
Có những món quà được gửi đến rất nhẹ, chỉ bằng mấy tấm ảnh qua điện thoại, mà đủ sức đánh thức cả một quãng đời.
Luật sư, nhà sưu tầm Tạ Thu Phong, bút danh Bảo Thư, vừa gửi tặng tôi ảnh chụp mấy cuốn sách cũ, trong đó có tác phẩm của tôi in từ cuối những năm tám mươi thế kỷ trước. Những trang giấy đen tái chế của thời bao cấp, nay đã ngả màu, hiện lên cùng những con chữ đậm nhạt không đều. Gần bốn mươi năm đã đi qua. Nhìn lại tên mình trên giấy cũ, tôi bỗng gặp lại người lính trẻ từng cầm bút giữa những ngày gian khó.
Món quà ấy khiến tôi nghĩ nhiều hơn về người đã nâng niu, gìn giữ và gửi nó trở về với tác giả: Bảo Thư – Tạ Thu Phong.
1. Những trang giấy đen mang ánh sáng một thời
Trong ảnh, ba cuốn sách nằm trên nền vải đỏ có hoa văn: “Chiến sỹ Chi Lăng” (do Cục Chính trị Quân đoàn 14 xuất bản), “Đấu trí” (NXB Công an nhân dân) và “Điểm tựa 820”. Cuốn “Điểm tựa 820” ghi rõ trên bìa: Hội Văn học Nghệ thuật Lạng Sơn xuất bản năm 1987. Một nhãn Thư viện Quân đội còn lưu trên bìa sách. Mép giấy, gáy sách, vệt ố đều mang dấu vết của những năm tháng đã qua.

Rồi những trang ruột mở ra. “Tầm cao điểm tựa”, bên dưới là dòng chú thích “Trích nhật ký thơ viết ở 820”, cùng mốc ngày 10 tháng 8 năm 1983. “Những người đi giữ biên cương”, với lời đề tặng lớp chiến sĩ trẻ đầu tiên của Trung đoàn 751. Và truyện “Thằng Câm”... Tên Đặng Vương Hưng vẫn nằm đó, trong những cách sắp chữ của một thời làm sách còn nhiều thiếu thốn.
Tôi dừng lâu ở mấy câu thơ: “Suốt đêm chúng tôi hành quân/
Đi ngược chiều gió thổi/ Những lá cờ tung bay/ Vô vàn ngôi sao nhấp nháy.…”. Đọc lại, nghe như bước chân đồng đội vừa đi qua. Những ngọn núi, con đường, những đêm biên giới bỗng gần hơn khoảng cách mấy chục năm. Trang sách giữ được cả nhịp thở non trẻ của người viết, những vụng về và tha thiết thuở ban đầu.
Giấy thời ấy đen, thô, nhìn rõ cả những xơ sợi lẫn trong mặt giấy. Nhưng để có một trang in, người viết đã gửi vào đó biết bao hy vọng. Người biên tập đọc sửa, họa sĩ vẽ bìa, người thợ in lo từng lượt máy. Đằng sau một cuốn sách mỏng là công sức của nhiều người, cùng niềm tin rằng giữa đời sống thiếu thốn, con người vẫn cần văn chương.
Nay những trang ấy được một người yêu sách tìm thấy, lưu giữ, chụp lại và gửi cho tôi. Trong hành động nhỏ ấy có sự tinh tế của người hiểu rằng, đối với tác giả, một trang in cũ đôi khi quý hơn cả một lời khen mới.
Tôi không biết từng cuốn sách đã qua những bàn tay nào trước khi đến với Phong. Nhưng dấu vết trên chúng gợi ra một hành trình đọc. Có người đã mở, đã mang theo, đã đặt lên giá; rồi thời gian làm xô lệch những chỗ ở của sách. May mà còn có người dừng lại, nhận ra và giữ lấy.
2. Người đọc phía sau những bộ sưu tập
Tạ Thu Phong sinh năm 1974, làm nghề luật sư, được nhiều người biết đến trong giới sưu tầm sách báo cũ. Anh đã có khoảng mười nghìn cuốn sách cũ, cổ và hàng chục nghìn bản báo cũ. Đăc biệt, Tạ Thu Phong đang sở hữu hàng trăm tờ báo Xuân quý hiếm thuộc nhiều giai đoạn của báo chí Việt Nam. Đó là những tờ báo Xuân có từ thập niên 30 - 40 của thế kỷ trước, các tờ báo Xuân chiến khu, Xuân Độc lập đầu tiên vào năm 1946, các tờ báo Xuân thời tạm chiếm của Hà Nội trước 1954, của miền Bắc - miền Nam trước 1975…
Tôi nghĩ, điều đáng nói hơn những con số là cách anh đọc và sử dụng khối tư liệu ấy.
Anh sưu tầm theo chủ đề, tìm mối liên hệ giữa các trang báo, các sự kiện, các giai đoạn lịch sử. Một tờ báo riêng lẻ có thể cho biết một chuyện; đặt nó cạnh những số trước, số sau, cạnh những nguồn khác, người đọc mới dần thấy được bối cảnh và những điều cần kiểm chứng.



Ở đây, có thể nhận ra sự gặp nhau giữa nghề luật và việc nghiên cứu: sự coi trọng văn bản, căn cứ, xuất xứ. Cảm xúc đưa người ta đến với tư liệu, còn sự cẩn trọng giúp người ta hiểu đúng điều tư liệu có thể nói. Một năm in, một tên người, một dòng chú thích đều cần được đọc cho rõ.
