Ban Tuyên huấn khu V Anh hùng: Phần I - Ban Tuyên huấn Khu V hình thành và phát triển trên chiến trường chống Mỹ, cứu nước

Quá trình hình thành và phát triển của Ban Tuyên huấn Khu ủy Khu V trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giải phóng miền Nam thống nhất đất nước 1954 - 1975
ho-quoc-phuong-1641568132.jpg

Ảnh từ phải sang trái: Đ/c Hồ Quốc Phương - Phó ban THKV làm việc với đ/c Mười Nguyên - Thường vụ Khu ủy V

 

 

I. Bối cảnh lịch sử và tình hình chính trị ở Liên khu V trong những năm chống Mỹ, cứu nước

Sau Hiệp định Geneve về đình chiến cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam được ký kết (tháng 7 năm 1954), nước ta tạm thời bị phân chia làm hai miền Bắc - Nam, từ vĩ tuyến 17 lấy sông Bến Hải làm ranh giới. Miền Nam tạm thời do quân đội Pháp quản lý để đến hai năm sau sẽ thực hiện tổng tuyển cử bầu ra chính phủ thống nhất của Việt Nam.

Trong bối cảnh đất nước ta tạm thời chia cắt làm hai miền Bắc - Nam, đế quốc Mỹ có mưu đồ thôn tính Việt Nam, Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm về miền Nam lập lên một chính phủ bù nhìn do Ngô Đình Diệm làm Tổng thống, tuyên bố không thi hành Hiệp định Geneve, Ngô Đình Diệm lập ra quốc sách trả thù bắt tù đày, chém giết những người kháng chiến chống thực dân Pháp trước đây, nhất là những tổ chức và cán bộ đảng viên của Đảng Cộng Sản. Tình hình chính trị tư tưởng ở Liên khu V lúc này rất khó khăn, phức tạp.

Tháng 4 năm 1955, Trung ương Đảng có chủ trương chuyển các tỉnh từ vĩ tuyến 17 (nửa tỉnh Quảng Trị) và tỉnh Thừa Thiên Huế về Liên khu V. Lúc này, Liên khu V trở thành một chiến trường rộng lớn từ vĩ tuyến 17 vào đến miền đông nam bộ, bao gồm 14 tỉnh, được phân chia thành 4 liên khu:

-   Liên khu I: Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam - Đà Nẵng

-   Liên khu II: Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên.

-   Liên khu III: Khánh Hòa, Ninh Thuận, BÌnh Thuận, Lâm Viên, Đồng Nai Thượng.

-   Liên khu IV: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc

Sau Hiệp định Geneve, cán bộ Liên khu V phần lớn tập kết ra miền Bắc, lúc này cơ quan Liên khu ủy chỉ còn lại 15 đồng chí, do đồng chí Trần Lương làm bí thư, đồng chí Võ Toàn (tức đồng chí Võ Chí Công) làm phó bí thư, còn một số đồng chí cán bộ làm cơ yếu, điện đài, bảo vệ.

Từ những năm 1954 - 1959, theo chủ trương của Trung ương, ở miền Nam lãnh đạo nhân dân căn cứ vào các điều khoản trong Hiệp định Geneve đấu tranh buộc địch phải thực hiện, trong khi đó Mỹ và chính quyền ngụy Sài Gòn không chấp nhận Hiệp định Geneve, do đó chúng đã tăng cường khủng bố, đàn áp bắn giết các cuộc biểu tình của nhân dân vô cùng dã man, điển hình như cuộc đàn áp bắn giết hàng trăm người ở Chợ Được, Cây Cốc, Vĩnh Trinh ở tỉnh Quảng Nam, Ngân Sơn, Chí Thạnh ở Phú Yên. Tình hình tư tưởng trong nhân dân và lực lượng cách mạng lúc này rơi vào trạng thái hoang mang trầm trọng.

