Có một mái trường tôi yêu quí và nhớ mãi

Xin đừng nghĩ ngày 30 tháng tư của lính chỉ là súng đạn - Kỉ niệm về ngày đầu Thống Nhất đất nước.
mai-truong-than-yeu-1651459044.jpg
Nguyễn Trọng Luân đang trò chuyện với thày cô giáo ở trường TH Lê Quý Đôn sáng ngày 1/5/1975

 

Nhiều năm sau tôi cứ nghĩ, sao số phận mình may mắn đến thế. Ngày đầu tiên tiến vào giải phóng Sài Gòn lại là ngày được được biết tới một mái trường rất nhiều dấu ấn lịch sử của đất nước. Đây là trường trung học đầu tiên của Sài Gòn, được thành lập từ năm 1874, với tên gọi ban đầu Collège Chasseloup-Laubat.  Ngôi trường nằm sát ngay dinh Độc lập. Cổng chính quay ra đường Hồng Thập Tự và một cổng nữa quay ra đường Trần Quý Cáp nay là đường Võ Văn Tần.  Một khuôn viên cổ kính trang nghiêm mà lại đẹp lạ kì. Những dẫy cây cổ thụ trong sân trường ríu rít tiếng chim, những gốc phượng vĩ gộc gạc còn đang đỏ hoa trên vòm lá. Quá trưa 30/4/1975  cánh quân của tôi giá súng ngày cổng trường Lê Quí Đôn. Sau gần hai tháng trời chiến đấu liên miên chúng tôi đã đi từ Tây Nguyên tới dinh Độc Lập. Chiến tranh dừng lại đúng vào lúc chúng tôi đến cổng ngôi trường này. Chúng tôi ngước lên trời, vòm trời thật xanh và hoa phương vĩ rung rinh đỏ.

Đêm ấy trường Lê Quí Đôn náo nức cười nói và màu áo rừng Trường Sơn của bộ đội. Trung đoàn bộ và một số đại đội trực thuộc đóng ngay trong trường.  Bộ đội hạ ba lô và ghép bàn học sinh làm giường để ngủ. Đêm 30/4 ai mà ngủ được. Sài Gòn điện vẫn lung linh sáng, trai gái vẫn dắt nhau đi dọc đường Trần Quí Cáp. Đêm tinh khôi như chưa hề có chiến tranh. Trong tôi, thành phố yên ả và nghe có tiếng còi tàu từ bến Bạch Đằng vọng lại.

Đêm 30/4/1975 hàng ngàn người lính chúng tôi thao thức. Cả Sài Gòn thao thức. Cả Việt Nam thao thức. Tôi nhớ miền bắc nhớ mẹ cha nhớ trường đại học Cơ Điện trên Việt Bắc của tôi mà tôi tạm biệt đã 4 năm. Tôi mong chóng sáng để ngày mai tôi nhìn thấy Sài Gòn rõ hơn để ngày mai tôi sẽ viết lá thư về cho mẹ.

Sáng 1/5/75. Chưa kịp thực hiện viết thư về cho mẹ thì tôi nhận lệnh mang theo trang bị vũ khí lên gặp ban Chính trị trung đoàn nhận nhiệm vụ. Tôi đến ban chính trị ở trong căn phòng Hành chánh của trường Lê Quí Đôn sát cổng chính vào từ phía hàng rào dinh Độc lập. Khi tôi vào đã có các thủ trưởng Trung đoàn và ba người lạ mặc đồ dân sự. Tôi báo cáo thủ trưởng có mặt và chào ba vị khách hai nam một nữ. Chủ nhiệm chính trị trung đoàn nói:

- Đây là các vị giáo chức của trường Lê Quí Đôn. Hôm nay nhà trường có tổ chức một cuộc gặp mặt của thầy cô giáo và học sinh nhà trường với chiến sĩ quân giải phóng. Trung đoàn chọn cử ba người gồm đồng chí và hai đồng chí nữa là Lê Hỏa và Phạm Hoài Thủy dự cuộc gặp gỡ của các vị đây với học sinh sinh viên.

Tôi quay sang nhìn ba thầy cô giáo. Các thầy cô gật đầu tươi cười với tôi. Tôi vui bao nhiêu thì tôi cũng hoang mang bấy nhiêu. Lần đầu tiên gặp gỡ với những con người của Sài Gòn không biết nói gì đây, tôi chưa hình dung ra cuộc gặp mặt này sẽ có nội dung gì. Nhưng là người lính, nhận nhiệm vụ là chỉ biết phải thi hành thật tốt. Tôi đứng nghiêm:

- Báo cáo chủ nhiệm tôi hứa hoàn thành nhiệm vụ.

