Từ những năm tháng chiến tranh khốc liệt cho đến khi đất nước hòa bình, Anh hùng LLVTND Hồ Thị Kim Thanh (SN 1942, trú tại phường Hải Châu, TP. Đà Nẵng) luôn giữ trọn phẩm chất cao đẹp và ý chí can trường của người chiến sĩ cách mạng. Cuộc đời bà, cùng với người cha kính yêu – liệt sĩ Hồ Truyền, đã viết nên một câu chuyện lịch sử vô cùng đặc biệt và tự hào trên mảnh đất quê hương Tam Hải (Núi Thành, Quảng Nam): Gia đình duy nhất có cả hai cha con đều vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Người cha kiên trung – Linh hồn của vành đai diệt Mỹ Chu Lai
Anh hùng Hồ Truyền (tên khai sinh là Hồ Dậu, sinh năm 1920 tại xã Tam Hải) sớm giác ngộ lý tưởng, tham gia cách mạng từ năm 1935 và được kết nạp vào Đảng năm 1939. Tháng 8/1945, ông làm Chủ tịch Ủy ban Hành chính xã An Hòa (Tam Kỳ). Trong kháng chiến chống Pháp, ông giữ nhiều trọng trách như Bí thư Chi bộ xã An Hòa, Phó văn phòng Huyện ủy Tam Kỳ, cán bộ Ban Tuyên huấn, Ban Tổ chức huyện. Năm 1953, ông được cử ra miền Bắc. Đến năm 1955, Trung ương Đảng điều động ông bí mật trở lại miền Nam hoạt động, giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy Bình Định.
Cuối năm 1956, ông bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam tại Đà Nẵng. Suốt 8 tháng ròng rã chịu các đòn tra tấn dã man, ông vẫn một mực khai mình là người đi buôn bò để bảo vệ cơ sở. Địch không khai thác được gì buộc phải thả tự do cho ông. Sau này, chúng tức tối nhận ra đã thả nhầm một "Việt Cộng gộc". Ngay khi ra tù, ông bí mật bắt liên lạc với tổ chức, lên chiến khu lãnh đạo nhân dân huyện Tiên Phước chiến đấu, mở rộng và giữ vững các vùng giải phóng trọng điểm như Tiên Lãnh, Tiên Ngọc, Phương Đông, Dương Yên... làm bàn đạp bảo vệ hoạt động của Tỉnh ủy Quảng Nam.
Tháng 4/1965, ông giữ chức Bí thư Huyện ủy Nam Tam Kỳ. Khi quân Mỹ đổ bộ xây dựng căn cứ Chu Lai vào tháng 5/1965, ông được bổ nhiệm làm Chính ủy Mặt trận Chu Lai, lãnh đạo nhân dân xây dựng vành đai diệt Mỹ. Ông đã trực tiếp chỉ đạo lập phương án đánh chốt điểm Núi Thành vào ngày 26/5/1965, diệt gọn một đại đội lính Mỹ, mở đầu cho Phong trào “Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt” trên khắp chiến trường miền Nam.
Khiến kẻ thù “mất ăn mất ngủ”, ông bị chúng treo giải thưởng lớn hòng lấy mạng. Ngày 20/5/1967, trong lúc đang hoạt động tại xã Tam Hiệp dưới hầm bí mật, ông bị địch phát hiện và bao vây. Trong tình huống hiểm nghèo, ông đã chủ động tung nắp hầm, dũng cảm dùng súng ngắn và lựu đạn chiến đấu trực diện với quân địch giữa ban ngày rồi hy sinh oanh liệt ở tuổi 47.
Suốt 32 năm cách mạng, ông đã tổ chức chỉ huy đánh 30 trận, diệt hàng trăm tên địch, xây dựng 650 cơ sở cách mạng. Năm 2010, ông được Đảng, Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND. Một năm sau ngày ông mất (1968), người vợ hiền của ông – bà Trần Thị Đoa, nữ cán bộ cách mạng kiên trung, cán bộ phụ nữ xã Tiên Thọ cũng ngã xuống ở tuổi 47.
Theo bước chân cha – Nữ anh hùng can trường vượt qua bão đạn
Sinh ra trong một gia đình bị kẻ địch bắt bớ, khủng bố gắt gao, bà Hồ Thị Kim Thanh (sinh năm 1942) sớm trở thành cơ sở của Huyện ủy Tam Kỳ. Có thời gian mẹ bị tù đày, chị em bà bị nhốt vào khu trù mật. Nhận định địch sẽ sát hại mấy chị em, bà báo cáo cấp trên và được Huyện ủy cử Đội công tác xã Tam Hiệp bí mật đưa lên núi an toàn. Gần một tháng sau, bốn cha con mới có cơ hội đoàn tụ tại căn cứ và chụp bức ảnh kỷ niệm năm 1963 trước ngày ông Truyền hy sinh.