Trước tình hình khó khăn phức tạp của Cách mạng miền Nam, tháng 1 năm 1959, Trung ương Đảng đã đề ra Nghị quyết 15, vạch ra đường lối cách mạng ở miền Nam tiến hành đấu tranh chính trị kết hợp vũ trang và binh vận, xây dựng lực lượng cách mạng đẩy mạnh cuộc chiến đấu chống Mỹ, tạo ra một bước ngoặt quan trọng cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước để giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

II. Ban Tuyên huấn Khu ủy Khu V được thành lập, là cơ quan tham mưu về tư tưởng cho Khu ủy trên mặt trận tư tưởng tại chiến trường chống Mỹ Khu V

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cho đến thời kỳ chống Mỹ, Liên Khu ủy Khu V luôn xác định công tác tư tưởng có vai trò mở đường cho các lĩnh vực của sự nghiệp cách mạng qua từng giai đoạn do Đảng lãnh đạo. Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Liên khu ủy Khu V đã phân công đồng chí Trần Tống, Thường vụ Liên Khu ủy làm Trưởng Ban Tuyên huấn.

Năm 1960, sau khi có Nghị quyết 15 của Trung ương về đường lối cách mạng ở miền Nam, tháng 5 năm 1960 tại bờ sông Nước Là thuộc huyện Trà My, Quảng Nam, Khu ủy Khu V quyết định thành lập Ban Tuyên huấn Khu ủy. Đây là một ban tham mưu về chính trị tư tưởng cho Khu ủy được thành lập đầu tiên, tiếp theo là Ban Quân sự khu, sau này là Quân khu V.

Ban Tuyên huấn Khu ủy Khu V được thành lập, Thường vụ Khu ủy phân công đồng chí Trương Chí Cương (Tư Thuận), phó bí thư Khu ủy làm Trưởng ban. Đồng chí Hồ Dưỡng (Hồ Quốc Phương), cán bộ cao cấp từ Báo Nhân Dân cùng các đồng chí Trương Công Huấn, Trần Thịnh, Võ Thế Ái từ miền Bắc vào năm 1959. Thường vụ Khu ủy phân công đồng chí Hồ Dưỡng và đồng chí Trương Công Huấn làm Phó Trưởng Ban Tuyên huấn khu. Khi mới thành lập, Ban Tuyên huấn Khu ủy chỉ có 3 đồng chí lãnh đạo, hai đồng chí cán bộ, đó là đồng chí Trần Thịnh được phân công giúp đồng chí Trường Công Huấn xây dựng kế hoạch hình thành tiểu ban huấn học và trường Đảng, Trường Tuyên huấn để nhanh chóng bồi dưỡng, đào tạo cán bộ. Đồng chí Võ Thế Ái chuyên trách công tác thông tấn xã, theo dõi, nắm bắt tin tức tổng hợp để cung cấp cho lãnh đạo khu. Đồng chí Hồ Dưỡng vừa thường trực, vừa xây dựng kế hoạch để sớm hình thành các tiểu ban thuộc khối tuyên truyền, báo chí, thông tấn văn nghệ. Được miền Bắc chi viện cán bộ, lãnh đạo Ban Tuyên huấn Khu ủy Khu V lần lượt được bổ sung đồng chí Trần Tâm, Phạm Nhớ làm phó ban, Ủy viên Ban gồm có các đồng chí Quách Xân, Nguyễn Trực, Trần Phát, Trần Thịnh, Trương Thanh Hà, Tân Trịnh, Hoàng Minh Hiệu, Vương Linh, Nguyễn Như Cân. Ban Tuyên huấn Khu V lúc này có mật danh là "Làng tuyên".

Sau khi thành lập Ban Tuyên huấn Khu ủy V (5 - 1960) đến nửa năm 1963, các binh chủng tư tưởng và các bộ phận phụ trợ như nhà in, đài minh ngữ, hậu cần cơ bản đã hình thành với số lượng cán bộ, nhân viên trên 600 người.

