
Tôi sinh ra, lớn lên tại một trong năm cửa ô Hà Nội: Ô Yên Phụ. Học hành, yêu đương, lấy vợ rồi sinh đứa con đầu lòng cũng ở đây. Giờ mẹ tôi và người anh cả vẫn sống trong một căn hộ mặt phố, nơi từng chứa bảy anh em lít nhít, của ngôi nhà hai tầng được xây từ năm 1929, đúng năm sinh mẹ tôi.
Thuở bé, đứng trên sân thượng của ngôi nhà, anh em tôi có thể nhìn thấy nước sông Hồng đỏ sẫm sát tận chân con đê, thấy Hồ Tây xanh rười rượi với những cánh buồm nhỏ ngay trước mặt. Tôi năng về, vừa để thăm mẹ, phần nữa để du ngoạn cho nguôi ngoai nỗi nhớ quê. Càng đi lâu càng nhớ, càng già, nỗi nhớ càng da diết hơn... Lần gần nhất tôi về là vào cuối tháng 2 vừa rồi (năm 2018), ngay sau rằm tháng Giêng. Trong 21 ngày ở Hà Nội chỉ có hai ngày khô ráo, còn lại toàn mưa rả rích. Đường phố, cây cối, nhà cửa chỗ nào cũng ướt lép nhép. Vậy mà chả ngày nào không đội mưa ra đường. Lúc ra khỏi nhà sạch sẽ, bảnh bao. Lúc về bùn bắn từ đầu đến chân. Đôi giày đen vốn bóng nhoáng giờ như hai cục gạch chưa nung. Lại nhận ra, bẩn đôi khi cũng có cái thú, mấy khi được sống bỗ bã khác với cách sống thường nhật. Chẳng riêng gì mình, Tây du lịch cũng khoái chen nhau đi dưới mưa, cũng dầm chân trong bùn, cũng xì xồ, cười nói vui vẻ. Trời khô ráo, đường xá sạch bong, chắc gì đã thích. Mà cái mùa Xuân này, Hà Nội không mưa dầm thì cũng chẳng đúng vị.
Mưa xuống cho Tháp Rùa bàng bạc ẩn hiện trong mịt mờ dăng dăng sau hàng liễu rủ trở nên lung linh, huyền bí, trầm mặc hơn. Tôi thích ngắm Hồ Gươm như thế. Dưới mưa bay bay, Tháp Rùa nguyên vẹn một vẻ cô tịch, rêu phong, và mặt nước thì rất tĩnh lặng, như lòng người được chùng xuống trong một khoảnh khắc bình yên hiếm hoi. Trong khung cảnh ấy, một người xa xứ trở về, Hồ Gươm đã ngay trước mặt, vẫn thấy còn đây một nỗi nhớ nhung yêu thương da diết...
Tôi có cô con gái nuôi đang học Đại học Sư phạm Thái Nguyên, nhưng sinh ra tận heo hút vùng núi Cao Bằng. Biết bố về, cứ đòi xuống chơi Hà Nội. Thấy nó đi đứng líu quíu, mắt tròn, mắt dẹt, lúc ồ, lúc à, tôi hỏi: Gì vậy con? Nó bảo: Hà Nội hay nhỉ! Phố nào cũng giống phố nào. Không có bố, con lạc chết. Hỏi nó, thế con chưa xuống đây bao giờ à? Nó đáp hồn nhiên: Chưa ạ! Xuống rồi thì con xuống làm gì, tốn tiền bố. Nghe con nói thế tôi càng thêm hăm hở dẫn nó đi khám phá Hà Nội. Một lão già người Hà Nội xa xứ, một đứa con gái vùng cao chưa một lần thấy Thủ đô. Tuy khác nhau tuổi tác, khác nhau gốc gác, nhưng cùng một ham muốn là biết Hà Nội cho tận cùng: Một người để thỏa nỗi nhớ xa quê, một người để thỏa sự hiểu biết. Hai bố con dắt díu đi dưới mưa bay bay. Con bé sợ lạc thật nên cứ như trẻ lên ba, nắm chặt áo bố, dềnh dang trôi trên từng phố cổ. Tôi đưa nó đi nhể ốc ở Hàng Chiếu, ăn nộm bò khô nơi phố Hoàn Kiếm, hứng mưa chụp ảnh chân cầu Thê Húc... Rồi vào nhà Thủy Tạ, ngồi sát hồ, ăn kem cốc trong cái lạnh của mưa, của gió vừa ngắm Nhà Bưu điện Thành phố phía đối diện ẩn trong mưa như ẩn trong dải voan mong manh trắng mờ...
