Bài 3: Kinh tế Việt Nam chuyển đổi mô hình tăng trưởng, bước vào trung tâm chuỗi cung ứng toàn cầu

Theo Tạp chí Việt Mỹ: Nhìn lại chặng đường 40 năm đổi mới, 31 năm hội nhập Quốc tế sâu rộng, có thể thấy ngoại giao Kinh tế là một trong những nhân tố quan trọng đưa Việt Nam từ một nền kinh tế bị cấm vận, quy mô nhỏ bé trở thành một trong những nền kinh tế năng động hàng đầu thế giới, tạo tiền đề vững chắc cho dân tộc bước vào kỷ nguyên vươn mình.

LỜI TÒA SOẠN:

“Hoà ở trong nước thì ít phải dùng binh, hoà ở ngoài biên thì không sợ báo động” – tư tưởng của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn từ hơn bảy thế kỷ trước đến nay vẫn còn nguyên giá trị đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Kế thừa và phát huy truyền thống của dân tộc và trí tuệ cha ông; Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị và quan điểm chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã xác định tăng cường đối ngoại và Hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên; đồng thời là một trong những động lực quan trọng để giữ vững môi trường hòa bình, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế.

Trên tinh thần đó, Tạp chí Việt Mỹ thực hiện loạt 5 bài viết với chủ đề: "Hoà ở trong nước thì ít phải dùng binh, hoà ở ngoài biên thì không sợ báo động”, với mong muốn lan tỏa và đóng góp ý kiến xây dựng cho đường lối đối ngoại “trong ấm, ngoài êm; nội yên, ngoại tĩnh” của Đảng và Nhà nước ta đang theo đuổi trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Loạt bài viết được thực hiện bởi nhóm tác giả bao gồm các nhà khoa học, nhà báo: Tiến sĩ Nguyễn Thắng Cảnh; Thạc sĩ Chính trị học Đào Ngọc Tước và nhà báo Vũ Văn Ninh của Tạp chí Việt - Mỹ.

Trân trọng gửi tới Quý độc giả.

Bài 3: Kinh tế Việt Nam chuyển đổi mô hình tăng trưởng, bước vào trung tâm chuỗi cung ứng toàn cầu

Ngoại giao Kinh tế: Mũi nhọn chủ công của Việt Nam trong thời đại mới

Trong bối cảnh thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, mang đến nhiều thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, Nghị quyết Đại hội XIV xác định nhóm nhiệm vụ trọng tâm: Phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên.

Trong đó, ngoại giao kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, góp phần trực tiếp vào phát triển kinh tế - xã hội, hiện thực hóa các mục tiêu đến năm 2030 và năm 2045, tạo nền tảng để đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.

Cùng với quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; Đảng và Nhà nước ta đề ra mục tiêu cho kinh tế Việt Nam giai đoạn mới là: Xác lập mô hình tăng trưởng mới với nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; tạo ra sức sản xuất và phương thức sản xuất mới chất lượng cao, trọng tâm là kinh tế dữ liệu, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực; thúc đẩy mạnh mẽ tăng trưởng kinh tế gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá; giải quyết tốt mối quan hệ giữa tự chủ sản xuất trong nước với việc tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.

Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới (Nghị quyết số 59) cũng đã bổ sung vai trò cũng như nhiệm vụ của đường lối ngoại giao kinh tế trong việc xây dựng và phát triển đất nước.

Trong đó, chủ trương trước là hội nhập kinh tế, sau là hội nhập toàn diện để khơi thông, mở rộng quan hệ với các quốc gia và tổ chức quốc tế, tranh thủ nguồn lực bên ngoài cho phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao vai trò, vị thế của quốc gia, đưa Việt Nam hội nhập vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế quốc tế và nền văn minh nhân loại.