Các đồng chí lãnh đạo Ban Tuyên huấn Khu ủy được phân công phụ trách các tiểu ban chuyên môn và các bộ phận hậu cần của Ban gồm có:

- Đồng chí Trương Chí Cương - Phó Bí thư Khu ủy, Trưởng ban lãnh đạo chung. Đến 1967, đồng chí Lê Trọng Khoan (Lê Sâm) Khu ủy viên, Chánh văn phòng Khu ủy về làm Trưởng Ban Tuyên huấn Khu V thay đồng chí Trường Chí Cương. Thời kỳ này đồng chí Nguyễn Xuân Hữu (Bảy Hữu) - Thường vụ Khu ủy phụ trách Ban Tuyên huấn Khu ủy.

- Đồng chí Hồ Dưỡng (Hồ Quốc Phương) - Phó ban Thường trực Ban Tuyên huấn khu, phụ trách các tiểu ban, báo chí, thông tấn xã, văn nghệ, điện ảnh, giáo dục.

- Đồng chí Trương Công Huấn - Phó Ban phụ trách Tiểu ban Huấn học, Trường Tuyên huấn.

- Đồng chí Trần Tâm - Phó ban phụ trách Trường Đảng Khu.

- Đồng chí Phạm Nhớ - Phó ban phụ trách Tiểu ban Tuyên truyền, sau đó được điều về làm Phó Bí thư tỉnh Kon Tum, đến năm 1969 về lại Ban Tuyên huấn Khu.

- Đồng chí Trần Thịnh, Ủy viên Ban, phụ trách Tiểu ban Huấn học.

- Đồng chí Vương Linh, Ủy viên Ban, phụ trách Tiểu ban Văn nghệ.

- Đồng chí Hoàng Minh Hiệu, Ủy viên Ban, phụ trách Tiểu ban Giáo dục.

- Đồng chí Nguyễn Như Cân, Ủy viên Ban, phụ trách công tác đào tạo cán bộ miền núi.

- Đồng chí Trương Thanh Hà, Ủy viên Ban, phụ trách Chánh văn phòng Ban và các bộ phận hậu cần.

Các đồng chí ủy viên Ban: Quách Xân, Nguyễn Trực, Tân Trịnh, được điều đi công tác khác, đồng chí Trần Phát được ra miền Bắc chữa bệnh.

Các đồng chí cán bộ được Ban Tuyên huấn Khu ủy phân công phụ trách các bộ phận chuyên môn gồm có:

- Đồng chí Lê Nam Bằng phụ trách Báo Cờ Giải phóng Trung Trung Bộ, đến cuối 1966 được cho ra miền Bắc chữa bệnh. Đồng chí Đặng Minh Phương thay đồng chí Lê Nam Bằng phụ trách, đến cuối năm 1973 đồng chí Đặng Minh Phương được cho ra Bắc chữa bệnh, đồng chí Nguyễn Văn Nhị thay thế phụ trách cho đến ngày giải phóng miền Nam.

- Đồng chí Lê Minh Hoài phụ trách Nội san Tiền Phong, Tạp chí Lý Luận Chính Trị của Khu ủy. Cuối năm 1972, đồng chí Minh Hoài được cho ra Bắc chữa bệnh, đồng chí Nguyễn Kim Tuấn từ Tiểu ban Huấn học được điều sang phụ trách cho đến ngày kết thúc chiến tranh, giải phóng miền Nam.

- Đồng chí Trần Chiến Thắng phụ trách Tiểu ban Tuyên truyền. Đến 1965, đồng chí Chiến Thắng được cho ra miền Bắc chữa bệnh, đồng chí Hoàng Trọng, người Quảng Ngãi, được điều từ Trường Đảng sang phụ trách. Đến năm 1973, đồng chí Hoàng Trọng được cho ra Bắc chữa bệnh, đồng chí Hoài Nam thay phụ trách cho đến ngày giải phóng miền Nam.

- Đồng chí Võ Thế Ái phụ trách Thông tấn xã Trung Trung Bộ, đến năm 1972 đồng chí Võ Thế Ái ra Bắc chữa bệnh, đồng chí Vũ Đảo thay đồng chí Võ Thế Ái phụ trách. Năm 1973 đồng chí Vũ Đảo ra Bắc chữa bệnh, đồng chí Phạm Việt Long thay đồng chí Vũ Đảo phụ trách cho đến ngày kết thúc chiến tranh 1975.

