Ngã xuống trước bình minh để Tổ quốc trọn vẹn mùa Thu

Trong hành trình giữ nước của dân tộc Việt Nam, có những con người không kịp chờ đón ngày chiến thắng, nhưng tên tuổi và lý tưởng của họ đã hóa thành bất tử. Liệt sĩ – Thiếu tá Nguyễn Xuân Thư, Phó Trung đoàn trưởng Trung đoàn 10, Sư đoàn 4, Quân khu 9, người con của quê hương Thanh Lĩnh, Thanh Chương, Nghệ An, là một biểu tượng sống động như thế.
anh-tu-lieu-1787305607.jpg

Ở tuổi 26, anh đã ngã xuống tại Long Mỹ (Cần Thơ), chỉ vài giờ trước khi Hiệp định Paris có hiệu lực, mang theo tuổi xuân và máu xương để đổi lấy hòa bình cho Tổ quốc. Cuộc đời anh, từ người lính trẻ ra đi theo tiếng gọi non sông, đến khi trở thành người chỉ huy tài ba, đã viết nên một trang sử vàng chói lọi, thể hiện trọn vẹn tinh thần "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Chiến công trên khắp các chiến trường

Năm 1964, khi cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước đang bước vào giai đoạn cam go nhất, Nguyễn Xuân Thư, chàng thanh niên 18 tuổi, với dáng người mảnh khảnh nhưng ý chí kiên cường, đã gác lại bút nghiên, viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Anh là một trong số ít những người có trình độ học vấn cao tại địa phương lúc bấy giờ. Sau ba tháng huấn luyện cấp tốc tại Nghệ An, Nguyễn Xuân Thư được biên chế vào Trung đoàn 95 và sau đó là Trung đoàn 10, bắt đầu cuộc hành quân vĩ đại vượt Trường Sơn vào chiến trường miền Nam. Chặng đường hành quân đầy gian lao, vất vả, thiếu thốn đủ bề nhưng không làm nản lòng người lính trẻ. Anh cùng đồng đội đã vượt qua suối sâu, đèo cao, chiến đấu với đói khát, bệnh tật để có mặt tại chiến trường Tây Nguyên, nơi những thử thách đầu tiên đang chờ đón. Chính tại đây, người lính Nguyễn Xuân Thư đã có những trải nghiệm đầu tiên về sự khốc liệt của chiến tranh.

Cuộc đời binh nghiệp của Nguyễn Xuân Thư gắn liền với những trận đánh vang dội. Từ Tây Nguyên (1965-1968) đến miền Tây Nam Bộ (1969-1973), dấu chân anh in đậm trên nhiều trận địa: Giá Ngựa, Vàm Đình, Thị Tường, Bà Thầy, Cái Nước, Nổng Cạn… Mỗi trận đánh, Nguyễn Xuân Thư đều là người đi đầu, dám nghĩ, dám đánh, dám chịu trách nhiệm. Đồng chí Hoàng Đình Kiền – nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 10, nhớ lại: “Tôi đã từng chứng kiến đồng chí Thư chỉ huy trận đánh cầu Đình Khao, trận Giá Ngựa, trận Thị Tường, trận Long Mỹ… Với phẩm chất xuất sắc của một người chỉ huy trực tiếp chiến đấu, đồng chí hoàn toàn xứng đáng với vị trí Phó Trung đoàn trưởng khi mới 26 tuổi.” Không chỉ là người lính xung phong, Nguyễn Xuân Thư còn là người anh của đồng đội. Cựu chiến binh Nguyễn Thừa kể: “Đồng chí Thư sống giản dị, gần gũi với anh em. Được anh chỉ huy là niềm vui, là động lực cho nhiều chiến sĩ. Anh không cần nói nhiều, nhưng mỗi lời nói đều khiến người khác nể phục”. Sau những năm chiến đấu tại miền Trung - Tây Nguyên, Nguyễn Xuân Thư cùng Trung đoàn 10 nhận nhiệm vụ đặc biệt: hành quân vào chiến trường miền Tây Nam Bộ, một trong những nơi mà cách mạng gặp nhiều khó khăn nhất. Đây là thời kỳ Mỹ thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Tại đây, Nguyễn Xuân Thư đã cùng đồng đội nghiên cứu và vận dụng sáng tạo chiến thuật đặc công "nở hoa trong lòng địch", một hình thức chiến đấu độc đáo, vừa bí mật, vừa chớp nhoáng, vừa hiệu quả. Vào một đêm tháng 8/1970, khi được lệnh tiêu diệt chi khu Giá Ngựa, thay vì đánh cường tập như cách đánh thông thường, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Xuân Thư đã chỉ huy một tiểu đội trinh sát luồn sâu vào bên trong đồn địch, lợi dụng sự sơ hở của địch để tiêu diệt chúng. Với tín hiệu từ nội ứng bên trong, anh đã ra lệnh cho quân ta đồng loạt tấn công. Cách đánh táo bạo này đã làm cho quân địch hoảng loạn, không kịp trở tay, và ta đã nhanh chóng làm chủ trận địa, tiêu diệt toàn bộ đồn giặc mà không hao tổn nhiều lực lượng.

