
Đến nay, tỉnh An Giang có 02 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (Nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ, Lễ hội Vía bà Chúa Xứ Núi Sam); 10 bảo vật quốc gia, gồm Tượng thần Brahma Giồng Xoài; Bộ Linga - Yoni Đá Nổi; Tượng Phật gỗ Giồng Xoài; Tượng Phật đá Khánh Bình; Bộ Linga - Yoni Linh Sơn; Mukhalinga Ba Thê; Nhẫn Nandin Giồng Cát; Phù điêu Phật Linh Sơn Bắc; Mộ vò Gò Cây Trâm; Đầu tượng Phật Linh Sơn Bắc.
Tỉnh cũng có 11 di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, gồm: Lễ hội Vía bà Chúa Xứ Núi Sam; Hội đua bò Bảy Núi, Kỹ thuật khắc chữ trên Kinh lá Buông; Lễ hội Kỳ Yên đình Thoại Ngọc Hầu (Thoại Sơn); Nghề dệt thổ cẩm của người Chăm Châu Phong ( Tân Châu); Nghi lễ vòng đời người Chăm; Nghệ thuật sân khấu Dì Kê của người Khmer; Nghề làm đường thốt nốt của người Khmer ở Tri Tôn và Tịnh Biên; Nghề thủ công truyền thống, tri thức dân gian nghề làm nước mắm Phú Quốc; Lễ hội Đình thần Nguyễn Trung Trực - Rạch Giá; Nghệ thuật diễn tấu trống Chhaydăm của người Khmer (Tri Tôn và Tịnh Biên).
Cùng với đó còn có 152 di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng (03 di tích cấp quốc gia đặc biệt, 50 di tích cấp quốc gia, 99 di tích cấp tỉnh); Khu di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê đang được tỉnh đề nghị UNESCO đưa vào Danh sách hồ sơ di sản thế giới.
Bên cạnh đó, tỉnh có 28 di tích cấp quốc gia, nhiều công trình văn hóa tiêu biểu, như: Quảng trường và Tượng đài Hồ Chí Minh tại Phú Quốc; Nhà hát An Giang; Đền tưởng niệm anh hùng liệt sĩ và người có công được xây dựng ở những di tích lịch sử cách mạng quan trọng, như: Rừng tràm Bang Biện Phú (Vĩnh Thuận), Tuyến đường 1C (Giang Thành), Ba Hòn - Hòn Đất, địa điểm ra mắt Ủy ban Nhân dân cách mạng tỉnh Rạch Giá ngày 27/8/1946… Các lễ hội tiêu biểu, như: Lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam, Lễ hội Nguyễn Trung Trực, đua bò Bảy Núi, cùng các nghề truyền thống, như: dệt thổ cẩm Chăm, nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ,…
Điều đó cho thấy, An Giang là vùng đất giàu tiềm năng về di sản văn hóa tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Tuy nhiên, việc khai thác hiệu quả các giá trị di sản văn hóa được đánh giá là chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh, trong đó có việc ứng dụng công nghệ trong quản lý, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa còn thiếu tính đồng bộ và chiến lược lâu dài; đội ngũ cán bộ, nhân lực trong lĩnh vực văn hóa vẫn chưa đồng đều về kỹ năng số dẫn đến hạn chế trong việc khai thác các công cụ công nghệ phục vụ công tác chuyên môn cũng như đổi mới phương thức tiếp cận công chúng trong thời đại số.
Do đó, để định vị, lan tỏa thương hiệu di sản văn hóa của tỉnh đến với đông đảo du khách trong và ngoài nước, trong khu vực và quốc tế, tỉnh An Giang cần phải đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số nhằm phát huy tối đa các giá trị di sản văn hóa sẵn có, bởi, trong thời kỳ kỷ nguyên số phát triển mạnh mẽ như hiện nay không thể không ứng dụng công nghệ số trong công tác bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa của dân tộc. Do đó, tỉnh An Giang cần xây dựng, bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa trên nền tảng số trên cả hai không gian song song, đó là, đời sống thực và không gian mạng là một yêu cầu cấp thiết, mang ý nghĩa chiến lược lâu dài.