- Đồng chí Nam Sơn phụ trách Tiểu ban Điện ảnh.

- Đồng chí Trương Thanh Hà phụ trách Nhà in. Năm 1971 đồng chí Thanh Hà được điều về làm Chánh Văn phòng Ban Tuyên huấn Khu V, đồng chí Võ Ngọc Mai phụ trách Nhà in. Sau đó đồng chí Ngọc Mai hy sinh, đồng chí Lê Thức Cảnh phụ trách Nhà in cho đến ngày giải phóng.

- Đồng chí Nguyễn Hồng Sinh phụ trách Đài minh ngữ.

- Đồng chí Nguyễn Văn Lào phụ trách Đoàn văn công.

- Đầu 1974 có thêm đoàn phóng viên của Đài Phát thanh giải phóng Hà Nội vào Khu V.

Tình hình trên chiến trường chống Mỹ ở miền Nam nói chung, Liên khu V nói riêng diễn biến rất gay go, phức tạp. Để sự lãnh đạo và chỉ đạo kịp thời với mọi diễn biến trên chiến trường, đầu năm 1964, đồng chí Võ Chí Công - Phó Bí thư Trung ương Cục được Trung ương điều về làm Bí thư Khu ủy Khu V thay đồng chí Nguyễn Đôn, Bí thư được điều đi công tác khác. Cũng vào thời điểm này Trung ương Đảng quyết định tách một phần tỉnh Quảng Trị từ Nam cầu Hiền Lương với tỉnh Thừa Thiên Huế không trực thuộc Khu ủy Liên khu V để trực thuộc sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, tách các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Viên, Đồng Nai Thượng thành lập Khu VI, trực thuộc Trung ương Cục Miền Nam. Khu V lúc này còn lại các tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa và ba tỉnh Tây Nguyên là Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc trực thuộc sự chỉ đạo của Bộ Chính trị Trung ương Đảng.

III. Vai trò tham mưu chính trị tư tưởng cho Khu ủy Khu V của Ban Tuyên huấn Khu V trên mặt trận tư tưởng ở chiến trường chống Mỹ giải phóng miền Nam

Ban Tuyên huấn Khu ủy Khu V được thành lập trong bối cảnh cuộc chiến tranh "đặc biệt" ở miền Nam lúc này chính quyền Ngô Đình Diệm đặt ra những thủ đoạn trả thù những người dân yêu nước khốc liệt và tàn bạo nhất. Chúng còn đề ra Luật 10/59 đặt Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, thẳng tay đàn áp bắn giết người yêu nước. Ở thành phố chúng lập ra tổ chức hành chính tổ, khóm từng đường phố để theo dõi thanh lọc tư tưởng từng người dân, ở nông thôn lập ra ấp chiến lược (khu dồn dân) tất cả nhằm mục đích khống chế tinh thần yêu nước của nhân dân, tách nhân dân không thể có cơ hội để liên hệ với cách mạng. Ngoài việc tìm diệt, bắt bớ tù đày chém giết những đảng viên của Đảng và những người dân yêu nước, chúng còn sử dụng công cụ truyền thông tuyên truyền, rêu rao sức mạnh của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, xuyên tạc bịa đặt chế độ xã hội ở miền Bắc là tàn ác với dân, để dân đói nghèo, kham khổ, Việt Cộng ở miền Nam đang tan rã .v.v... Các tầng lớp nhân dân ở miền Nam nói chung, Khu V nói riêng phải sống trong tình cảnh "chim lồng cá chậu", họ phải cam chịu tuân thủ làm theo mọi qui định chống lại cách mạng của địch để giữ lấy mạng sống!. Dù nắm rõ nguyên lý công tác chính trị, tư tưởng đối tượng là con người, chủ trương, đường lối của cách mạng phải tác động vào lòng dân mới tạo nên động lực để trở thành phong trào cách mạng, nhưng trong thực tế chiến trường chống Mỹ - ngụy ở Khu V lúc này đặt ra cho công tác chính trị tư tưởng phương pháp nào để vượt qua được rào cản, thủ đoạn kìm kẹp của địch để cách mạng tiếp cận được với nhân dân.

