Sự khác biệt cơ bản giữa chiến trường thực hiện nghĩa vụ quốc tế giúp nhân dân Campuchia và cuộc chiến tranh giải phóng, bảo vệ Tổ quốc không chỉ ở địa bàn, thế trận chiến tranh nhân dân mà còn ở tính chất, nhiệm vụ tác chiến. Trên chiến trường quốc tế, quân tình nguyện Việt Nam phải đối mặt với những điều kiện đặc thù, nhiều khó khăn, thử thách hết sức khắc nghiệt trong nhiệm vụ truy quét, tiêu diệt các lực lượng Khmer Đỏ, góp phần giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng.
Nếu như trong cuộc chiến tranh giải phóng trước đây, ta có thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, với sự phối hợp chặt chẽ của ba thứ quân và sự đùm bọc, che chở của nhân dân, thì trên chiến trường Campuchia, nhiều địa bàn tác chiến gần như không còn dân cư. Bộ đội ta vừa phải chiến đấu, vừa giúp bạn xây dựng lực lượng, khôi phục và củng cố chính quyền cơ sở trong điều kiện gần như phải bắt đầu từ con số không.

Nếu như ở chiến trường nội địa trước đây, quân ta không phải đối mặt với hỏa lực phi pháo oanh tạc của không quân địch (ngoại trừ vùng ngã ba biên giới có quân đội Thái Lan tham chiến trực tiếp trong một giai đoạn), thì sự khác biệt cơ bản về mặt lực lượng lúc này là: Ta chủ yếu là quân số thực hiện nghĩa vụ quân sự mới sang, trong khi quân địch lại là lực lượng đã được huấn luyện, rèn luyện bài bản trong chiến tranh du kích từ trước cho đến thời điểm hiện tại của cuộc chiến.
Nếu như quân ta phải chiến đấu trên một địa hình hoàn toàn xa lạ thì quân địch lại là những kẻ bản xứ, thông thuộc đường đi lối lại và có cả một hệ thống tình báo, gián điệp cài cắm sẵn trên địa bàn từ lâu.
Đặc điểm địa hình ở đây chủ yếu là đồng bằng và rừng khộp trải dài. Việc xác định vị trí chính xác trong rừng khộp vô cùng nan giải do không có các điểm cao, đỉnh núi lớn để giao hội bản đồ. Đây thực sự là những khó khăn, thách thức cực kỳ lớn đối với lực lượng trinh sát chuẩn bị chiến trường, đặc biệt là vào mùa khô khốc liệt.
Sau chiến dịch tổng tiến công năm 1979, chỉ trong vòng mấy tháng ngắn ngủi, quân địch đã bị sức mạnh của ta đè bẹp và tan rã nhanh chóng. Tình thế đó buộc chúng phải rút toàn bộ cơ sở, lực lượng sang ẩn náu bên kia biên giới, trên đất Thái Lan.
Hành động này nằm trong ý đồ chiến lược nhằm tạo ra một vùng đệm an toàn, tránh đòn truy quét của quân ta, vốn đã được phía Thái Lan và các tập đoàn Khmer phản động ngầm chấp thuận. Chúng tổ chức xây dựng các căn cứ kiên cố trên đất Thái, rồi từ đó đưa các toán quân bí mật đột nhập ngược trở lại nội địa Campuchia để tiến hành những hoạt động phá hoại ta và bạn.
Đối với lực lượng bộ binh chủ lực của ta, do đặc thù phương tiện kỹ thuật nên chỉ có thể mở các chiến dịch quy mô lớn vào mùa khô. Thế nhưng, đối với lực lượng Đặc công, nhiệm vụ tác chiến là bất kể địa hình, không quản thời tiết mưa nắng!
Bộ đội bắt buộc phải luồn sâu vào tận sào huyệt, hang ổ lõi của địch để tiêu diệt các sinh lực cao cấp và cơ quan chỉ huy đầu não của chúng, dù chúng có ẩn náu ở bất cứ đâu trong khu vực chiến sự.
Một sự khác biệt rất cơ bản so với chiến trường nội địa, đó là việc tìm ra địch và vượt qua hệ thống chướng ngại vật, mìn bẫy dày đặc, tràn lan mà địch bố trí xung quanh khu vực đóng quân của chúng!
Việc cấp trên giao nhiệm vụ phải tìm kiếm mục tiêu địch trên một địa bàn rộng lớn hàng trăm cây số vuông buộc các đơn vị phải chia nhỏ lực lượng, giao cho các phân đội tiến hành cắt rừng dọc ngang để tìm kiếm, khảo sát và kết luận chính xác xem có mục tiêu hay không. Đây hoàn toàn là một bài toán không hề đơn giản.
