Góc nhìn văn hoá: Phụ nữ Việt Nam tiếp nối truyền thống vẻ vang, vững bước vào kỷ nguyên mới

Kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20/10/1930 – 20/10/2026) là dịp để chúng ta nhìn lại hành trình vẻ vang của các thế hệ phụ nữ Việt Nam, đồng thời suy ngẫm sâu sắc về vai trò, vị thế và những đóng góp của phụ nữ trong đời sống đương đại. Từ những trang sử hào hùng của dân tộc đến nhịp sống sôi động của thời đại số, phụ nữ Việt Nam luôn hiện diện như một nguồn sức mạnh bền bỉ, kết tinh những giá trị văn hóa truyền thống và khát vọng đổi mới.

Phát huy phẩm chất “Anh hùng – Bất khuất – Trung hậu – Đảm đang”, phụ nữ hôm nay không chỉ tiếp nối di sản của cha ông mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

dt1a-2010-1792420662.png
Ảnh minh hoạ. Nguồn: Internet.

Truyền thống vè vang - cội nguồn sức mạnh

Trong dòng chảy hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, hình tượng người phụ nữ luôn giữ vị trí đặc biệt trong lịch sử và tâm thức văn hóa dân tộc. Từ Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, Bà Triệu nêu cao khí phách đến những nữ chiến sĩ kiên cường trong các cuộc kháng chiến, lịch sử đã khắc ghi tinh thần yêu nước, ý chí độc lập và sức mạnh vượt lên nghịch cảnh của phụ nữ Việt Nam. Những tấm gương như Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Thị Sáu, Nguyễn Thị Định, Nguyễn Thị Bình cùng hàng triệu người phụ nữ bình dị trên khắp mọi miền đất nước đã góp phần làm nên những trang sử vẻ vang, bồi đắp niềm tự hào và bản lĩnh dân tộc.

Tuy nhiên, đóng góp của phụ nữ không chỉ được đo bằng những chiến công nơi chiến trường hay những thành tựu nổi bật trong đời sống xã hội. Trong chiều sâu văn hóa Việt Nam, người phụ nữ còn là người gìn giữ nếp nhà, trao truyền tiếng nói, phong tục, đạo lý và những chuẩn mực ứng xử từ thế hệ này sang thế hệ khác. Qua lời ru của bà, sự chăm chút của mẹ, cách ứng xử nghĩa tình của người chị, người vợ, nhiều giá trị văn hóa được nuôi dưỡng tự nhiên, bền bỉ trong mỗi gia đình. Đó là lòng nhân ái, đức hy sinh, sự thủy chung, tinh thần sẻ chia và ý thức gắn bó với cộng đồng.

Những phẩm chất ấy không phải là khuôn mẫu bất biến buộc người phụ nữ phải chấp nhận thiệt thòi, mà cần được nhìn nhận như nguồn lực tinh thần giúp họ phát triển toàn diện và đóng góp tích cực cho xã hội. Trân trọng truyền thống không đồng nghĩa với việc duy trì những quan niệm đã trở nên lạc hậu, chẳng hạn mặc định việc nội trợ, chăm sóc con cái hoàn toàn là trách nhiệm của phụ nữ. Giá trị văn hóa chỉ thực sự được gìn giữ và phát huy khi được đặt trong tinh thần bình đẳng, tiến bộ, phù hợp với yêu cầu của cuộc sống hiện đại.

Ngày 20/10/1930, Hội Phụ nữ phản đế Việt Nam, tổ chức tiền thân của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam ngày nay, ra đời, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong quá trình tập hợp, đoàn kết và phát huy sức mạnh của các tầng lớp phụ nữ. Trải qua 96 năm xây dựng và trưởng thành, tổ chức Hội ngày càng khẳng định vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ; đồng thời là cầu nối giữa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước với đời sống hội viên và cộng đồng.