Long Mỹ là cứ điểm chiến lược của địch ở miền Tây Nam Bộ. Ngày 27/1/1973, khi Hiệp định Paris sắp có hiệu lực, Trung đoàn 10 nhận nhiệm vụ đánh chiếm chi khu này để mở thông vùng giải phóng, buộc địch từ bỏ ý chí chiếm đóng. Khi tiểu đoàn trưởng hy sinh giữa trận, Nguyễn Xuân Thư lập tức tiếp nhận quyền chỉ huy. Giữa mưa bom, đạn pháo, anh vẫn bình tĩnh phân tích tình hình, ra quyết định táo bạo: chuyển hướng đột phá sang một điểm ít phòng bị, tạo bất ngờ chiến thuật. Đồng chí Dương Xuân Quang kể: “Trong làn đạn dày đặc, anh Thư vẫn bình tĩnh phân tích tình hình, chọn hướng đột phá mới khiến địch hoảng loạn. Anh có tầm nhìn chiến thuật rất tốt”. Lực lượng ta áp sát, tiêu diệt hàng trăm tên địch, đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn, bắn cháy 3 xe M113, bắn rơi 1 máy bay trực thăng. Nhân chứng Sáu Cử nhớ lại: “Khi mũi chủ công áp sát, anh Thư vừa đánh vừa hô lớn cổ vũ, tạo khí thế cho bộ đội và du kích. Địch bị đánh bất ngờ, tan rã nhanh chóng”. Nhưng chính trong giờ phút chiến thắng đang cận kề, một loạt bom đã cướp đi sinh mạng anh. Người liên lạc Tiểu đoàn 7 kể: “Khi sở chỉ huy bị trúng bom, anh Thư là người cuối cùng rời trận địa, nhưng cũng là người mãi mãi nằm lại đó. Chính anh giữ vững tinh thần cho cả đơn vị”. Sự hy sinh ấy mang đậm chất bi tráng: một người lính trẻ, biết chiến thắng chỉ còn cách vài giờ, nhưng vẫn xông lên cho đến phút cuối – đúng với tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của Quân đội nhân dân Việt Nam.

hinh-anh-bac-thu-1787305632.png

Người ở lại trong ký ức đồng đội và lịch sử

Nguyễn Xuân Thư không có phần mộ để đồng đội thắp hương mỗi dịp Tết, nhưng ký ức về anh là nén hương bất diệt trong lòng đồng chí, đồng đội. Đồng chí Hoàng Đình Kiền khẳng định: “Nếu còn sống, đồng chí Thư chắc chắn sẽ là cán bộ chỉ huy cao cấp của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Những gì anh để lại cho đồng đội, cho lịch sử là xứng đáng với danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”. Với cựu chiến binh Nguyễn Văn Hanh, điều khiến anh nhớ nhất là sự khiêm nhường của Nguyễn Xuân Thư: “Sau trận Long Mỹ thắng lợi, anh chỉ nói: ‘Đây là chiến công của cả đơn vị’. Chúng tôi rất quý anh ở sự khiêm nhường đó”. Trong sách về Lịch sử Trung đoàn 10, tên Nguyễn Xuân Thư được ghi trang trọng bên cạnh các chiến công lẫy lừng. Anh không chỉ là tấm gương của một cá nhân, mà còn là đại diện tiêu biểu cho thế hệ “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” – những người đã biến lời thề “vì nhân dân quên mình” thành hiện thực. Ở anh, lý tưởng cách mạng hòa quyện với phong cách lãnh đạo gần gũi, giàu nhân văn – một phẩm chất đặc biệt của Bộ đội Cụ Hồ.