Có một thực tế đã diễn ra nhiều nơi cán bộ cách mạng lặn lội ở vùng trắng dân chờ cơ hội có dân từ khu dồn ra ruộng, vườn để tiếp cận,bị dân bỏ chạy, có người còn tri hô, khai báo với địch thấy "Việt Cộng". Có những trường hợp người thân trong gia đình thấy con em mình là cán bộ cách mạng cũng không dám tiếp cận. Tình trạng này đã có nhiều cán bộ tư tưởng trên chiến tường đã bị bắt hoặc hy sinh không ít.

Trước tình hình đó, Ban Tuyên huấn Khu ủy đã tham mưu cho Thường vụ Khu ủy tổ chức cuộc hội nghị về tư tưởng để triển khai tinh thần Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng và bàn biện pháp phá thế kìm kẹp, dồn dân của địch. Hội nghị diễn ra vào tháng 9 năm 1963 tại căn cứ huyện Trà My,tỉnh Quảng Nam có 200 đại biểu các tỉnh Khu V về dự.

Tại Hội nghị này, Ban Tuyên huấn Khu V có bản báo cáo đánh giá nhận định về tình hình tư tưởng của các tầng lớp nhân dân và lực lượng cách mạng trong toàn Khu. Bản báo cáo có nội dung nêu lên: ... Trong thế nhân dân bị địch kìm kẹp, khống chế tinh thần để nhân dân không dám tiếp xúc với cách mạng, nhưng lòng dân, nhất là lớp người đã trải qua cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, vẫn có niềm tin ở cách mạng, họ sẽ là lực lượng nòng cốt nếu được tiếp xúc với cán bộ cách mạng, hiểu được đường lối, phương hướng cách mạng của Đảng ở miền Nam, thì đó sẽ là yếu tố tạo nên vết dầu loang đến được với nhân dân. Đại bộ phận nhân dân bị địch kìm kẹp, bề ngoài trong thế im lặng, nhưng trong lòng dân vẫn tin ở cách mạng, căm ghét quân xâm lược và chế độ ngụy quyền Sài Gòn.

Công tác chính trị tư tưởng lúc này là cán bộ cách mạng phải có niềm tin ở tinh thần yêu nước của nhân dân, phải dũng cảm vượt qua mọi thử thách để tiếp cận với nhân dân, xây dựng cơ sở nòng cốt để tuyên truyền tinh thần Nghị quyết 15 của Trung ương đến nhân dân, khơi dậy truyền thống yêu nước, ý chí cách mạng trong nhân dân để tạo nên phong trào cách mạng quyết tâm chống lại quân thù để giải phóng quê hương. (Nguồn tư liệu trong sách "Văn phòng Liên Khu ủy Khu V từ 1945 - 1975)

Vào tháng 8-1959, sự kiện nhân dân huyện Trà Bồng tỉnh Quảng Ngãi khởi nghĩa giành chính quyền tiếp thêm niềm tin ở tinh thần yêu nước hướng về cách mạng của nhân dân đã được khai thông trong nhận thức của cán bộ, đội quân cán bộ tư tưởng, từ đó đã sẵn sàng tiến ra phía trước, tiếp cận từng khu bị địch dồn dân, vùng ven đô thị để tìm cách tiếp xúc với nhân dân, tuyên truyền, xây dựng cơ sở cách mạng, kết hợp với lực lượng vũ trang ở địa phương, đã tạo nên phong trào nổi dậy phá ấp chiến lược trở về với quê hương ruộng, vườn. Phong trào này đã lan tỏa khắp nơi. Đến cuối 1964, toàn Khu V đã phá 2.100 ấp chiến lược trên 2.700 ấp địch đã lập ra, giải phóng và giành quyền làm chủ cho 2.580.000 dân.