Năm 1967 – 1968, khi nhận tin cả cha và mẹ đều ngã xuống, bà Kim Thanh đang ở Quế Sơn chỉ đạo phong trào phụ nữ đấu tranh. Biến đau thương thành hành động, bà nén dòng lệ trong căn hầm bí mật để tiếp tục chiến đấu và thay cha mẹ lo cho 4 người em nhỏ được ra miền Bắc học tập an toàn.
Trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân 1968, trên cương vị Thường trực Hội phụ nữ giải phóng tỉnh Quảng Nam, bà trực tiếp chỉ huy lực lượng chính trị và binh vận hỗ trợ lực lượng vũ trang tấn công vào quận lỵ Lý Tín. Cải trang thành dân thường, bà dẫn đầu hơn 3.000 quần chúng đấu tranh trực diện. Khi bị địch bắt giữ cùng 200 người biểu tình, bà nhanh trí bồng bế con của một quần chúng làm con mình để giấu kín tung tích cốt cán. Ngay trong nhà lao, bà bí mật thành lập chi bộ, lãnh đạo tù nhân đấu tranh quyết liệt buộc địch phải thả người. Khi bà thoát ra an toàn, địch mới biết đã thả nhầm nữ Việt Cộng nguy hiểm. Với sự nhạy bén đó, bà được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh trong năm 1968.
Đồng đội nhớ về bà không chỉ bởi sự mưu trí, mà còn bởi tình đồng chí sâu nặng. Năm 1963, tại cơ quan Huyện ủy Tiên Phước, dù bản thân bị đạn găm vào cánh tay, bà vẫn nén đau lần lượt cõng, dìu 4 cán bộ bị thương nặng băng rừng thoát khỏi vùng phục kích.

Tháng 10/1969, khi bị địch phục kích tại đường 105 (Quế Sơn), bà cùng du kích đánh trả trực diện, sau đó dũng cảm bò ra làn mưa pháo tìm kiếm và cõng chiến sĩ du kích Cao Châu bị thương vào vùng ven cấp cứu kịp thời.
Với những chiến công xuất sắc, bà đã hai lần vinh dự được Nữ tướng Nguyễn Thị Định tặng bằng khen. Tại Hội nghị thi đua Quân khu 5 năm 1973, bà được tặng một khẩu súng K59 – phần thưởng quý hiếm dành cho một nữ chiến sĩ thời bấy giờ. Năm 2018, bà Hồ Thị Kim Thanh chính thức được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Niềm hạnh phúc bình dị thời bình
Từ những năm tháng chiến tranh đến khi đất nước hòa bình, Anh hùng LLVTND Hồ Thị Kim Thanh luôn giữ trọn phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ cách mạng. Bà tiếp tục giữ nhiều chức vụ quan trọng như Đại biểu Quốc hội khóa VII, Hội trưởng Phụ nữ tỉnh Quảng Nam, Bí thư Thị ủy Tam Kỳ, và Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng. Sau khi về hưu năm 2000, bà vẫn năng nổ cống hiến ở vai trò Bí thư Chi bộ và Chi hội trưởng Hội Cựu chiến binh phường Hải Châu 1.

Hiện nay ở tuổi 84, dù đang phải chiến đấu với căn bệnh ung thư và chiếc dạ dày chỉ còn 1/4, nữ anh hùng vẫn sống lạc quan, giản dị tại số nhà 58 Lê Duẩn (phường Hải Châu, TP. Đà Nẵng). Tài sản lớn nhất của bà là niềm tự hào về gia đình. Bốn người em được bà chăm ẵm, gửi ra Bắc học tập năm xưa đều đã trưởng thành, giỏi giang, giữ các chức vụ cốt cán như Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam, Giám đốc Công ty Cấp nước, và Giám đốc Bưu điện Đà Nẵng trước khi về hưu. Bên cạnh bà luôn có người chồng – anh bộ đội chủ lực năm xưa, người đã cùng bà trải qua thử thách của chiến tranh, nay lại sát cánh cùng bà giữ vẹn nguyên tiếng cười hạnh phúc.