Âm vang khúc quân hành bất tử và lời hẹn ước với non sông

Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng mỗi lần nhắc đến Long Mỹ – cái tên ấy vẫn gợi lên âm vang của một bản hùng ca. Trong ký ức những người lính già, hình ảnh Nguyễn Xuân Thư không chỉ là đồng đội, người chỉ huy, mà còn là một phần của linh hồn Trung đoàn 10. Anh đã sống đúng với lời thề trước lá cờ Tổ quốc: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Điều làm nên tầm vóc Nguyễn Xuân Thư chính là sự hòa quyện giữa truyền thống “Quyết chiến – Quyết thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam với tinh thần sáng tạo, linh hoạt của người chỉ huy trẻ. Trong từng trận đánh, anh luôn biết chọn thời cơ, khai thác điểm yếu của địch, kết hợp mưu trí và dũng cảm. Đó không chỉ là bản lĩnh cá nhân, mà là sự kết tinh của một thế hệ được rèn luyện trong gian khổ, trưởng thành qua chiến đấu. Sự hy sinh của anh cũng nhắc nhở rằng, hòa bình hôm nay không phải tự nhiên mà có. Mỗi mét đất, mỗi giây phút thanh bình đều được đánh đổi bằng máu xương. Vì thế, trách nhiệm của thế hệ sau không chỉ là tưởng nhớ, mà còn là giữ gìn và phát huy truyền thống, sống xứng đáng với những người đã ngã xuống.

Long Mỹ 1973 và Hà Nội mùa thu 2026 cách nhau hơn nửa thế kỷ, nhưng có một sợi chỉ đỏ xuyên suốt: khát vọng độc lập, tự do và hạnh phúc của dân tộc. Nếu như thế hệ 1945 giành chính quyền bằng ý chí quật cường, thì thế hệ Nguyễn Xuân Thư giữ vững thành quả ấy bằng máu xương nơi chiến trường. Chính vì thế, khi ngẩng cao đầu trong ngày Quốc khánh, chúng ta không chỉ tự hào về một Việt Nam thống nhất, giàu mạnh, mà còn biết cúi đầu tưởng nhớ những người đã nằm xuống để làm nên điều đó. Trong không khí trang nghiêm của Lễ kỷ niệm 81 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 (1945-2026), câu chuyện về anh hùng liệt sĩ Nguyễn Xuân Thư càng trở nên ý nghĩa. Thế hệ chúng ta, được sống trong hòa bình, độc lập hôm nay, không thể nào quên những hy sinh thầm lặng nhưng vĩ đại của các thế hệ cha anh. Tên tuổi của anh, cùng với hàng triệu anh hùng liệt sĩ khác, mãi là biểu tượng bất diệt về lòng yêu nước, là lời nhắc nhở về giá trị của hòa bình, độc lập, tự do. Dư âm của một huyền thoại như anh vẫn còn mãi, là ngọn lửa thiêng liêng sưởi ấm tâm hồn người Việt, là động lực để chúng ta tiếp tục xây dựng và bảo vệ đất nước, xứng đáng với những gì các thế hệ đi trước đã đổ máu hy sinh để làm nên lịch sử hào hùng của dân tộc. Bài học của hòa bình là phải biết giữ gìn, trân trọng và vun đắp. Hòa bình không phải món quà ban tặng, mà là thành quả trả giá bằng cả tuổi xuân của những chàng trai như Nguyễn Xuân Thư. Hòa bình đòi hỏi chúng ta hôm nay – thế hệ sinh ra giữa thanh bình – phải sống có lý tưởng, có trách nhiệm, đóng góp trí tuệ và công sức vào sự nghiệp xây dựng đất nước hùng cường, sánh vai cùng năm châu như ước nguyện của Bác Hồ./.