
Để di sản tiếp tục sống trong đời sống đương đại
Việt Nam là quốc gia thống nhất trong đa dạng với 54 dân tộc anh em. Mỗi cộng đồng đều lưu giữ một kho tàng văn hóa đặc sắc, từ tiếng nói, chữ viết, lễ hội, nghệ thuật trình diễn dân gian đến nghề thủ công truyền thống, tri thức bản địa và phong tục tập quán. Đó không chỉ là tài sản của từng dân tộc mà còn là những mảnh ghép tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam.
Những năm gần đây, cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội và sự thay đổi trong đời sống cộng đồng, nhiều giá trị văn hóa truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai một. Không gian văn hóa làng, bản, buôn dần thu hẹp; nhiều nghề truyền thống không còn người kế tục; lớp nghệ nhân ngày càng cao tuổi trong khi lực lượng kế cận còn mỏng. Nếu chỉ dừng ở việc lưu giữ tư liệu hay tổ chức các hoạt động mang tính phong trào, nhiều giá trị văn hóa sẽ khó tiếp tục tồn tại trong đời sống.
Chính từ yêu cầu thực tiễn đó, Nghị định số 269/2026/NĐ-CP được ban hành với cách tiếp cận toàn diện hơn. Thay vì chỉ tập trung vào bảo tồn, Nghị định quy định đồng bộ các cơ chế, chính sách từ thống kê, đánh giá những giá trị văn hóa có nguy cơ mai một; bảo tồn không gian văn hóa truyền thống; phát triển chủ thể văn hóa; xây dựng các không gian trải nghiệm văn hóa trong trường học và khu dân cư đến việc gắn văn hóa với phát triển du lịch và tạo sinh kế bền vững.
Ý nghĩa của Nghị định không nằm ở số lượng chính sách được ban hành mà ở sự chuyển biến trong tư duy phát triển văn hóa. Di sản không còn được nhìn nhận như những giá trị cần “cất giữ”, mà phải tiếp tục được thực hành, trao truyền và sáng tạo trong chính môi trường sống của cộng đồng. Chỉ khi còn hiện diện trong đời sống hằng ngày, văn hóa truyền thống mới thực sự có sức sống lâu bền.
Khi cộng đồng vừa gìn giữ văn hóa vừa hưởng lợi từ văn hóa
Nét mới nổi bật của Nghị định là đặt cộng đồng vào vị trí trung tâm của công tác bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống. Các tổ, nhóm cộng đồng, hộ gia đình, tổ hợp tác và những người trực tiếp lưu giữ các giá trị văn hóa được tạo điều kiện tham gia các chương trình, dự án phục hồi, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống.
Đặc biệt, Nghị định quy định cơ chế hỗ trợ đối với chủ thể văn hóa nòng cốt và chủ thể văn hóa kế cận khi tham gia thực hành, trao truyền văn hóa trong các chương trình, dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đây là chính sách có ý nghĩa thiết thực bởi muốn bảo tồn di sản thì trước hết phải giữ được những con người đang nắm giữ và truyền dạy di sản.
Một điểm đáng chú ý khác là định hướng gắn bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch cộng đồng. Chính quyền địa phương được giao xây dựng các chương trình, dự án hỗ trợ phát huy giá trị văn hóa truyền thống; đầu tư không gian văn hóa; cải tạo hạ tầng; hình thành các tuyến, điểm du lịch văn hóa; đồng thời khuyến khích cộng đồng trực tiếp tham gia quản lý hoạt động du lịch và được thụ hưởng từ những giá trị văn hóa mà chính họ gìn giữ.
Đó cũng là cách để văn hóa trở thành nguồn lực phát triển. Khi bản sắc văn hóa tạo ra việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống, người dân sẽ có thêm động lực gìn giữ tiếng nói, chữ viết, nghề truyền thống, lễ hội và các tri thức bản địa. Bảo tồn khi ấy không còn là nhiệm vụ của riêng ngành văn hóa mà trở thành lợi ích thiết thực của mỗi cộng đồng.
Nghị định số 269/2026/NĐ-CP vì thế không chỉ cụ thể hóa Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội mà còn phản ánh tư duy phát triển văn hóa phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Văn hóa được nhìn nhận không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn là nguồn lực nội sinh cho phát triển bền vững. Khi mỗi làng, bản, buôn tiếp tục gìn giữ được bản sắc của mình, đồng thời biến những giá trị văn hóa thành động lực phát triển kinh tế và nâng cao đời sống, thì văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số sẽ không chỉ được bảo tồn mà còn tiếp tục được bồi đắp, lan tỏa và đóng góp vào sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam trong thời kỳ phát triển mới.