanh niên thường có túi ở ngực trái, còn người trung niên thì túi được may ở hai bên tà áo, vừa tiện lợi vừa phù hợp với nhu cầu sử dụng.
Trong những dịp lễ hội hay sự kiện quan trọng, nam giới Tày mặc áo năm thân dài đến đầu gối, có cúc cài bên hông, tạo nên vẻ chỉnh tề và trang trọng. Tổng thể trang phục không chỉ thích nghi với điều kiện lao động vùng miền núi mà còn thể hiện hình ảnh người đàn ông Tày điềm đạm, chân phương, giản dị trong hình thức nhưng mạnh mẽ trong cốt cách.

Trang phục phụ nữ Tày thể hiện rõ quan niệm thẩm mỹ: “đẹp là gọn gàng, sạch sẽ”. Bộ áo năm thân dài quá gối, cổ đứng, cài cúc bên phải kết hợp với quần ống rộng tạo nên vẻ ngoài hài hòa, kín đáo mà duyên dáng. Chiếc thắt lưng đỏ quấn quanh eo, buộc buông phía sau vừa giúp cố định trang phục, vừa tạo điểm nhấn mềm mại cho dáng người.
Sự làm nên tính đặc sắc trong bộ trang phục của người phụ nữ dân tộc Tày chính là việc phân biệt giữa phụ nữ đã có gia đình và chưa có gia đình. “Người đã có gia đình rồi họ thường đeo cả khăn cả vấn, còn nếu mà chưa có chồng thì chỉ đội vấn không thôi chưa phải đội khăn”, nghệ nhân Phan Thị Liên chia sẻ.
Trang sức đi kèm tuy đơn giản nhưng tinh tế, gồm bông tai nhỏ, vòng cổ bạc, xà tích đeo bên hông và chiếc khăn tay gài trước bụng. Kết hợp với chiếc nón đội đầu, tất cả tạo nên vẻ đẹp thanh nhã, kín đáo và đậm đà bản sắc văn hóa của phụ nữ Tày.

Điểm độc đáo nhất tạo nên giá trị của bộ trang phục chính là kỹ thuật nhuộm chàm thủ công từ vải bông tự dệt. Đây không chỉ là một quy trình kỹ thuật mà là một cuộc thử thách lòng kiên nhẫn. Từ việc hái lá chàm, ngâm ủ, hòa vôi cho đến hàng chục lần nhuộm và phơi nắng, mỗi tấm vải đều thấm đượm mồ hôi và sự tỉ mỉ của người thợ. Chính nhờ sự công phu ấy, sắc chàm của người Tày có độ bền kinh ngạc, càng mặc lâu vải càng trở nên đanh bóng và mang một vẻ đẹp sang trọng, thâm trầm.
Dấu ấn văn hóa riêng của trang phục người Tày không nằm ở sự rực rỡ sắc màu mà toát lên từ sự tinh tế trong sắc chàm trầm mặc. Màu xanh đen nhuộm thủ công từ cây chàm không chỉ là lớp vỏ bọc bền bỉ, mát lành phù hợp với khí hậu núi rừng, mà còn là biểu tượng cho đức tính khiêm nhường, lòng thủy chung và tâm hồn thuần hậu của con người nơi đây. Sự tối giản trong đường nét cắt may, kết hợp cùng điểm nhấn từ những bộ xà tích bạc lấp lánh và chiếc thắt lưng màu sắc, đã tạo nên một chỉnh thể thẩm mỹ hài hòa, phản ánh sâu sắc triết lý sống thuận hợp với tự nhiên và ý thức gìn giữ cội nguồn bền bỉ qua nhiều thế hệ.
Trang phục áo chàm của cộng đồng Tày, Nùng, Thái trở nên sống động và thiêng liêng khi gắn liền với hát Then và đàn Tính – Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Trong không gian diễn xướng linh thiêng, bộ trang phục trở thành cầu nối giữa trần gian và thế giới tâm linh, khi người thầy Then nâng cây đàn Tính nhịp nhàng theo tiếng xóc nhạc của bộ xà tích bạc, tạo nên chỉnh thể hài hòa giữa âm thanh, sắc màu và chuyển động.

Màu sắc và họa tiết mang ý nghĩa biểu tượng: đỏ may mắn và xua tà, xanh và đen hòa hợp với thiên nhiên, trang phục cùng nhạc cụ và lễ vật tạo không gian thiêng liêng. Mỗi dân tộc có họa tiết và phụ kiện riêng, giúp duy trì bản sắc văn hóa, nhận diện cộng đồng và truyền lại truyền thống cho thế hệ trẻ.
Ngày nay, dưới tác động của đời sống hiện đại, trang phục truyền thống của người Tày không còn được sử dụng phổ biến trong sinh hoạt hàng ngày. Tuy nhiên, trong các dịp lễ hội, cưới hỏi hay các hoạt động văn hóa, trang phục này vẫn được gìn giữ và phát huy như một biểu tượng của bản sắc dân tộc.
Các nghệ nhân thuộc đồng bào dân tộc Tày ở Làng văn hóa - Du lịch các Dân tộc Việt Nam cũng bày tỏ tinh thần trân trọng cũng như sự biết ơn đến với nhà nước thông qua các nghị quyết và chính sách để bảo tồn nghệ thuật hát Then cũng như văn hóa truyền thống của dân tộc Tày.

“Dân tộc Tày được Đảng và Nhà nước rất quan tâm, Đảng và Nhà nước tạo điều kiện rất nhiều cho các nghệ nhân hát Then và thế hệ kế tiếp. Bác tin rằng các thế hệ kế tiếp sẽ luôn gìn giữ bản sắc dân tộc cũng như làn điệu hát Then của dân tộc và nó sẽ không bị mai một”, Nghệ nhân Phan Thị Liên nói.
Qua đó cho thấy, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Đảng và Nhà nước đã nhấn mạnh yêu cầu bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống như một nền tảng quan trọng của bản sắc dân tộc trong tiến trình phát triển bền vững. Trong tinh thần đó, việc lưu giữ và bảo tồn trang phục truyền thống của người Tày không chỉ mang ý nghĩa gìn giữ một loại hình di sản vật thể mà còn góp phần duy trì hồn cốt văn hóa của cộng đồng. Trang phục Tày, với sắc chàm đặc trưng, kiểu dáng giản dị nhưng tinh tế, phản ánh lối sống gắn bó với thiên nhiên và quan niệm thẩm mỹ riêng biệt.
Tuy nhiên, trước tác động của hiện đại hóa và xu hướng đồng phục hóa trong đời sống, việc sử dụng trang phục truyền thống ngày càng thu hẹp, đặc biệt trong giới trẻ. Do đó, cần có những giải pháp đồng bộ như hỗ trợ nghệ nhân, khuyến khích truyền dạy nghề dệt nhuộm, đưa trang phục truyền thống vào hoạt động lễ hội, trường học và du lịch cộng đồng. Điều này, không chỉ góp phần thực hiện hiệu quả tinh thần của nghị quyết mà còn giúp văn hóa Tày tiếp tục được kế thừa, lan tỏa trong đời sống đương đại.