Thông thường, khi mệnh lệnh cấp trên truyền xuống: “Theo thông tin cung cấp từ nguồn mật tình báo chiến lược A…”, thì ban chỉ huy chúng tôi bắt buộc phải giao nhiệm vụ độc lập cho nhiều bộ phận trinh sát khác nhau cùng luồn sâu vào một khu vực tọa độ được chỉ định. Biện pháp này nhằm mục đích kiểm tra chéo số liệu giữa các mũi, từ đó mới đưa ra được kết luận rõ ràng, chính xác nhất trước khi nổ súng.
Công tác đột nhập, điều nghiên trong chiều sâu đội hình phòng thủ của địch đòi hỏi phải vượt qua nhiều tuyến bố phòng mìn hướng, mìn bẫy, các toán tuần tra canh gác nghiêm ngặt và những chốt tiền tiêu của đối phương.
Có những chuyến luồn sâu kéo dài hàng chục ngày trời ròng rã, người lính Đặc công phải tự bảo đảm lấy tất cả mọi thứ: từ lương thực, ăn uống, súng đạn mang theo cho đến công tác tự cứu chữa, tải thương, bảo vệ thương binh, tử sĩ khi có tình huống bất ngờ xảy ra…
Bộ đội phải liên tục đối phó với những đòn phục kích, truy kích và bao vây của địch trên một vùng chiến sự mà xung quanh toàn là quân thù, bãi mìn dày đặc và vách đá dựng đứng. Ranh giới tự nhiên giữa Thái Lan và Campuchia là dãy núi Đặng Rếch vô cùng hiểm trở.
Đó là những khó khăn, nguy hiểm tột cùng mà lực lượng Đặc công và trinh sát của ta bắt buộc phải tìm cách khắc phục và vượt qua bằng mọi giá.

Bản lĩnh Đặc công Việt Nam
Muốn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ luồn sâu vào đất địch, tìm ra sào huyệt để tiêu diệt chúng, yếu tố tiên quyết trước hết phải bắt nguồn từ: BẢN LĨNH CỦA QUÂN TA! Ngoài tinh thần kiên cường và ý chí sắt đá, đội ngũ cán bộ chỉ huy phải có đủ tầm nhìn, đủ năng lực tương xứng với chức trách, nhiệm vụ.
Người chiến sĩ phải được huấn luyện thuần thục, điêu luyện các kỹ năng cần thiết cho nhiệm vụ tác chiến, bảo đảm bí mật tuyệt đối trong mọi sinh hoạt khi đã nằm trong lòng địch; đồng thời chấp hành mệnh lệnh và các quy định kỷ luật chiến trường một cách tuyệt đối nghiêm minh.
Quy định khắt khe được quán triệt thành nguyên tắc sống còn: Một khi đã bước chân qua đường biên giới sang đất địch, tuyệt đối không ai được phép nói thành tiếng mà tất cả phải trao đổi bằng tiếng gió; tuyệt đối không được sử dụng lửa dưới mọi hình thức. Tất cả việc ăn uống, thậm chí khi uống thuốc trị bệnh, cũng chỉ được phép dùng nước suối lạnh.
Toàn bộ các loại rác thải, vỏ đồ hộp ăn uống dã chiến đều phải được gom gọn, bỏ vào gùi, cất kỹ để mang về cứ cho chỉ huy kiểm tra. Đơn vị chỉ cho phép đào hố sâu, chôn chặt chất thải sinh hoạt của con người mà thôi.
Khi đã lọt vào đất địch, bộ đội tuyệt đối không được sử dụng võng. Cho dù trời mưa đổ xuống ướt đẫm người, anh em cũng chỉ được phép trải một nửa chiếc tăng dã chiến xuống đất để nằm và dùng một nửa còn lại để đắp lên người. Suốt chuyến đi không được thay quần áo, súng đạn luôn ở tư thế mở khóa an toàn, sẵn sàng nổ súng chiến đấu.
Về phương án trú quân tạm thời, một quy tắc bất di bất dịch được áp dụng: Bộ phận đi trước phải cử ra một tổ nhỏ tiến lên phía trước đội hình một khoảng cách an toàn, sao cho nếu chẳng may bị địch phát hiện, bắn đạn B40 vào thì hỏa lực cũng không thể ăn vào đến vị trí đội hình chính đang dừng chân. Ở hai bên sườn và phía sau lưng, các bộ phận còn lại cũng phải triển khai đội hình cảnh giới tương tự.
