Theo dòng thời sự: Kỳ vọng tái định cư sẽ bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ cho người dân Đại lộ cảnh quan sông Hồng (Hà Nội) ?

Dự án đầu tư xây dựng Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng vừa được Hà Nội công bố không chỉ là một dự án hạ tầng quy mô lớn với tổng mức đầu tư sơ bộ gần 737.000 tỷ đồng, mà còn là một cuộc dịch chuyển xã hội và văn hóa có phạm vi ảnh hưởng sâu rộng tới khoảng 247.000 người dân, tương đương hơn 70.000 hộ gia đình sinh sống dọc hai bên sông Hồng.

Trong bối cảnh đó, cam kết của UBND TP Hà Nội rằng việc bố trí tái định cư sẽ được thực hiện theo nguyên tắc “bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ” trở thành vấn đề nhận được sự quan tâm đặc biệt.

Tuy nhiên, nếu nhìn dưới góc độ văn hóa, câu hỏi đặt ra không chỉ là người dân sẽ được ở trong những căn hộ hay lô đất mới khang trang hơn, mà còn là liệu họ có giữ được những giá trị tinh thần, những mối liên kết cộng đồng và nếp sống đã được hình thành qua nhiều thế hệ ven sông Hồng hay không.

dt1a-hn1-1780931715.jpg
 

Phối cảnh dự án Đầu tư xây dựng Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng. Nguồn: Internet.

“Tốt hơn” không chỉ là nhà cao hơn, đường rộng hơn

Trong cách hiểu thông thường, một khu tái định cư được xem là tốt hơn khi có hạ tầng hiện đại hơn, giao thông thuận lợi hơn, trường học, bệnh viện, công viên và các dịch vụ công cộng đầy đủ hơn nơi ở cũ. Theo quy hoạch của Hà Nội, các khu đô thị định cư tại Long Biên, Lĩnh Nam, Bát Tràng hay khu đô thị đa mục tiêu Thư Lâm đều được thiết kế với quy mô lớn, khả năng đáp ứng hàng chục nghìn căn hộ và lô đất tái định cư. Thành phố cũng xác định ưu tiên xây dựng các khu tái định cư trước khi triển khai đồng bộ những hạng mục khác của dự án.

Đó là một tín hiệu tích cực bởi trong nhiều dự án giải phóng mặt bằng trước đây, người dân thường lo ngại phải di dời khi nơi ở mới chưa hoàn thiện hoặc chưa bảo đảm điều kiện sống. Việc chuẩn bị trước quỹ nhà ở và quỹ đất tái định cư cho thấy nỗ lực của chính quyền trong việc giảm thiểu những xáo trộn đối với người dân.

Tuy nhiên, xét từ góc độ văn hóa, khái niệm “tốt hơn” cần được hiểu rộng hơn những tiêu chí vật chất. Đối với cư dân ven sông Hồng, nơi ở không đơn thuần là một ngôi nhà. Đó còn là không gian ký ức, là làng xóm, đình chùa, miếu mạo, là những bãi bồi gắn với nghề trồng rau, trồng hoa, chăn nuôi hoặc các hoạt động kinh tế đặc thù ven sông. Nhiều cộng đồng dân cư đã tồn tại ở đây hàng chục, thậm chí hàng trăm năm, tạo nên một bản sắc riêng của văn hóa sông Hồng.

Một căn hộ chung cư hiện đại có thể giúp nâng cao điều kiện sống vật chất, nhưng không dễ dàng thay thế cảm giác gắn bó với mảnh vườn, với con ngõ quen thuộc hay những quan hệ láng giềng thân thiết được tích lũy qua nhiều thế hệ. Chính vì vậy, đánh giá một khu tái định cư có “tốt hơn” hay không không thể chỉ căn cứ vào diện tích nhà ở hay giá trị tài sản được bồi thường.