Trước hết, trong không gian đời sống thực, di sản văn hóa của An Giang cần được bảo tồn một cách bền vững thông qua các hoạt động tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử, gìn giữ lễ hội truyền thống, làng nghề và các giá trị văn hóa phi vật thể. Những địa danh như Núi Sam, Miếu Bà Chúa Xứ, rừng tràm Trà Sư hay các lễ hội văn hóa Khmer, Chăm không chỉ là tài sản văn hóa mà còn là nguồn lực phát triển du lịch. Tuy nhiên, bảo tồn không có nghĩa là “đóng khung”, mà cần gắn với đời sống đương đại, tạo điều kiện để cộng đồng tham gia, truyền dạy và sáng tạo, từ đó làm cho di sản “sống” trong lòng xã hội.
Song song với đó, không gian mạng đang mở ra một “biên giới mới” cho di sản văn hóa. Việc số hóa di sản – từ hình ảnh, tư liệu, hiện vật đến các câu chuyện dân gian, nghệ thuật trình diễn – sẽ giúp lưu giữ lâu dài và lan tỏa rộng rãi giá trị văn hóa của An Giang đến công chúng trong và ngoài nước. Các bảo tàng ảo, tour du lịch trực tuyến, thư viện số hay nền tảng mạng xã hội có thể trở thành “cầu nối” đưa di sản đến gần hơn với thế hệ trẻ. Đặc biệt, trong thời đại công nghệ, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR) sẽ giúp tái hiện sinh động các giá trị văn hóa, tạo trải nghiệm mới mẻ và hấp dẫn.

Tuy nhiên, để hai không gian này vận hành hiệu quả và bổ trợ cho nhau, An Giang cần có chiến lược tổng thể và đồng bộ. Trước hết là đầu tư hạ tầng công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực am hiểu cả văn hóa và công nghệ số. Tiếp đó là xây dựng cơ sở dữ liệu số về di sản văn hóa một cách hệ thống, khoa học và dễ tiếp cận. Đồng thời, cần tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ và cộng đồng địa phương.
Một vấn đề quan trọng khác là đảm bảo tính xác thực và giá trị nguyên bản của di sản khi đưa lên không gian mạng. Việc “số hóa” không nên làm sai lệch hay thương mại hóa quá mức, mà phải giữ được “hồn cốt” văn hóa. Bên cạnh đó, cần chú trọng đến bản quyền, an ninh dữ liệu và đạo đức trong khai thác di sản số.
Có thể thấy, việc phát triển di sản văn hóa trên cả hai không gian – đời sống thực và không gian mạng – không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là cơ hội để An Giang khẳng định bản sắc, nâng cao vị thế và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Khi di sản được “sống” trong thực tiễn và “lan tỏa” trên không gian số, đó chính là con đường bền vững để văn hóa An Giang vươn xa trong thời đại mới. Điều này đòi hỏi vừa bảo đảm tính lành mạnh, an toàn, vừa chú trọng hàm lượng giáo dục và tính định hướng giá trị để không gian văn hóa trực tuyến trở thành nơi lan tỏa tri thức, bản sắc và tinh thần cộng đồng, chứ không chỉ là kênh giải trí đơn thuần.
Đồng thời, tỉnh cần phải coi phát triển con người toàn diện là nhiệm vụ là trọng tâm, trong đó kết hợp hài hòa giữa trí tuệ, đạo đức, thể chất, kỹ năng sống và năng lực số với mục tiêu đáp ứng yêu cầu Hội nhập cho sự phát triển của những ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương, như: kinh tế biển, du lịch và dịch vụ chất lượng cao. Đây là cơ sở để hình thành nguồn nhân lực vừa am hiểu văn hóa bản địa, vừa thành thạo công nghệ và ngoại ngữ, có khả năng giao tiếp, làm việc hiệu quả trong môi trường quốc tế.
Cùng với đó, tỉnh cũng cần xem việc bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc của vùng đất đa văn hóa, đa cảnh quan là nhiệm vụ then chốt. Từ văn hóa Khmer, Chăm, Hoa ở Châu Đốc - Tri Tôn - Gò Quao đến văn hóa biển đảo của Phú Quốc - Thổ Châu - Kiên Hải. Mỗi di sản vật thể và phi vật thể đều cần được nhận diện, bảo vệ và khai thác giá trị một cách hợp lí, bền vững gắn với du lịch văn hóa - sinh thái - tâm linh. Đây cũng là yếu tố giúp An Giang định vị rõ ràng thương hiệu văn hóa của mình trên bản đồ quốc gia và khu vực.