Tháng 3 năm 1965, quân Mỹ đổ bộ vào miền Nam, bắt đầu từ thành phố Đà Nẵng, mở đầu cuộc chiến tranh "cục bộ" ở miền Nam. Chiến sự diễn ra vô cùng ác liệt, căn cứ cách mạng bị đánh phá dữ dội, lực lượng cách mạng bị tổn thất. Tư tưởng sợ Mỹ mạnh, có vũ khí hiện đại đang chiếm ưu thế ở chiến trường đã xuất hiện không chỉ trong các tầng lớp nhân dân mà ngay trong lực lượng cách mạng. Trước tình hình đó, lãnh đạo Ban Tuyên huấn Khu ủy đã tập hợp, nhận định tư tưởng sợ Mỹ mạnh không chỉ riêng lẻ ở những vùng có chiến sự diễn ra mà đã thành phổ biến trong toàn Khu V, mặc dù khi Mỹ đổ quân vào Đà Nẵng đã diễn ra những trận đánh Mỹ của bộ đội địa phương huyện Hòa Vang và tỉnh Quảng Nam, điển hình là trận diệt một đại đội Mỹ ở Núi Thành, tỉnh Quảng Nam ngày 26-5-1965.

Tháng 7 năm 1965, Ban Tuyên huấn Khu V đã tham mưu cho Thường vụ Khu ủy ra Nghị quyết "chống tư tưởng hữu khuynh sợ Mỹ", phát động cuộc chiến tranh nhân dân tìm cách đánh Mỹ. Nghị quyết đã được tổ chức triển khai đến tận cơ sở, từ đó đã tạo nên phong trào "Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt" trên chiến trường Khu V. Để mở rộng mặt trận chống Mỹ, Ban Tuyên huấn Khu đã tham mưu cho Khu ủy mở đại hội văn nghệ toàn Khu nhằm tập hợp văn nghệ sĩ trong vùng địch kiểm soát và văn nghệ sĩ là người dân tộc, đại hội tổ chức tại căn cứ huyện Trà My, Quảng Nam, có trên 200 người về dự từ ngày 1 - 10/10/1967. Sau khi Hiệp định Pari về cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam được ký kết ngày 27/1/1973, quân Mỹ đã lần lượt rút quân ra khỏi miền Nam, chiến trường ở miền Nam bước vào giai đoạn "Việt Nam hóa cuộc chiến tranh", trên chiến trường quân ngụy đã xuất hiện hoang mang vì thất bại nặng nề ở nhiều mặt trận với quân giải phóng, Trung ương Đảng đã nhận định cục diện trên chiến trường đã xuất hiện thời cơ giải phóng miền Nam ngày càng rõ.

Ban Tuyên huấn Khu ủy đã tham mưu cho Thường vụ Khu ủy V cần phải khẩn trương đào tạo bồi dưỡng một đội ngũ cán bộ để tiếp quản, quản lý, xây dựng chính quyền cách mạng ở đô thị và nông thôn khi đã được giải phóng. Được Thường vụ Khu ủy chấp nhận, Ban Tuyên huấn đã chuẩn bị nội dung chương trình và cơ sở vật chất, đầu năm 1974 trường được thành lập tại căn cứ huyện Trà My, tỉnh Quảng Nam, có mật danh "T74". Học viên của trường là cán bộ từ cơ sở các tỉnh trong Khu đưa về học, một khóa học hai tháng, số lượng học viên trên 200 người một khóa học. Trường liên tục mở lớp cho đến tháng 3 năm 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh mở ra mới chấm dứt, trường đã đào tạo gần 2.000 cán bộ cho cơ sở các tỉnh, huyện trong Khu.

Đội ngũ cán bộ được học về phương pháp phát động tư tưởng cho quần chúng, nắm vững chính sách hòa hợp dân tộc của Đảng, phương pháp tiếp quản, quản lý, thiết lập chính quyền cách mạng, quản lý trật tự an ninh, giải quyết hậu quả chiến tranh v.v...

Nhờ có sự tham mưu kịp thời với Khu ủy, Trường "T74" đã đào tạo được một đội ngũ cán bộ chuẩn bị cho phong trào giải phóng được mở ra cho các địa phương để lãnh đạo quản lý, thiết lập chính quyền cách mạng, giữ vững an ninh trật tự diễn ra nhanh chóng ở chiến trường Khu V.