Trong mắt tôi, cái tên Bảo Thư gợi một lời gửi gắm đẹp: quý sách và giữ sách. Tôi không định thay anh giải thích nguồn gốc bút danh. Chỉ từ những việc anh làm, tôi cảm nhận được sự gắn bó bền bỉ với chữ nghĩa, với những gì rất dễ bị bỏ quên trong đời sống.
Sách báo cũ vốn mong manh. Nóng ẩm, mối mọt, một lần chuyển nhà, một cuộc dọn kho cũng đủ khiến tư liệu thất lạc. Giữ chúng là một công việc kéo dài, đòi hỏi chỗ chứa, thời gian và sự chăm chút. Người ngoài thường chỉ nhìn thấy niềm vui khi có được món quý; phần nhọc nhằn của việc bảo quản thì ít hiện ra.
Từ nguồn tư liệu tích lũy ấy, Phong đã viết những cuốn biên khảo như “Tiếng thét Yên Bái”, “Hà Nội một thân”, “Hà Nội chuyện xưa phố cũ”. Anh đưa những điều tìm được đến với bạn đọc, mở thêm đường cho người khác tiếp cận quá khứ.
Ở phương diện viết báo, điều tôi quý là khả năng nhận ra câu chuyện trong tư liệu. Một mẩu tin ngắn, một quảng cáo, một bức vẽ cũ có thể gợi mở về nếp sống, ngôn ngữ, thị hiếu của xã hội ngày trước. Đọc được những lớp nghĩa ấy cần kiến thức, nhưng cũng cần lòng kiên nhẫn và sự tò mò không nguội.
Mấy tấm ảnh gửi cho tôi cho thấy một nét khác trong con người sưu tầm ấy: anh còn nghĩ đến người có liên quan với cuốn sách. Giữa bao nhiêu tên tác giả trên giá, anh nhận ra tên bạn mình, rồi chia sẻ. Nhờ thế, tư liệu tiếp tục có thêm một cuộc gặp, một cuộc trò chuyện, một đời sống mới.
3. Giữ tư liệu cũng là gìn giữ nghĩa tình
Gần đây, công việc nghiên cứu của Tạ Thu Phong còn gắn bó với một lĩnh vực mà thân nhân nhiều gia đình liệt sĩ đang quan tâm: Tìm kiếm thông tin về những người Việt Nam mất tích trong chiến tranh.
Năm 2026, Tạ Thu Phong là Trưởng nhóm Nghiên cứu, tiếp đó đảm nhiệm trọng trách Phó Chủ nhiệm của Dự án “Sáng kiến Tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh” (TTU-VWAI). Đây cũng là nơi tôi đang có chút duyên với vai trò là Chuyên viên nhóm Truyền thông, Báo chí và Mạng xã hội.
Với công việc ấy, một cái tên được đọc đúng có thể mở thêm một hướng xác minh. Một sơ đồ, một phiên hiệu đơn vị, một địa danh được đối chiếu cẩn thận có thể giúp nối lại những thông tin rời rạc. Từ tư liệu đến kết quả tìm kiếm còn nhiều bước, nhiều người cùng góp sức. Chính vì vậy, sự chính xác và trách nhiệm càng cần được đặt trong từng thao tác nhỏ.
Là người lính đã đi qua chiến tranh, tôi hiểu phía sau hai chữ “mất tích” là những cuộc chờ đợi dài hơn một đời người. Có gia đình còn giữ tấm ảnh đã mờ, lá thư đã rách, mong tìm thêm được một dòng tin về người thân. Khi gặp được tư liệu có liên quan, niềm hy vọng ấy lại được nhen lên, dù vẫn phải tiếp tục kiểm chứng.
Từ những cuốn sách cũ đến hồ sơ người lính, tôi thấy một mối quan tâm bền bỉ ở Phong: đọc cho rõ dấu vết con người trong giấy tờ. Người từng viết, từng sống, từng chiến đấu cần được nhớ đến bằng tên tuổi, bằng những căn cứ cụ thể và bằng sự tôn trọng.
Văn hóa tri ân được bồi đắp từ những việc như thế. Có khi là nhận ra tên một tác giả rồi gửi lại trang sách cũ. Có khi là kiên nhẫn đối chiếu một hồ sơ để góp phần làm sáng tỏ số phận một người lính. Mỗi việc có quy mô và ý nghĩa riêng, nhưng đều bắt đầu từ sự quan tâm tới con người.
Tôi trở lại nhìn những bức ảnh anh Phong vừa gửi. Nền vải đỏ làm sắc giấy cũ càng rõ. Tên tác phẩm, tên người viết, dòng năm xuất bản vẫn còn đọc được. Bất giác, tôi thấy lòng biết ơn lan ra: tới bạn sưu tầm, tới những người làm sách năm xưa, tới bạn đọc đã giữ gìn, và tới đồng đội từng có mặt trong những trang viết ấy.
Tạ Thu Phong đã gửi tôi một món quà vừa vặn trong màn hình điện thoại. Còn phần ký ức mà nó đánh thức thì rộng hơn nhiều.
Tôi muốn cảm ơn Bảo Thư từ cuộc gặp ấy. Nhờ sự nâng niu của anh, những trang giấy đen vẫn giữ được ánh sáng của một thời, để người hôm nay còn có thể mở ra, đọc lại và nhớ thương.
Hà Nội, 02/11/2026
Đặng Vương Hưng