Tỉnh cũng cần chú trọng thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng, đặc biệt là ở khu vực đặc khu, miền núi, hải đảo để mọi người dân, không phân biệt điều kiện địa lý hay hoàn cảnh kinh tế - xã hội đều có cơ hội tiếp cận hạ tầng công nghệ, dịch vụ số và sản phẩm văn hóa chất lượng cao nhằm nâng cao mức hưởng thụ văn hóa, thúc đẩy bình đẳng, gắn kết cộng đồng và phát huy nội lực phát triển văn hóa bền vững.
Song song với đó, tỉnh cũng cần cụ thể hóa các nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng môi trường văn hóa trong bối cảnh chuyển đổi số nhằm đưa An Giang trở thành một trung tâm văn hóa - du lịch biển đảo kết hợp văn hóa đồng bằng có sức lan tỏa trên phạm vi cả nước cùng với việc hoàn thiện và nâng cấp hệ thống thiết chế văn hóa - thể thao ở cơ sở, nhất là các đặc khu, vùng nông thôn, miền núi và hải đảo để hình thành “Khu dân cư số văn minh”, “Đặc khu văn hóa số” dựa trên nền tảng quản lý, kết nối và phục vụ cộng đồng trực tuyến góp phần ngăn chặn, loại bỏ các sản phẩm văn hóa độc hại, thông tin xấu độc trên không gian mạng, bảo vệ thuần phong mỹ tục và giá trị đạo đức xã hội.
Tỉnh cần chú trọng giáo dục kỹ năng công dân số cho thanh thiếu niên, bao gồm kỹ năng quản trị thông tin, tư duy phản biện, ứng xử văn minh trên không gian mạng. Tập trung bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch - dịch vụ chất lượng cao, phục vụ chiến lược phát triển các địa bàn trọng điểm, như: Phú Quốc, Kiên Hải, Thổ Châu và số hóa toàn bộ di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của tỉnh, xây dựng ngân hàng dữ liệu văn hóa số làm cơ sở cho nghiên cứu, giáo dục và quảng bá con người và cảnh quan thiên nhiên của tỉnh ra thế giới. Trên nền tảng này, tỉnh có thể phát triển các sản phẩm du lịch - văn hóa ứng dụng công nghệ 3D, VR, AR cho những lễ hội đặc sắc, như: Lễ hội Bà Chúa Xứ, đua bò Bảy Núi, chợ nổi Long Xuyên, hay cảnh quan biển đảo Nam Du,... trên các nền tảng số đa ngôn ngữ, tiếp cận thị trường trong và ngoài nước.
Việc hợp tác với các doanh nghiệp công nghệ để sản xuất nội dung số chất lượng cao về văn hóa, ẩm thực, lịch sử An Giang sẽ giúp nâng cao sức hấp dẫn và giá trị thương hiệu địa phương với những chính sách khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư vào hạ tầng, dịch vụ, đào tạo nhân lực và sản phẩm văn hóa. Ngoài ra, việc mở rộng hợp tác quốc tế sẽ giúp An Giang tiếp cận công nghệ tiên tiến, nâng cao năng lực bảo tồn di sản, đào tạo nhân lực chất lượng cao và quảng bá hiệu quả hình ảnh tỉnh trên trường quốc tế, từ đó trở thành động lực để con người An Giang chuyển đổi, phát triển đáp ứng yêu cầu trong thời đại số.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, việc tỉnh An Giang định vị thương hiệu di sản văn hóa không chỉ là yêu cầu phát triển kinh tế mà còn là nhiệm vụ bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc lên tầm cao mới. Với lợi thế về di sản văn hóa đa dạng, cảnh quan phong phú và con người năng động, An Giang có đầy đủ điều kiện để xây dựng một thương hiệu mạnh, mang tính khác biệt và bền vững khi di sản văn hóa trở thành nền tảng, công nghệ trở thành công cụ và con người trở thành trung tâm để vươn lên trở thành điểm sáng trên bản đồ du lịch Việt Nam và khu vực.