Đội quân chính trị tư tưởng của Khu V trong chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 để giải phóng miền Nam, đã bám sát từng mũi tiến công của quân giải phóng, phối hợp với cán bộ các địa phương giải phóng đến đâu, tiếp quản thiết lập chính quyền đến đó. Ngay từ ngày đầu giải phóng các thành phố lớn như Đà Nẵng, Qui Nhơn, Nha Trang v.v... Các cơ sở truyền thông như đài phát thanh, nha thông tin của địch đã được tiếp quản truyền đi mệnh lệnh của Ủy ban quân quản cách mạng và các chính sách hòa hợp dân tộc của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, nhờ đó ở Khu V sau ngày giải phóng từ thành thị đến nông thôn an ninh trật tự nhanh chóng được ổn định, không xảy ra việc trả thù cá nhân do tội ác của những kẻ ác ôn ở các nơi gây ra cho nhân dân.

IV. Ban Tuyên huấn Khu ủy Khu V lãnh đạo tổ chức các binh chủng tác chiến trên mặt trận tư tưởng tại chiến trường chống Mỹ giải phóng miền Nam

Khi mới thành lập Ban Tuyên huấn Khu ủy, Thường vụ Khu ủy giao nhiệm vụ cho Ban Tuyên huấn ngoài chức năng tham mưu còn lãnh đạo, quản lý các cơ quan chuyên môn thuộc khối tuyên giáo bao gồm: huấn học, tuyên truyền, báo chí, thông tấn xã, văn học, nghệ thuật, điện ảnh, giáo dục và các trường Đảng, trường tuyên huấn, có trách nhiệm nhanh chóng hình thành các bộ phận phụ trợ như đài minh ngữ, nhà in và lực lượng hậu cần để phục vụ cho công tác tư tưởng, kịp thời hoạt động trên chiến trường.

Quản lý một đội ngũ cán bộ chuyên môn phần lớn là cán bộ từ miền Bắc chi viện vào, một số thanh niên từ vùng địch tạm chiếm ở các tỉnh thoát ly lên căn cứ trong hoàn cảnh mọi cơ sở vật chất để phục vụ chuyên môn, đặc biệt là nguồn lương thực để nuôi sống cho cán bộ ban đầu là con số không.

Tất cả những khó khăn ban đầu đó đều được vượt qua nhờ có sự lãnh đạo chặt chẽ về tư tưởng của lãnh đạo ban. Ban Tuyên huấn với chức năng là cơ quan tư tưởng luôn chú trọng giáo dục và rèn luyện cho đội ngũ cán bộ tư tưởng có ý chí và lòng dũng cảm chấp nhận mọi khó khăn gian khổ hy sinh, thấm nhuần sâu sắc tinh thần Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng về đường lối cách mạng ở miền Nam để vượt qua mọi khó khăn thử thách sẵn sàng xông pha trên mặt trận tư tưởng ở chiến trường.

Cán bộ trên mặt trận tư tưởng tại chiến trường chống Mỹ Khu V họ ra trận, vũ khí họ mang theo là Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng về đường lối cách mạng ở miền Nam. Tinh thần, phương hướng cách mạng trong Nghị quyết 15 của Trung ương được thể hiện qua mọi hoạt động của các binh chủng tư tưởng ở chiến trường.

Đội quân tư tưởng đi ra mặt trận với người này là để trải nghiệm và tích lũy vốn sống viết tin bài, thai nghén tác phẩm. Với người khác là tham gia như một cán bộ địa phương trong đội công tác chỉ đạo để rút kinh nghiệm và nắm bắt diễn biến tư tưởng để phản ảnh về cho lãnh đạo.

Từ thực tiễn công tác, mỗi cán bộ chiến sĩ tư tưởng trên chiến trường chống Mỹ ở Khu V đã tìm ra lời đáp cho nhiều câu hỏi của cuộc chiến. Ngày ấy qua thực tiễn chiến đấu đòi hỏi mỗi cán bộ tư tưởng phải hoạt động theo phương thức ba bám "dân bám đất, Đảng bám dân, du kích bám địch" (Về sau có thêm một bám nữa là trên bám dưới).