Cùng tham gia buổi gặp gỡ hôm ấy còn có anh Lê Hỏa và anh Phạm Hoài Thủy. Hai anh đều là giáo viên cấp 3 nhiều năm trước khi đi bộ đội. Hội trường của trường Lê Quí Đôn hôm ấy đơn sơ, chỉ có tấm bảng ghi dòng chữ “Gặp gỡ bộ đội Trường sơn”. Anh Phạm Hoài Thủy người Hà Nội sinh năm 1940 nguyên là giáo viên văn của cấp 3 Trần Phú ở Vĩnh Yên nhìn tôi bảo, chú mày liệu mà phát biểu với tư cách học sinh miền bắc XHCN. Tôi lại càng hồi hộp. Lúc mới đầu chỉ chừng ngót trăm người trong khán phòng dần dần càng đông lên. Tôi nhìn xuống thấy có cả phóng viên nước ngoài. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy máy quay phim thấy họ quay phim và ghi chép. Các thầy cô giáo và sinh viên mặc đẹp lắm, nhất là các cô và các bạn học sinh nữ mặc áo dài thật tươi tắn. Hai anh Lê Hỏa và Hoài Thủy nói về sự nghiệp giáo dục của các anh ấy ở Miền Bắc trước ngày đi chiến đấu. Các anh nói về người thầy ở đâu cũng là người đưa đò giống nhau, ở đâu cũng là người làm nghề cao quí. Tôi thấy dưới khán phòng vỗ tay nhiều, dần dần không khí cuộc gặp gỡ thân tình không một chút gượng ép. Mỗi lần anh Phạm Hoài Thủy nói bằng tiếng Pháp thì cả khán phòng rộ lên vỗ tay (anh Thủy rất giỏi tiếng Pháp).

Đến lượt tôi lên phát biểu. Một thầy đứng lên giới thiệu tôi là một sinh viên đại học đi bộ đội. Nhiều ánh mắt tò mò nhìn theo tôi. Tôi run như thể học trò lên bảng ngày nào:

- Em Thưa các thầy giáo cô giáo, thưa các bạn học sinh sinh viên. Cả khán phòng ồ lên. Tôi bỗng nhìn thấy hàng ghế đầu các thầy cô giáo lau nước mắt. Có một cô giáo đứng lên, mãi cô giáo mới nói nên lời:

- Quí anh gọi chúng tôi là thầy cô hả… anh? Tôi trả lời:

- Thưa vâng ạ. Đã 4 năm nay em mới lại được lên bục để chào các thầy cô giáo, em như thấy em đang ở trường học của mình. Cô giáo lau nước mắt mãi mới nói được:

- Em cho tôi hỏi em, suy nghĩ của em về người Sài Gòn ngày hôm nay.

Tôi nói ngay thật tự nhiên. :

- Thưa cô, em không thấy có gì phải suy nghĩ nhiều vì đây là đồng bào của mình.

Nhìn xuống dưới thấy nhiều người lau nước mắt hơn. Có lẽ thấy tôi còn trẻ phát biểu tự nhiên nên không khí sôi động hẳn lên.

Một bạn nữ sinh viên đứng lên hỏi:

- Nếu một người con gái Sài Gòn yêu anh thì quí anh có đồng ý không?

Thật bất ngờ vì câu hỏi đấy và tôi cũng cứ nói tự nhiên không chút đắn đo:

- Các bạn Sài Gòn thật là đẹp tôi ước gì yêu được một cô gái Sài Gòn.

Thế là cả hội trường đầy tiếng cười và vỗ tay dào dạt. Đứng trên bục tôi thấy mặt mình nóng ran thấy các anh Lê Hỏa và Hoài Thủy cũng cười và vỗ tay. Một thầy giáo đứng lên, thầy giới thiệu:

- Tôi tên là Ngươn em cho tôi hỏi, những năm qua là sinh viên miền Bắc em có biết gì về phong trào “Hát cho dân tôi nghe “ của sinh viên Sài Gòn không?

Tôi thưa:

-  Thưa thày em có biết, những năm 1971, 1972 các trường đại học miền bắc luôn theo dõi phong trào của các bạn sinh viên miền Nam. Cũng từ phong trào đó mà ở đại học miền bắc ai cũng thuộc và hát bài TIẾNG HÁT NHỮNG ĐÊM KHÔNG NGỦ của nhạc sĩ Phạm Tuyên ca ngợi ủng hộ phong trào “Hát cho dân tôi nghe” đó. Tiếng vỗ tay ào ào, bao nhiêu nụ cười và ánh mắt yêu mến dành cho tôi. Cả hội trường đề nghị tôi hát bài hát đó. Chủ nhiệm chính trị nhìn tôi khuyến khích. Cũng thật may mắn, trước khi nhập ngũ tôi là cây đơn ca ở trường Đại Học Cơ Điện và vào bộ đội tôi là cây Văn nghệ  của Sư đoàn. Thế là tôi hát. Tôi hát như ngày nào tôi đã hát ở trường đại học của mình, lúc ấy tôi như thấy bao đứa bạn tôi trong tốp ca ngày xưa họ cũng đã lên đường đi chiến đấu như tôi. Giữa một sáng Sài Gòn tôi được hát cho các thầy cô giáo và các bạn học sinh miền Nam nghe. “Tuổi trẻ ơi, giữ ước mơ độc lập tự do phất cao cờ…”

Tôi không nhớ cuộc mít tinh ấy kết thúc lúc nào, tôi chỉ nhớ các thầy và các bạn vây quanh tôi và bao nhiêu lời thăm hỏi ríu rít, bao nhiêu hoa và cờ đỏ trên tay. Các thầy các bạn hỏi quê tôi, hỏi thăm về cha mẹ tôi… Sáng tháng năm Sài Gòn ở sân trường Lê Quí Đôn đầy những hoa những cờ đỏ, nước mắt và nụ cười.