Trên cơ sở đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ đạo: “Đảng ta xác định hội nhập quốc tế là chiến lược quan trọng nhằm củng cố vị thế chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh quốc gia, nâng tầm ảnh hưởng của đất nước trên bản đồ thế giới. Hội nhập quốc tế đã từng bước phát triển qua các thời kỳ, từ hội nhập có giới hạn, có chọn lọc, thiên về ý thức hệ, hội nhập kinh tế đơn thuần ban đầu đến “hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện” hiện nay. Đại hội Đảng lần thứ IX lần đầu tiên đề ra chủ trương “hội nhập kinh tế quốc tế”. 

Như vậy có thể thấy nhiệm vụ trọng tâm của ngoại giao kinh tế trong thời đại đó là xây dựng mô hình tăng trưởng mới, lấy việc phát triển khoa học, công nghệ làm động lực phát triển; Cải cách thể chế, tăng cường hoàn thiện chính sách, cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút nguồn lực, nhân lực của nước ngoài; Hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng, giúp Việt Nam trở thành một cực tăng trưởng mới, là đối tác tin cậy của thế giới.

kinh-te-viet-nam-1782965662.png
Việt Nam tự tin làm bạn, là đối tác tin cậy với mọi quốc gia trên thế giới (Ảnh: Vũ Ninh)

Ba mươi năm chuyển mình của Kinh tế Việt Nam hội nhập thế giới

Trong giai đoạn đầu thập niên 1990, đất nước ta đối mặt với vô vàn khó khăn khi nội lực còn hạn chế, quan hệ kinh tế đối ngoại chưa rộng mở và đang nỗ lực thoát khỏi những khó khăn kéo dài sau chiến tranh.

Bước ngoặt lịch sử diễn ra vào năm 1995 khi Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ và gia nhập ASEAN. Hai sự kiện này không chỉ mang ý nghĩa ngoại giao mà còn mở ra cánh cửa hội nhập kinh tế quốc tế cho đất nước.

Từ đó đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia, xây dựng 38 khuôn khổ quan hệ đối tác và tham gia hơn 70 tổ chức quốc tế, khu vực.

Trong lĩnh vực kinh tế, Việt Nam có quan hệ thương mại với khoảng 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, đồng thời tham gia 20 hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương. Những con số đó phản ánh sự chuyển mình mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam.

Năm 2025 ghi dấu mốc kỷ lục mới của thương mại Việt Nam khi tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt khoảng 930,06 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm 2024. Trong đó, xuất khẩu đạt 475,06 tỷ USD (tăng 17%) và nhập khẩu đạt 455,01 tỷ USD (tăng 19,4%), duy trì thặng dư cán cân thương mại ở mức 20,05 tỷ USD. Với quy mô thương mại này, Việt Nam đã trở thành một trong những nền kinh tế năng động và có độ mở cao nhất thế giới. 

Đáng chú ý hơn, chất lượng hội nhập cũng có sự thay đổi rõ rệt. Việt Nam không chỉ tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, UKVFTA hay RCEP mà còn từng bước nâng cao vai trò trong các cơ chế hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu.

Sau hơn 6 năm thực thi CPTPP, thương mại giữa Việt Nam và các nước thành viên đã tăng trưởng mạnh mẽ. Riêng năm 2024, kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và khối CPTPP đạt hơn 102 tỷ USD. 

Những thành quả đó cho thấy đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế của Việt Nam đã tạo ra không gian phát triển rộng lớn chưa từng có cho nền kinh tế.

Minh chứng cho sự thành công đó là biểu tượng hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ khi hai quốc gia từ cựu thù đã trở thành đối tác thương mại quan trọng.