Chính nhờ phương thức "bốn bám" này mà cán bộ tư tưởng trên chiến trường chống Mỹ ở Khu V đã kịp thời nắm bắt được mọi diễn biến tư tưởng trong các tầng lớp nhân dân cũng như lực lượng cách mạng ở mọi thời điểm của cục diện chiến tranh để tham mưu cho Khu ủy kịp thời đề ra những chủ tưởng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ trên chiến trường đi đến thắng lợi.

Trong suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước ở chiến trường Khu V, cán bộ trong các binh chủng thuộc Ban Tuyên huấn từ cấp Khu đến cơ sở đều hoạt động theo phương châm "4 bám". Chính nhờ "Đảng bám dân" được dân nuôi nấng, che chở giúp đỡ để hoạt động bằng phương thức tuyên truyền miệng là chủ yếu, từ đó công tác chính trị tư tưởng về đường lối cách mạng đã tác động đến lòng dân, tạo nên động lực cách mạng, dấy lên các phong trào diệt ác, phá kèm, chống bình định nông thôn, đến đòi quyền dân sinh dân chủ, chống đàn áp Phật giáo, đến nổi dậy làm chủ thành phố Đà Nẵng 76 ngày đêm mùa xuân 1966... dấy lên phong trào "tìm Mỹ mà đánh, lùng ngụy mà diệt" v.v...

Qua thực tế trên chiến trường, các nhà báo, văn nghệ sĩ, đạo diễn, quay phim đã có bài báo, tác phẩm văn học, ca khúc, bộ phim tài liệu phản ảnh tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường của cuộc chiến tranh nhân dân, nêu lên biết bao tấm gương của tập thể, cá nhân anh hùng, dũng sĩ quyết đánh thắng giặc Mỹ, đã nhanh chóng lan tỏa đến với nhân dân và các lực lượng vũ trang, đến tận bản làng đồng bào dân tộc miền núi, tiếp thêm động lực để đưa phong trào cách mạng giải phóng miền Nam đến thắng lợi.

Đầu 1975, chiến trường ở miền Nam đã bước sang giai đoạn mới, Mỹ rút quân về nước, quân ngụy liên tục thua trận, vùng vẫy trong thế hoang mang dao động. Qua thực tế giải phóng các tỉnh Tây Nguyên tháng 3-1975, Ban Tuyên huấn Khu ủy chỉ đạo các binh chủng đẩy mạnh công tác tuyên truyền chính sách hòa hợp dân tộc để cán bộ và nhân dân nắm vững những chủ trương của chính sách hòa hợp không gây hận thù, phải đối xử nhân đạo với sĩ quan, binh lính và nhân viên ngụy quyền đã ra đầu thú, trình diện.

Nhờ có sự chỉ đạo sáng suốt về công tác tư tưởng, chuẩn bị đón trước khi trận tuyến cuối cùng giải phóng hoàn toàn các tỉnh, thành Khu V diễn ra, công tác tiếp quản, thiết lập trật tự được êm thắm, không xảy ra điểm nóng trên toàn Khu.

Nhìn lại những năm tháng chiến tranh đầy gian khổ, hy sinh, hơn 1.025 chiến sĩ trong đội quân chính trị tư tưởng của Khu ủy Khu V đã được trải nghiệm và cống hiến trên mặt trận chính trị tư tưởng ở một chiến trường, đội quân ấy đã được tôi luyện trong gian khổ hy sinh, kiên định về mục tiêu lý tưởng của Đảng, kiên cường, dũng cảm làm người lính đi đầu trên mặt trận tư tưởng của cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước, đã hy sinh trên chiến trường 128 đồng chí, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Ghi nhận công lao, thành tích của đội quân chính trị tư tưởng của Ban Tuyên huấn Khu ủy Khu V trên mặt trận chính trị tư tưởng ở chiến trường chống Mỹ, ngày 26/4/2018 Chủ tịch nước đã ký Quyết định số 632/QĐ-CTN phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Ban Tuyên huấn Khu ủy Khu V về những thành tích xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

N.K.T