Trong lịch sử phát triển đô thị trên thế giới, nhiều dự án tái định cư thất bại không phải vì thiếu nhà ở mà vì làm đứt gãy các mạng lưới xã hội của cộng đồng. Khi người dân bị phân tán, những quan hệ tương trợ truyền thống suy giảm, đời sống tinh thần cũng bị ảnh hưởng đáng kể. Đó là bài học mà bất kỳ dự án đô thị quy mô lớn nào cũng cần lưu tâm.

Giữ được sinh kế và cộng đồng mới là thước đo thành công

Một điểm đáng chú ý trong định hướng của Hà Nội là không chỉ giải quyết vấn đề chỗ ở mà còn đặt mục tiêu bảo đảm sinh kế cho người dân. Thành phố nhấn mạnh việc triển khai các khu đô thị định cư, tái thiết nhằm ổn định đời sống và giải quyết việc làm cho những hộ dân bị ảnh hưởng.

Đây là yếu tố có ý nghĩa quyết định. Bởi xét cho cùng, chất lượng cuộc sống không nằm ở căn nhà mới mà nằm ở khả năng duy trì cuộc sống ổn định sau khi chuyển đến nơi ở mới. Nếu một gia đình được bố trí căn hộ hiện đại nhưng mất đi nguồn thu nhập truyền thống, phải đi xa hơn để làm việc hoặc gặp khó khăn trong việc thích nghi với môi trường sống mới thì rất khó có thể nói rằng cuộc sống của họ đã tốt hơn.

Đặc biệt, khu vực ven sông Hồng không chỉ là nơi cư trú mà còn là không gian sản xuất. Nhiều hộ dân sống bằng nghề nông nghiệp, dịch vụ nhỏ, vận tải thủy hoặc các ngành nghề gắn với đặc điểm địa lý của vùng bãi sông. Khi chuyển tới các khu đô thị mới, những nghề nghiệp này có thể không còn phù hợp. Vì thế, cùng với chính sách bồi thường và bố trí nhà ở, việc đào tạo nghề, hỗ trợ chuyển đổi việc làm và tạo cơ hội kinh doanh mới sẽ là yếu tố quyết định mức độ thành công của công tác tái định cư.

Ở góc độ văn hóa đô thị, điều đáng kỳ vọng nhất của dự án không chỉ là hình thành một đại lộ cảnh quan hiện đại, mà còn tạo ra những cộng đồng dân cư mới có chất lượng sống cao hơn nhưng vẫn giữ được sự gắn kết xã hội. Nếu người dân từ cùng một khu vực được bố trí tương đối tập trung tại các khu tái định cư, các thiết chế văn hóa cộng đồng như nhà sinh hoạt, không gian tín ngưỡng, trường học, công viên được quan tâm đầu tư đồng bộ, quá trình thích nghi sẽ diễn ra thuận lợi hơn.

Sông Hồng từ lâu đã là cái nôi hình thành và phát triển của Thăng Long – Hà Nội. Hai bên dòng sông không chỉ tồn tại những công trình vật chất mà còn lưu giữ nhiều lớp trầm tích văn hóa, ký ức và lối sống đặc trưng của cư dân vùng châu thổ. Vì thế, dự án Đại lộ cảnh quan sông Hồng sẽ thực sự thành công khi không chỉ tạo ra một diện mạo đô thị hiện đại mà còn bảo tồn được những giá trị nhân văn gắn với cộng đồng cư dân nơi đây.

Cam kết “bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ” của Hà Nội là một mục tiêu đúng đắn và đầy trách nhiệm. Nhưng để biến cam kết ấy thành hiện thực, thước đo không nên chỉ là số lượng căn hộ hay diện tích đất tái định cư. Điều quan trọng hơn là người dân sau khi chuyển đến nơi ở mới có cảm thấy cuộc sống ổn định hơn, sinh kế bền vững hơn, con cháu có cơ hội phát triển tốt hơn và những mối dây liên kết cộng đồng có được gìn giữ hay không.

Khi đó, tái định cư mới thực sự không chỉ là sự dịch chuyển về không gian cư trú, mà còn là một bước nâng cấp chất lượng sống và chất lượng văn hóa của cộng đồng cư dân ven sông Hồng trong hành trình phát triển mới của Thủ đô.

V.X.B