Từ mức trao đổi thương mại hai nước chưa đến 500 triệu USD vào đầu những năm 1990, kim ngạch thương mại hai chiều đã tăng gần 300 lần, đưa Mỹ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam và Việt Nam trở thành một trong những đối tác thương mại quan trọng của Mỹ tại châu Á.

kinh-te-viet-nam1-1782965620.png
Mối quan hệ đặc biệt giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là minh chứng sống động cho hành trình vượt khó, vươn lên và hội nhập của đất nước ta; cũng là ví dụ tiêu biểu cho đường lối đối ngoại hiệu quả, sáng tạo, trí tuệ mà Đảng và Nhà nước đã đề ra trong hơn 30 năm qua (Ảnh: Vũ Ninh)

Nhìn lại quá trình hội nhập và làm bạn với thế giới Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ tịch Hội Việt Mỹ, Đại sứ Phạm Quang Vinh đánh giá: “Trong chiều dài lịch sử 30 bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ, cốt lõi và trụ cột nhất trong quan hệ chung giữa hai nước nói chung và kinh tế, thương mại nói riêng đó chính là lòng tin và chia sẻ lợi ích hai bên.

Dù trải qua rất nhiều thăng trầm, nhưng chính việc ngày càng chia sẻ lợi ích, ngày càng tăng cường xây dựng lòng tin đã tạo đà cho quan hệ song phương và giúp mối quan hệ ấy vượt qua rất nhiều thách thức.

Câu chuyện thương mại cũng vậy. Vì chính những thỏa thuận đạt được, như Hiệp định thương mại song phương Việt – Mỹ tháng 12/2001, Việt Nam tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007…, hai bên ngày càng tiến lại gần nhau, chia sẻ với nhau dựa trên sự hiểu biết và tin cậy.

30 năm bình thường hóa quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ cũng song hành với sự đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Việt Nam mở cửa, cải cách trong nước, mở rộng kinh tế, tăng cường vai trò của người dân, hội nhập nhiều hơn với thế giới... từ đó tạo ra năng lực mới cho Việt Nam về mặt kinh tế, cũng như thương mại để có thể hợp tác một cách nhiều hơn, đầy đủ hơn và có sức cạnh tranh hơn trên trường thế giới cũng như trong hoạt động thương mại với Hoa Kỳ.

Chính sự hiểu biết, xây dựng lòng tin, chia sẻ tầm nhìn và lợi ích là trụ cột trong quan hệ nói chung và quan hệ thương mại giữa hai nước Việt – Mỹ nói riêng”.

Trong khi đó, Nguyên Đại sứ Mỹ tại Việt Nam, ông Daniel Kritenbrink đánh giá cao các chính sách hội nhập của Việt Nam vào hệ thống quốc tế: “Tôi cho rằng Việt Nam ngày càng giữ vai trò thiết yếu và đang thực sự nằm ở trung tâm của các chuỗi cung ứng toàn cầu.

Khi nhìn lại 30 năm phát triển kinh tế của Việt Nam, tôi nghĩ không phải ngẫu nhiên mà những thành tựu kinh tế ấn tượng mà Việt Nam đạt được trong ba thập kỷ qua lại gắn liền với tiến bộ trong quan hệ song phương giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.

Tôi cho rằng các chính sách hội nhập của Việt Nam vào hệ thống quốc tế có liên hệ trực tiếp với chính sách Đổi Mới và chính sách bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ. Tôi rất tự hào rằng hoạt động thương mại giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã đóng góp rất lớn vào sự phát triển kinh tế của Việt Nam và giúp nâng cao vai trò quan trọng của Việt Nam trong các chuỗi cung ứng toàn cầu.

Tuy nhiên, tôi nghĩ chúng ta cần đặc biệt ghi nhận nỗ lực của các nhà lãnh đạo Việt Nam và cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, những người đã làm rất tốt công việc của mình, bao gồm cả việc thu hút đầu tư nước ngoài — một phần lớn đến từ Hoa Kỳ. Từ các chuỗi cung ứng đơn giản như dệt may, nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, đến các chuỗi cung ứng then chốt và tiến tới chuỗi cung ứng công nghệ cao liên quan đến chất bán dẫn. Những thành tựu của Việt Nam thực sự là đáng kinh ngạc. Đây chính là lý do tại sao Việt Nam hiện đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu”.

Quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ đang bước sang giai đoạn phát triển mới cũng là khi nền kinh tế của đất nước ta tham gia sâu rộng và khẳng định vị trí quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Từ những mặt hàng truyền thống như dệt may, da giày, thủy sản, đồ gỗ, Việt Nam ngày nay đã xuất khẩu sang Hoa Kỳ nhiều sản phẩm điện tử, linh kiện công nghệ cao, máy móc thiết bị và sản phẩm công nghiệp chế biến có giá trị lớn là lời khẳng định nền kinh tế đất nước ta đang cố gắng tham gia sâu rộng và khẳng định vị trí quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Sau khi nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện năm 2023, hợp tác kinh tế giữa Việt Nam – Hoa Kỳ không còn chỉ xoay quanh thương mại hàng hóa mà mở rộng sang các lĩnh vực chiến lược như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, công nghệ cao, năng lượng sạch và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Nhiều tập đoàn công nghệ hàng đầu như Intel, NVIDIA, Qualcomm, Apple, Google, Boeing, Amkor và Synopsys liên tục mở rộng hiện diện tại Việt Nam. 

Câu chuyện hợp tác kinh tế, thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ chỉ là một trong nhiều ví dụ minh chứng cho sự đúng đắn của đường lối ngoại giao kinh tế do Đảng và Nhà nước ta định hướng.

Đây không chỉ là thành công của quan hệ song phương mà còn là minh chứng sinh động cho hiệu quả của đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế của đất nước ta.

Từ một quốc gia từng chịu cấm vận kinh tế kéo dài, Việt Nam đã trở thành một trong những nguồn cung hàng hóa quan trọng của thị trường thị trường thế giới; có quan hệ hợp tác và làm ăn với với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có nhiều quốc gia từng là cựu thù.

Chính tinh thần vị tha, giàu lòng trắc ẩn của người Việt Nam cùng tư duy hội nhập đúng đắn đã giúp đất nước ta gỡ bỏ những gánh nặng định kiến hằn sâu trong quá khứ để trở thành một quốc gia năng động, một nền kinh tế giàu sức bật và hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài.

kinh-te-viet-nam2-1782965620.png
Việt Nam đang là điểm đến đầu tư với nhiều Tập đoàn, doanh nghiệp lớn trên thế giới

Cơ hội lịch sử và điểm nghẽn cần tháo gỡ

Thế giới đang trải qua quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng lớn nhất trong nhiều thập niên. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, tác động của đại dịch COVID-19, xung đột địa chính trị và yêu cầu bảo đảm an ninh kinh tế đã khiến nhiều tập đoàn đa quốc gia điều chỉnh chiến lược đầu tư. Xu hướng "China Plus One" đang trở thành lựa chọn phổ biến của nhiều doanh nghiệp toàn cầu.

Trong bối cảnh đó, Việt Nam nổi lên như một điểm đến hấp dẫn nhờ môi trường chính trị ổn định, vị trí địa chiến lược thuận lợi, lực lượng lao động trẻ và mạng lưới FTA rộng lớn. Samsung đã xây dựng Việt Nam thành cứ điểm sản xuất điện thoại thông minh lớn nhất thế giới; Intel đang vận hành cơ sở lắp ráp và kiểm định chip lớn nhất toàn cầu của tập đoàn tại Việt Nam; Amkor đầu tư nhà máy bán dẫn quy mô lớn tại Bắc Ninh; NVIDIA và nhiều tập đoàn công nghệ lớn đang gia tăng hợp tác trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo và trung tâm dữ liệu.

Lần đầu tiên trong lịch sử phát triển hiện đại, Việt Nam có cơ hội lớn để tham gia sâu vào chuỗi giá trị công nghệ cao toàn cầu. Đây là cơ hội mang tính lịch sử mà không phải giai đoạn nào cũng có được.