Các tổ cảnh giới này đều được trang bị một quả mìn định hướng Claymore (loại mìn hướng thu được của Mỹ, chứa 750 viên bi thép, có khả năng sát thương trong tầm 150 mét), bố trí sẵn sàng ở các hướng nghi vấn.
Thời điểm dừng chân, hạ trại nghỉ đêm chỉ được phép triển khai khi trời đã tối hẳn. Trước đó, toàn đội hình bắt buộc phải thực hiện động tác cắt rừng, đổi hướng đột ngột sang một bên để đánh lạc hướng, đề phòng trường hợp quân địch có thể bám theo dấu vết. Việc xóa dấu vết đường đi đã trở thành nguyên tắc bắt buộc của lính trinh sát Đặc công.
Mỗi chuyến luồn sâu điều nghiên như vậy, đợt ngắn ngày thường kéo dài từ 7 đến 10 ngày, đợt dài ngày có thể lên tới 15 đến 20 ngày liên tục.
Sau mỗi đợt hành quân ngắn ngày trở về cứ, khi bước lên bàn cân kiểm tra, tôi thường bị sút mất 3 kg. Còn đối với những đợt dài ngày, cơ thể tiêu hao mất 5 kg thịt là chuyện bình thường.
Đó là chưa kể đến một quy luật nghiệt ngã của sức khỏe: Cứ đều đặn ba tháng một lần là tôi lại bị một trận sốt rét rừng hành hạ. Dù bản thân có cố gắng rèn luyện thể lực bằng đủ mọi kiểu cách thì cũng chỉ có thể gồng mình kéo dài thời gian khỏe mạnh thêm được vài ba ngày, rồi cuối cùng vẫn phải chấp nhận nằm giường điều trị.

Nhưng được cái, nhờ vào sức trẻ của tuổi thanh xuân, chỉ cần trải qua ba, bốn ngày cắt cơn sốt và điều trị tích cực là tôi có thể khỏe mạnh trở lại và nhanh chóng lấy lại cân nặng. Thời điểm đó, tôi đã là người lính thuộc diện già nhất đơn vị mà sức khỏe còn bị bào mòn như vậy, thì chắc mọi người sẽ hiểu anh em chiến sĩ lính trẻ sẽ có sức chịu đựng tốt hơn nhiều.
Và cũng cần nói rõ thêm một đặc thù: Lực lượng Đặc công, trừ khi bước vào trận đánh chính thức mới sử dụng toàn bộ đơn vị, còn khi đi làm nhiệm vụ luồn sâu chuẩn bị chiến trường thì chủ yếu sử dụng đội hình trinh sát chỉ huy. Vì vậy, thành phần tham gia đa số là các đồng chí cán bộ từ cấp Tiểu đội trưởng trở lên, cùng đi phối hợp với các chiến sĩ trinh sát tinh nhuệ của mình.
Nghệ thuật tìm địch giữa vùng biên thùy
Có người từng đặt câu hỏi với tôi rằng: “Nhiệm vụ của các anh thời kỳ đó có phải là đi truy quét bộ binh không?”.
Xin trả lời rõ: Đây là nhiệm vụ đặc thù của binh chủng Đặc công!
Đơn vị được cấp trên tin tưởng giao mệnh lệnh luồn sâu vào tận hang ổ, căn cứ, sào huyệt lõi của địch đóng trên đất Thái Lan. Sở dĩ dùng từ “tìm địch” là vì đa số các nguồn tin ban đầu do trinh sát kỹ thuật cung cấp chỉ dùng máy tầm hướng để định vị tọa độ phát sóng thông tin của các loại đài vô tuyến điện địch, dựa theo tổ chức biên chế của chúng, từ đó đưa ra suy đoán lý thuyết.
Nhiệm vụ của Đặc công là phải trực tiếp hành quân đến tọa độ đó, tổ chức đột nhập thực địa để điều tra, xác minh, làm rõ tình hình.
Để tìm và xác định được chính xác một mục tiêu của địch, quân ta phải tiêu tốn rất nhiều thời gian, công sức và lực lượng. Bởi vì quân địch rất quỷ quyệt, chúng thường xuyên tổ chức nghi binh chiến thuật để đánh lừa ta.