Trong thời bình, truyền thống ấy tiếp tục được bồi đắp bằng những đóng góp thiết thực trên nhiều lĩnh vực. Phụ nữ tham gia quản lý nhà nước, nghiên cứu khoa học, giáo dục, y tế, văn hóa, sản xuất, kinh doanh và hoạt động xã hội. Nhiều nữ doanh nhân mạnh dạn khởi nghiệp, tạo việc làm, phát triển sản phẩm địa phương; nhiều nữ trí thức miệt mài nghiên cứu, sáng tạo; nhiều nữ cán bộ, giáo viên, thầy thuốc và người lao động đang từng ngày đóng góp cho sự phát triển của đất nước. Ở mỗi vị trí, bằng năng lực, trách nhiệm và sự tận tâm, họ làm phong phú thêm hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong thời đại mới.

Sự tham gia ngày càng sâu rộng của phụ nữ trong đời sống chính trị cũng cho thấy những chuyển biến tích cực về vị thế xã hội. Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội nhiệm kỳ 2021–2026 đạt 30,26%, phản ánh sự hiện diện đáng kể của phụ nữ trong cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Điều quan trọng không chỉ nằm ở tỷ lệ đại diện, mà còn ở việc bảo đảm tiếng nói, kinh nghiệm và nhu cầu của phụ nữ được lắng nghe, phản ánh thực chất trong quá trình hoạch định chính sách và quản trị quốc gia.

Những thành tựu ấy được củng cố bởi hệ thống chủ trương, chính sách về bình đẳng giới, trong đó có Hiến pháp năm 2013, Luật Bình đẳng giới năm 2006 và Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021–2030. Cùng với đó, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tiếp tục triển khai các phong trào thi đua, hoạt động hỗ trợ sinh kế, nâng cao năng lực, xây dựng gia đình hạnh phúc và thúc đẩy phụ nữ tham gia phát triển cộng đồng. Từ truyền thống đến hiện tại, hành trình của phụ nữ Việt Nam vì thế không chỉ là câu chuyện về sự hy sinh và cống hiến, mà còn là hành trình khẳng định quyền làm chủ, năng lực sáng tạo và giá trị của mỗi con người.

Khơi dậy trí tuệ, bản lĩnh, khát vọng trong kỷ nguyên mới

Nếu truyền thống là nền tảng tinh thần thì tri thức, năng lực sáng tạo và khả năng thích ứng chính là những động lực để phụ nữ Việt Nam vươn lên trong kỷ nguyên mới. Chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, kinh tế xanh và hội nhập quốc tế đang làm thay đổi sâu sắc phương thức lao động, sản xuất cũng như đời sống văn hóa. Những thay đổi đó mở ra cơ hội để phụ nữ tiếp cận tri thức, mở rộng thị trường, nâng cao năng suất và tham gia sâu hơn vào các lĩnh vực vốn đòi hỏi trình độ chuyên môn cao. Song, đây cũng là thách thức đối với những người còn hạn chế về điều kiện học tập, kỹ năng số, nguồn lực kinh tế hoặc cơ hội tiếp cận việc làm bền vững.

Bởi vậy, phát huy vai trò phụ nữ trong giai đoạn mới không thể chỉ dừng lại ở những lời tôn vinh, mà cần được cụ thể hóa bằng cơ hội học tập suốt đời, điều kiện làm việc bình đẳng và môi trường khuyến khích sáng tạo. Phong trào “Bình dân học vụ số”, việc phổ cập kỹ năng công nghệ và hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp có ý nghĩa thiết thực khi giúp phụ nữ ở cả đô thị lẫn nông thôn từng bước làm chủ công cụ số, tiếp cận thương mại điện tử, quảng bá sản phẩm và nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Đặc biệt, phụ nữ vùng sâu, vùng xa, phụ nữ dân tộc thiểu số, phụ nữ khuyết tật và những người có hoàn cảnh khó khăn cần được quan tâm bằng các giải pháp phù hợp, để không ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình phát triển.

Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2026–2031, xác định những định hướng quan trọng nhằm phát huy tinh thần đổi mới, sáng tạo, làm chủ tri thức, tự tin hội nhập và khát vọng vươn lên của các tầng lớp phụ nữ. Các nhiệm vụ về nâng cao năng lực số, hỗ trợ phát triển kinh tế, khởi nghiệp, xây dựng gia đình “5 không, 3 sạch, 3 an”, bảo vệ phụ nữ và trẻ em, thúc đẩy bình đẳng giới, tăng cường giám sát, phản biện xã hội và xây dựng tổ chức Hội vững mạnh cho thấy cách tiếp cận ngày càng toàn diện đối với sự phát triển của phụ nữ.

Từ góc nhìn văn hóa, điều đáng chú ý là sự chuyển biến trong quan niệm về vai trò của phụ nữ. Người phụ nữ hiện đại không còn chỉ được nhìn nhận qua khả năng quán xuyến gia đình hay đức hy sinh, mà còn qua tri thức, năng lực nghề nghiệp, bản lĩnh cá nhân và quyền tự quyết đối với cuộc đời mình. Một xã hội tiến bộ cần tạo điều kiện để phụ nữ vừa có thể phát triển sự nghiệp, theo đuổi đam mê, vừa xây dựng gia đình hạnh phúc theo lựa chọn của bản thân. Sự thành công của phụ nữ không nên trở thành lý do để đặt lên vai họ thêm nhiều kỳ vọng và gánh nặng, mà phải đi cùng sự chia sẻ trách nhiệm từ gia đình, cộng đồng và các thiết chế xã hội.

Trong xây dựng gia đình Việt Nam, yêu cầu ấy càng trở nên cấp thiết. Gia đình là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa căn bản, nhưng cũng là không gian cần được đổi mới theo hướng bình đẳng, tôn trọng và yêu thương. Chăm sóc con cái, làm việc nhà, phụng dưỡng người cao tuổi và vun đắp đời sống tinh thần phải là trách nhiệm chung của các thành viên. Khi nam giới chủ động chia sẻ công việc gia đình, khi trẻ em được nuôi dưỡng trong môi trường không định kiến giới, phụ nữ sẽ có thêm điều kiện học tập, lao động và cống hiến. Đồng thời, các giá trị truyền thống như hiếu nghĩa, thủy chung, nhân ái sẽ được tiếp nối trong một diện mạo phù hợp hơn với đời sống hiện đại.

Bên cạnh đó, cần nhìn nhận thẳng thắn những rào cản vẫn tồn tại. Định kiến giới, bạo lực gia đình, chênh lệch cơ hội việc làm, gánh nặng chăm sóc không được trả công và những hạn chế trong tiếp cận nguồn lực vẫn ảnh hưởng đến khả năng phát triển của không ít phụ nữ. Vì thế, bình đẳng giới không thể chỉ là nhiệm vụ riêng của phụ nữ hay tổ chức Hội, mà phải trở thành trách nhiệm chung của Nhà nước, doanh nghiệp, gia đình và toàn xã hội. Các chính sách về đào tạo nghề, việc làm, chăm sóc trẻ em, bảo hiểm xã hội, phòng chống bạo lực và bảo vệ quyền lợi của lao động nữ cần được triển khai hiệu quả, đi cùng cơ chế giám sát và đánh giá thực chất.

Về phía Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, yêu cầu đặt ra là tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, bám sát nhu cầu đa dạng của các nhóm phụ nữ; tăng cường hỗ trợ pháp lý, tư vấn nghề nghiệp, kết nối việc làm, nâng cao năng lực số và thúc đẩy tiếng nói của phụ nữ trong các quyết sách liên quan đến đời sống cộng đồng. Những phong trào thi đua chỉ thực sự có sức sống khi tạo ra thay đổi cụ thể, giúp hội viên nâng cao chất lượng cuộc sống, tự tin phát triển bản thân và đóng góp vào sự phát triển chung.

Kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cũng là dịp khẳng định rằng sức mạnh của phụ nữ không chỉ thuộc về quá khứ hào hùng, mà còn là nguồn lực quan trọng cho tương lai đất nước. Phát huy truyền thống vẻ vang cần đi đôi với đổi mới tư duy, mở rộng cơ hội và bảo đảm quyền bình đẳng trong thực tiễn. Khi phụ nữ được trao cơ hội, được tôn trọng và có điều kiện phát huy năng lực, những giá trị tốt đẹp của văn hóa Việt Nam sẽ tiếp tục được bồi đắp, lan tỏa và thích ứng với thời đại.

Từ hào khí Hai Bà Trưng, Bà Triệu đến những nữ trí thức, doanh nhân, cán bộ, công nhân và người lao động hôm nay là một mạch nối bền bỉ của lòng yêu nước, nghị lực và khát vọng cống hiến. Trong kỷ nguyên mới, phụ nữ Việt Nam không chỉ là người gìn giữ truyền thống, mà còn là chủ thể sáng tạo văn hóa, kiến tạo tri thức và thúc đẩy phát triển bền vững. Tôn vinh phụ nữ vì thế không chỉ là sự tri ân trong một ngày kỷ niệm, mà phải được thể hiện bằng hành động thường xuyên: trao cơ hội bình đẳng, bảo vệ phẩm giá, khuyến khích sáng tạo và xây dựng môi trường sống an toàn, nhân văn. Đó cũng chính là cách thiết thực để truyền thống vẻ vang tiếp tục tỏa sáng, góp phần đưa đất nước phát triển phồn vinh, văn minh và hạnh phúc trong thời đại mới.

Cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch, 3 an” là một phát triển mới và toàn diện hơn do Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam triển khai, được đưa vào Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030 (theo Quyết định số 51/2025/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ).

Cuộc vận động này gồm tổng cộng 11 tiêu chí cụ thể được chia thành ba nhóm:

 5 không:

Không nghèo và tái nghèo: Gia đình đạt mức sống tối thiểu hoặc thoát nghèo bền vững, có sinh kế ổn định, không thuộc diện hộ nghèo do Nhà nước quy định.

Không bạo lực gia đình: Không có hành vi bạo lực thể chất, tinh thần, kinh tế hay tình dục giữa các thành viên trong gia đình.

Không vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội: Các thành viên trong gia đình không vướng vào tội phạm, ma túy, cờ bạc, mại dâm, trộm cắp hay các tệ nạn xã hội khác.

Không lãng phí: Thực hành tiết kiệm trong chi tiêu sinh hoạt, sản xuất, trong việc cưới, việc tang và lễ hội. 

Không có trẻ suy dinh dưỡng và bỏ học: Trẻ em trong độ tuổi đi học được đến trường đầy đủ; trẻ nhỏ được chăm sóc dinh dưỡng tốt, không bị suy dinh dưỡng.

3 sạch:

Sạch nhà: Nhà cửa được sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp, có nguồn nước sạch phục vụ sinh hoạt và công trình vệ sinh đạt chuẩn.

Sạch bếp: Khu vực nấu nướng được phân khu hợp lý, dụng cụ sạch sẽ, thực hiện nghiêm túc an toàn vệ sinh thực phẩm.

Sạch ngõ: Đường làng, ngõ xóm, khu vực xung quanh nhà cửa sạch sẽ, không vứt rác bừa bãi, thường xuyên trồng cây xanh, tạo cảnh quan thoáng mát.

3 an:

An toàn: Bảo đảm an toàn về thể chất và tinh thần cho mọi thành viên (đặc biệt là phụ nữ và trẻ em); an toàn giao thông, an toàn điện, phòng chống cháy nổ và an toàn không gian mạng.

An tâm: Các thành viên có sự gắn kết, hòa thuận, tinh thần thoải mái, tin tưởng vào cuộc sống và môi trường xã hội xung quanh.

An sinh: Gia đình được tiếp cận tốt với các chính sách an sinh xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, hỗ trợ khi gặp rủi ro hoặc thiên tai.

V.X.B