Tuy nhiên, cơ hội lớn đồng nghĩa với không ít thách thức đối với đường lối đối ngoại của Việt Nam nói chung và chính sách ngoại giao kinh tế nói riêng. Nền kinh tế Việt Nam vẫn đang đối mặt với không ít hạn chế khi hội nhập và chuyển mình từ quốc gia gia công, lắp ráp trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Những điểm nghẽn này đã được Đảng, Nhà nước và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thẳng thắn chỉ ra:

Thứ nhất, Điểm nghẽn về thể chế

Thể chế quản lý kinh tế được đánh giá là rào cản lớn nhất, làm chậm sự phát triển của doanh nghiệp. Cần khẩn trương xóa bỏ các quy định chồng chéo, rào cản hành chính để người dân và doanh nghiệp được tự do kinh doanh những gì pháp luật không cấm. 

Thứ hai, Đóng góp của khu vực kinh tế nhà nước còn hạn chế

Dù đóng vai trò chủ đạo, nhưng kinh tế nhà nước còn "yếu về công nghệ, quản trị và nhân lực". Tổng Bí thư yêu cầu các doanh nghiệp Nhà nước phải chuyển đổi tư duy, tập trung làm chủ công nghệ và vận hành dữ liệu, thay vì chỉ mạnh về vốn và tài sản.

Thứ ba, Tư duy quản lý cục bộ địa phương

Việc phân bổ nguồn lực và quy hoạch phát triển còn mang nặng tính cục bộ (theo địa giới hành chính, ngành và nhiệm kỳ), gây lãng phí và cản trở tính liên kết vùng. 

Thứ tư, Sức mạnh tổng thể của từng "tế bào"

Nền kinh tế chỉ thực sự mạnh khi từng mắt xích, từng doanh nghiệp (đặc biệt là kinh tế tư nhân) khỏe mạnh và được tạo điều kiện bình đẳng. 

Những điều này dẫn đến một thực tế là dù xuất khẩu tăng trưởng mạnh nhưng giá trị gia tăng thực sự giữ lại trong nền kinh tế chưa tương xứng với quy mô thương mại.

Tại Diễn đàn quốc gia về phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam lần thứ VI Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã từng trăn trở: “Việt Nam đứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu điện thoại di động thông minh, đứng thứ 5 thế giới về xuất khẩu linh kiện thế giới, đứng thứ 6 thế giới về xuất khẩu thiết bị máy tính, đứng thứ 7 thế giới về gia công phần mềm, đứng thứ 8 thế giới về thiết bị linh kiện điện tử. Đây là những con số có vẻ rất ấn tượng, hoành tráng, đáng tự hào nhưng thử hỏi, chúng ta đã bao giờ nhìn sâu vào bản chất những số liệu này chưa?

Thực tế, Việt Nam đóng góp được bao nhiêu phần trăm trong những giá trị xuất khẩu đó hay đang ở những phân khúc thấp nhất của chuỗi giá trị, chủ yếu là gia công cho nước ngoài. Một cái áo bán ra thì thiết kế, vải, lụa, chỉ, cúc đều của người khác thì thu nhập là bao nhiêu trên những sản phẩm này, có chăng đóng góp của chúng ta chỉ là công lao động và ô nhiễm môi trường. Số liệu trên được trích dẫn từ báo cáo của lãnh đạo về thành tích của ngành mình nhưng tôi tự hỏi đây có phải là sự ngộ nhận, hoặc tự huyễn, hoặc tự ru mình hay không?”.

kinh-te-viet-nam3-1782965620.png
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế, sự cấp thiết phải đầu tư cho khoa học,m công nghệ

Trong thời gian dài, mô hình tăng trưởng của Việt Nam dựa nhiều vào lao động giá rẻ, vốn đầu tư và khai thác lợi thế chi phí. Mô hình này đã tạo ra tốc độ tăng trưởng cao nhưng cũng khiến nền kinh tế phụ thuộc khá lớn vào khu vực FDI.