Chúng sử dụng các đài vô tuyến sóng ngắn (loại phương tiện thông tin thường chỉ trang bị cho cấp Trung đoàn trở lên), rồi cho phát sóng theo một quy luật luân phiên, lên sóng liên tục tới một đài thu phát chung của nhiều đơn vị. Thủ đoạn này nhằm làm cho hệ thống trinh sát kỹ thuật của ta lầm tưởng tọa độ đó chính là vị trí đóng quân của trung tâm chỉ huy đầu não quân địch.
Ngay cả đối với nguồn tin tình báo chiến lược (nguồn mật A), cũng không phải lúc nào thông tin đưa xuống cũng hoàn toàn chính xác với thực tế.
Có người sẽ nghĩ: Nếu tình hình phức tạp như vậy thì liệu công tác kiểm tra, báo cáo có đủ độ tin cậy để hạ quyết tâm chiến đấu hay không?
Đối với cá nhân tôi, nếu đó là một mục tiêu chiến lược đặc biệt quan trọng, tôi sẽ là người trực tiếp đi đầu chỉ huy mũi trinh sát đột nhập. Việc đó không có gì phải bàn cãi!
Còn đối với các trường hợp mục tiêu khác, không thể lúc nào người chỉ huy Trung đoàn, Tiểu đoàn cũng chỉ có duy nhất một mình đi thực địa thì mới tin tưởng.
Đó chính là nghệ thuật của người chỉ huy: Chỉ cần giao mệnh lệnh độc lập cho nhiều toán trinh sát khác nhau cùng đi kiểm tra một vị trí, rồi tổng hợp các thông tin qua báo cáo của anh em. Người chỉ huy có thể nắm bắt và biết được toàn bộ sự thật khách quan thông qua biện pháp kiểm tra chéo số liệu giữa các mũi như vậy.
Tuy nhiên, muốn tổ chức một đợt luồn sâu trinh sát dài ngày trong lòng địch, công tác tham mưu bắt buộc phải chuẩn bị, xây dựng sẵn các trạm trú quân tạm thời nằm trên hành lang hành quân cho từng cung đoạn.
Khi đã đứng chân trong lòng địch, người chỉ huy phải nghiên cứu thật kỹ lưỡng đặc điểm địa hình trên bản đồ kết hợp với thực địa. Chúng tôi chủ động tìm kiếm những khu vực địa hình có hệ thống hang động hiểm trở nhưng hẻo lánh, hoặc những vùng rừng tre gai chằng chịt mà người bình thường không ai dại gì chui đầu vào.
Và tất nhiên, nơi đó bắt buộc phải tìm ra được nguồn nước từ các vũng cạn hoặc mạch nước ngầm bí mật.
Từ vị trí hang ẩn nấp đó, đơn vị sẽ tiến hành cải tạo bí mật, sẵn sàng làm điểm trung chuyển khi có mệnh lệnh vận chuyển con người, vũ khí, trang bị và lương thực tuyến trước. Trong tình huống khẩn cấp, đây chính là nơi an toàn để cất giấu tạm thời các đồng chí thương binh, tử sĩ trước khi nổ súng đánh địch…
Thật ra, nếu chỉ nhìn vào bảng thống kê khối lượng công việc khổng lồ, diễn biến tình hình và những tình huống khốc liệt ngoài mặt trận, có người ở hậu phương sẽ cho rằng những nhiệm vụ ấy là bất khả thi, không thể nào làm nổi…
Thế nhưng, thiên chức của người chiến sĩ ngoài chiến trường là phải có bản lĩnh biến cái không thể thành cái có thể, và thực tiễn lịch sử đã chứng minh hùng hồn điều đó.
Xin được trích lại nguyên văn lời của vị chỉ huy huyền thoại, Thượng tướng Nguyễn Chơn, khi ông lên trực tiếp đảm nhiệm chức vụ Tư lệnh chiến dịch:
“…Trong toàn bộ các lực lượng, chỉ có duy nhất cái thằng Đặc công là nó báo cáo cái gì cũng chính xác, bảo nó đi đến bất cứ đâu nó cũng đi được, và giao cho nó làm bất kỳ nhiệm vụ hiểm nghèo gì nó cũng đều hoàn thành xuất sắc…”.

Lời nhận xét chân tình, đầy sự thấu hiểu và nể trọng của vị Tư lệnh chiến dịch năm ấy đã làm mát lòng bác Trần Duy Thị, Trưởng đại diện lực lượng Đặc công Tiền phương Bộ Quốc phòng, cùng toàn thể đội ngũ cán bộ, chiến sĩ Đặc công thuộc Quân khu và Mặt trận đang ngày đêm xả thân nơi tuyến đầu biên thùy khốc liệt.
(Còn nữa)