Trung đoàn tôi chỉ được ở lại trong nội đô chừng một tuần. Tôi cũng đã viết bài thơ “Nước mắt sân trường”. Tôi có may mắn là còn giữ được tấm ảnh và bài thơ ngày ấy trong gia sản ba lô trở về từ chiến trường. Bài thơ mộc mạc ngây thơ mà sao mỗi lần đọc lại tôi thấy lòng xốn xang đến thế.

Đã sắp bốn mươi năm rồi, cứ mỗi khi ngày 30/4 về tôi lại nhớ về trường Lê Quí Đôn. Càng về già tôi càng hiểu và khâm phục sự tinh tế nhậy cảm của một ngôi trường truyền thống 140 năm tuổi. Có lẽ đây là ngôi trường duy nhất sớm nhất làm một cái việc mà không ai ngờ tới đó là một cuộc hội thảo thầy trò ngay trong ngày đầu tiên giải phóng. May mắn cho tôi đã có mặt trong cuộc hội ngộ thầy trò cảm động đến thế. Nhiều năm qua mỗi khi có dịp đi công tác thành phố Hồ Chí Minh tôi đều đi bộ đến đây nhìn vào mái trường với niềm yêu dấu. Tôi nhớ những gốc cây cổ thụ trong trường rì rào gió, tôi nhớ thầy giáo Ngươn, cô giáo Liễu… nhớ các bác lao công ở trong trường khi chúng tôi tiến vào đóng quân những ngày đầu ở đó đã từng giúp đỡ chúng tôi. Cám ơn lịch sử cho tôi được có một ngày vui sướng đến vậy. Tôi có được may mắn này là do sứ mệnh những đồng đội đã hi sinh để lại cho mình.  Những đồng đội tôi đã chết để cho tôi được mang vinh dự ấy thay cho họ. Lịch sử cũng làm nên một thế hệ các thầy cô giáo và học trò quên cả đời mình cho cuộc kháng chiến để thống nhất tổ quốc.

 Sắp đến ngày 30/4 /2015.  Tôi thầm mong ước ngày trở lại Sài Gòn. Tôi cầu chúc sức khỏe các thầy cô giáo trường Lê Quí Đôn ngày ấy nay đang sống ở đâu đó trên khắp nước ta hay đang ở nước ngoài luôn được bằng an, hạnh phúc. Tôi gửi lòng ngưỡng mộ yêu quí Trường Trung học Lê Quí Đôn ngày nay,  một kỉ niệm đẹp suốt đời tôi nhớ.

***

Dưới đây là bài thơ tôi viết ngày ấy

NƯỚC MẮT SÂN TRƯỜNG.

Đã 4 năm tôi xa mái trường

4 năm tôi cầm súng vượt Trường Sơn chiến đấu

Những người học trò mang bài học vào lửa máu

Để sáng nay đứng giữa Sài gòn

Để sáng nay tôi đứng giữa sân trường

Bên kia đường là dinh Độc Lập

Ngoài cổng trường kia là nơi cuối cùng cuộc chiến tranh dừng lại

Tôi gặp thầy cô giáo giữa mùa hoa phượng rưng rưng

Tôi lại nhìn lên tấm bảng đen

Nét phấn của thầy nghiêng về phía trước

Tiếng chim lảnh lót

Sáng tháng năm này thành phố những cờ hoa

Bao nhiêu chặng đường tôi qua

Bao nhiêu học trò nằm lại

Bao nhiêu sách giáo khoa gửi lại

Bạn bè ơi, giảng đường đại học đến rất gần

Tôi ra đi từ một mái trường

Ngày chiến thắng đứng chân ở một mái trường bên dinh Độc lập

Chúng tôi òa khóc

Tháng năm này hoa phượng gửi về ai?

Thưa thầy chúng em đã tới nơi

- Nơi tổ quốc gọi chúng em đi đến

Các thầy cô trìu mến

Nước mắt rơi trên quân phục tôi xanh

Nước mắt sân trường một sáng tháng năm

Nước mắt của ba mươi năm dồn lại

Giữa sân trường Lê Quí Đôn tôi gọi

Mái trường ơi em sẽ trở về

 

SG 6 tháng 5/75 NT