Trong khi đó đầu tư cho khoa học công nghệ, nghiên cứu phát triển và đổi mới sáng tạo chưa tương xứng với yêu cầu phát triển mới. Hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ phát triển chậm. Công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao chưa theo kịp nhu cầu của nền kinh tế số. Năng lực quản trị của nhiều doanh nghiệp trong nước còn hạn chế khi tham gia cạnh tranh quốc tế.

Do vậy, nhiệm vụ bức thiết của Việt Nam là phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng, không thể dựa mãi vào là nền kinh tế gia công. Nói cách khác, Việt Nam cần chuyển từ vai trò "nơi sản xuất" sang vai trò "nơi sáng tạo giá trị".

Việt Nam muốn trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, nền kinh tế cần phải tham gia những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu như nghiên cứu, thiết kế, phát triển công nghệ, sản xuất linh kiện cốt lõi và xây dựng thương hiệu quốc tế.

Đây không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là điều kiện sống còn để Việt Nam tránh rơi vào bẫy thu nhập trung bình.

Nâng tầm vị thế ngoại giao kinh tế Việt Nam trên trường quốc tế

Những thành tựu đạt được trong hơn ba thập niên hội nhập quốc tế cho thấy ngoại giao kinh tế không chỉ là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới mà đã trở thành một trong những động lực trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và mở rộng không gian phát triển đất nước.

Bước vào giai đoạn phát triển mới, khi mục tiêu đến năm 2045 là đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao, yêu cầu đặt ra đối với công tác đối ngoại và ngoại giao kinh tế không chỉ là tiếp tục mở rộng quan hệ quốc tế mà còn phải chủ động kiến tạo các điều kiện thuận lợi để đất nước chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và nâng cao vị thế quốc gia.

Thứ nhất, ngoại giao kinh tế phải là lực lượng tiên phong mở rộng không gian phát triển quốc gia

Nghị quyết 59-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó đối ngoại và hội nhập quốc tế phải phục vụ trực tiếp các mục tiêu phát triển đất nước.

Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng và chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc mạnh mẽ, hệ thống cơ quan đối ngoại cần phát huy vai trò là “tai mắt chiến lược” của đất nước, chủ động nghiên cứu, dự báo các xu hướng kinh tế, công nghệ và thương mại quốc tế để tham mưu cho Đảng và Nhà nước những quyết sách kịp thời.

Ngoại giao kinh tế không chỉ dừng lại ở việc xúc tiến thương mại hay thu hút đầu tư mà cần chuyển sang giai đoạn cao hơn là tìm kiếm các cơ hội phát triển mới cho đất nước, mở rộng các thị trường tiềm năng, kết nối các trung tâm tài chính, khoa học công nghệ hàng đầu thế giới với Việt Nam, đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển.

Đây cũng là tinh thần chỉ đạo xuyên suốt của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khi nhấn mạnh yêu cầu phát huy cao nhất nội lực, đồng thời tranh thủ hiệu quả ngoại lực để tạo động lực phát triển nhanh và bền vững.

Thứ hai, ngoại giao giáo dục và khoa học công nghệ là đột phá chiến lược phục vụ chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế

Một trong những điểm mới nổi bật trong Văn kiện Đại hội XIV là xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính của tăng trưởng.

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi cấu trúc kinh tế toàn cầu, ngoại giao kinh tế cần gắn chặt với ngoại giao khoa học công nghệ, đưa việc tiếp cận tri thức, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành một trọng tâm trong hoạt động đối ngoại.

Việt Nam cần tận dụng các khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với các cường quốc công nghệ để thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học, năng lượng mới và chuyển đổi số.

Các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cần đóng vai trò cầu nối thu hút các trung tâm nghiên cứu, các tập đoàn công nghệ và mạng lưới chuyên gia quốc tế tham gia vào quá trình đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.