Nhìn mưa phùn giăng như sương lại nhớ tối hôm rồi, tôi cùng nhóm bạn lên Sen Đầm Trị Tây Hồ. Nghe nói mùa Hè nơi đây đông đúc và ngồi đâu cũng ngào ngạt hương sen. Hôm tôi đến, mưa và vắng khách. Đầm sen chỉ còn là khoảng tối đen mênh mông, thấp thoáng những tàu lá khô va xào xạc. Bên kia bờ hồ, những đêm trời trong có thể nhìn thấy hàng đèn trên đường Thanh Niên sáng nhấp nháy. Vượt qua vòng cung vườn hoa Lý Tự Trọng là trường Bưởi xưa nổi tiếng, sau mang tên trường Chu Văn An, một thời tôi theo học.
Tôi có thằng bạn thân, học cùng lớp, ở cùng phố, nhà gần như đối diện nhau trên con phố Yên Phụ nhỏ, nơi có hàng bàng cổ thụ dày dịt nhất Hà Nội, và xa hơn, nơi cuối phố, là hàng cây cơm nguội cũng đẹp nhất Hà Nội chạy dài suốt, qua khách sạn Thắng Lợi tới tận đầu Nghi Tàm. Ngày nào hai đứa cũng đi học cùng nhau. Cùng bám theo một em học lớp dưới tên Tám, nhà ở ngay đầu dốc đường Thanh Niên. Tám xinh lắm, da trắng, mắt đen, môi đỏ hồng và mái tóc dài mượt. Hai thằng cứ lẽo đẽo lặng nhìn Tám từ phía sau, nhìn đôi bím tóc dày lúc lắc sau lưng suốt năm lớp chín, qua năm lớp mười, mà chẳng bao giờ dám gặp tận mặt và nói được một câu...
Tôi đưa con gái lên cầu Long Biên. Bầu trời xám xịt làm cây cầu vốn cũ kỹ càng thêm đen sì. Mưa nơi sông bãi như mau hạt hơn, gió thổi hun hút dọc con sông rộng, mùa này còn trơ bờ bãi. Nước dưới sông chỉ còn một dải hẹp, vài con thuyền mỏng mảnh đậu leo pheo. Hai bố con dang chân, dang tay chụp ảnh, ghé tai vào thanh cầu, nghe gió thổi u u. Gió thổi hồng bếp than của mấy cô như thôn nữ bán ngô, đưa mùi ngô nướng thơm nồng bay trong gió mênh mang. Tôi ngồi thẫn nhìn dòng người hối hả qua lại... Nhớ những chiều mùa Đông cuối tuần của biết bao năm xưa, ngồi trên gióng ngang xe đạp bố, trở về từ nơi sơ tán, khi mặt trời lặn tím đỏ triền đê cũng là lúc chạm chân cầu.
Nhớ những đêm năm nào từ chiến trường ra, chở người yêu lắc lư trên cái gác-ba-ga yếu của chiếc xe Mi-pha màu cá vàng, vượt cầu từ mạn Hà Nội sang Đông Anh, nơi có trạm an dưỡng... Những kỷ niệm hoang hút cứ theo nhau ùa về. Nếu không trở về, nếu không ngồi chính nơi đây: kỷ niệm cũ đã xa thật xa...
Chuyện quê