Nếu trong giai đoạn trước, ngoại giao kinh tế tập trung vào thu hút vốn đầu tư thì trong giai đoạn mới, mục tiêu phải là thu hút tri thức, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Thứ ba, ngoại giao có nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực chiến lược cho đất nước

Đại hội XIV xác định chuyển đổi số, kinh tế số và các ngành công nghệ cao sẽ là động lực tăng trưởng chủ yếu trong thời gian tới.

Điều đó đồng nghĩa với việc Việt Nam phải nhanh chóng giải quyết bài toán thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực bán dẫn, AI, công nghệ số, năng lượng sạch và công nghệ chiến lược.

Ngoại giao kinh tế cần trở thành công cụ quan trọng để thúc đẩy hợp tác đào tạo quốc tế, mở rộng các chương trình liên kết giữa các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp Việt Nam với các trung tâm đào tạo hàng đầu thế giới.

Song song với đó là chính sách thu hút chuyên gia, nhà khoa học và trí thức Việt Nam ở nước ngoài tham gia vào các chương trình phát triển khoa học công nghệ quốc gia.

Đây chính là việc hiện thực hóa quan điểm của Tổng Bí thư Tô Lâm về phát huy vai trò đội ngũ trí thức như một nguồn lực đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển đất nước trong thời kỳ mới.

Thứ tư, lấy ngoại giao kinh tế là ‘thỏi nam châm’ để thu hút đầu tư nước ngoài

Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã thành công trong thu hút vốn FDI, nhưng thách thức hiện nay không còn là thu hút đầu tư bằng mọi giá mà là lựa chọn những dòng vốn chất lượng cao có khả năng tạo ra giá trị gia tăng lớn và thúc đẩy chuyển giao công nghệ.

Ngoại giao kinh tế cần tập trung vào việc thu hút các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới, các trung tâm nghiên cứu phát triển và các dự án thuộc lĩnh vực công nghệ chiến lược.

Mục tiêu không chỉ là đưa nhà máy đến Việt Nam mà còn từng bước đưa các hoạt động nghiên cứu, thiết kế sản phẩm, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo đến Việt Nam.

Đây là bước chuyển có ý nghĩa quyết định để Việt Nam chuyển từ vị thế “công xưởng sản xuất” sang vị thế “trung tâm sáng tạo giá trị” trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Thứ năm, tận dụng hiệu quả các FTA thế hệ mới để mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia

Sau nhiều năm hội nhập, Việt Nam đã hình thành một trong những mạng lưới FTA rộng lớn nhất thế giới.

Tuy nhiên, lợi ích từ các FTA không chỉ nằm ở việc cắt giảm thuế quan mà còn ở khả năng tiếp cận các tiêu chuẩn tiên tiến về quản trị, môi trường, lao động, công nghệ và chuyển đổi số.

Ngoại giao kinh tế cần tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng hiệu quả các cam kết hội nhập, đồng thời chủ động tham gia xây dựng các cơ chế hợp tác kinh tế mới của khu vực và thế giới.

Trong bối cảnh kinh tế số, kinh tế xanh và chuyển đổi năng lượng đang trở thành xu thế toàn cầu, Việt Nam cần tham gia từ sớm vào quá trình xây dựng các quy tắc mới của thương mại quốc tế để bảo đảm lợi ích quốc gia và duy trì khả năng cạnh tranh lâu dài.

Thứ sáu, kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa để bảo đảm môi trường hòa bình cho phát triển

Kinh nghiệm hơn 40 năm đổi mới cho thấy không có phát triển kinh tế bền vững nếu thiếu môi trường hòa bình, ổn định.

Nghị quyết 59-NQ/TW tiếp tục khẳng định yêu cầu xây dựng nền đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị ngày càng phức tạp, việc giữ vững thế cân bằng trong quan hệ với các nước lớn, duy trì môi trường đối ngoại thuận lợi, bảo đảm các lợi ích kinh tế chiến lược và bảo vệ không gian phát triển của đất nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Đây không chỉ là yêu cầu đối với ngành đối ngoại mà còn là điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng mà Đại hội XIV đã xác định.

Thứ bảy, ngoại giao tích cực quảng bá hình ảnh và chất lượng của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đến thế giới

Đại hội XIV xác định kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Vì vậy, ngoại giao kinh tế không chỉ phục vụ thu hút đầu tư nước ngoài mà còn phải đồng hành cùng doanh nghiệp Việt Nam mở rộng đầu tư ra nước ngoài, xây dựng thương hiệu quốc gia, tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng và thị trường quốc tế.

kinh-te-viet-nam4-1782965620.png
Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Việt Nam muốn thể hiện với bạn bè thế giới là một quốc gia tin cậy, kiến tạo hòa Bình và ổn định khu vực (Ảnh: Vũ Ninh)

Ngày nay, Việt Nam đang trở thành điểm đến của nhiều tập đoàn, doanh nghiệp hàng đầu từ khắp nơi trên thế giới.

Hành trình 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế, từ một quốc gia bị cấm vận nguồn lực hạn chế và đứng bên lề các dòng chảy thương mại quốc tế, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế có độ mở hàng đầu thế giới, là đối tác tin cậy của nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế và các tập đoàn kinh tế hàng đầu toàn cầu.

Những thành tựu đó khẳng định tính đúng đắn của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng mà Đảng ta đã kiên định thực hiện trong suốt quá trình đổi mới. Đồng thời, đó cũng là minh chứng sinh động cho vai trò ngày càng quan trọng của ngoại giao kinh tế trong việc mở rộng không gian phát triển, huy động nguồn lực bên ngoài và nâng cao vị thế quốc gia.

Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, sự dịch chuyển của chuỗi cung ứng toàn cầu và cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ, mục tiêu của Việt Nam không còn dừng lại ở việc hội nhập để phát triển, mà phải vươn lên tham gia kiến tạo các chuỗi giá trị mới, làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh và từng bước khẳng định vai trò trong cấu trúc kinh tế thế giới đang định hình lại.

Với khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; với quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Đại hội XIV của Đảng đã đề ra; cùng việc phát huy sức mạnh tổng hợp của dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại, ngoại giao kinh tế sẽ tiếp tục là một trong những mũi nhọn chiến lược, góp phần đưa Việt Nam chuyển đổi thành công mô hình tăng trưởng, bứt phá về năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh, từng bước hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045, sánh vai cùng các quốc gia phát triển trên thế giới.

Tài liệu tham khảo:

https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang-119260206221643667.htm

https://thanhtra.com.vn/doi-noi-52FA82FBF/tong-bi-thu-to-lam-xoa-bo-moi-dinh-kien-ve-kinh-te-tu-nhan-xay-dung-tu-duy-lam-an-lon-1cdf2459d.html

https://vjst.vn/tong-bi-thu-to-lam-kinh-te-nha-nuoc-phai-manh-ve-cong-nghe-quan-tri-va-nhan-luc-trong-ky-nguyen-moi-82749.html

https://plo.vn/tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-nen-kinh-te-chi-thuc-su-manh-khi-tung-te-bao-cua-no-khoe-manh-post903968.html

https://tienphong.vn/bai-viet-cua-tong-bi-thu-to-lam-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-don-bay-cho-mot-viet-nam-thinh-vuong-post1725769.tpo

https://cafef.vn/tong-bi-thu-to-lam-viet-nam-dung-thu-2-the-gioi-xuat-khau-dien-thoai-thong-minh-thu-5-ve-xuat-khau-linh-kien-may-tinh-lieu-day-co-phai-ngo-nhan-tu-huyen-tu-ru-minh-khong-188250115172622138.chn