
Sau 58 năm kể từ ngày Đại úy Hà Sỹ Ban hy sinh, con cháu ông vẫn lần tìm một trạm quân y, một gốc cây, một bờ suối giữa chiến trường xưa. Người vợ từng một mình nuôi bốn con đã mất. Người con út chưa được cha nhìn mặt cũng không còn. Hành trình tìm người lính trở về nay được tiếp nối bằng tâm nguyện của thế hệ cháu.
Trong những hình ảnh gia đình gửi kèm lá thư đề nghị hỗ trợ tìm kiếm liệt sĩ Hà Sỹ Ban, có một bức chân dung đã nhòe theo năm tháng, được “Trái tim người lính” phục dựng. Phía dưới là dòng chữ ghi tên ông cùng hai mốc năm 1930–1968. Người lính trong ảnh dừng lại ở tuổi 38. Còn những người thân ở quê nhà đã đi qua gần trọn một đời chờ đợi.
1. Người cha ra trận chưa kịp nhìn mặt con
Người viết thư là anh Hà Sỹ Trung, cháu nội liệt sĩ, ở Xuân Lai, Thọ Xuân, Thanh Hóa. Anh gửi tới Dự án “Sáng kiến Tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh" (TTU-VWAI) những thông tin gia đình đã góp nhặt, mong tìm được đồng đội của ông, người biết nơi ông ngã xuống hoặc từng tham gia an táng. Sau những dòng kê khai là một câu hỏi chưa có lời đáp: Ông nội đang nằm ở đâu?
Liệt sĩ Hà Sỹ Ban sinh năm 1930, quê xã Xuân Lai, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, là con ông Hà Sỹ Nghị và bà Đinh Thị Bảo. Theo các giấy xác nhận gia đình cung cấp, ông nhập ngũ tháng 8/1949. Khi hy sinh ngày 17/8/1968, ông mang quân hàm Đại úy, làm Trợ lý Tổ chức, thuộc Phòng Chính trị Sư đoàn 1.


Từ ngày nhập ngũ đến khi hy sinh là 19 năm quân ngũ, trải qua hai cuộc kháng chiến. Những tấm bằng khen thưởng còn được gia đình lưu giữ ghi nhận công lao của ông, trong đó có Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba và Huân chương Kháng chiến hạng Nhất. Giấy đã cũ, màu đã phai, nhưng tên người được trao tặng vẫn còn đó.
Trước khi ra trận, ông có vợ là bà Hà Thị Lưu và bốn người con: Hà Sỹ Quân, Hà Thị Hương, Hà Sỹ Thanh, Hà Sỹ Tâm. Ba trai, một gái. Theo lời gia đình, lúc lên đường, ông còn chưa được nhìn mặt người con út.
Có những mất mát của chiến tranh được nhận ra từ một điều rất nhỏ: một người cha chưa biết gương mặt đứa con vừa chào đời. Chuyến đi ấy đã không có ngày trở lại. Người con lớn lên mang trong mình khoảng trống về cha, còn người mẹ ở lại phải gánh cả việc đồng áng lẫn trách nhiệm nuôi dạy bốn đứa trẻ.
Bà Hà Thị Lưu làm nông. Gia đình cho biết, một mình bà đã nuôi các con khôn lớn. Không có đủ tư liệu để kể bà từng trải qua những ngày khó nhọc ra sao. Nhưng việc một người phụ nữ ở làng quê nuôi bốn con trong những năm chiến tranh và hậu chiến đã cho thấy sức bền của hậu phương. Trong hành trình trưởng thành của các con có phần đời bà lặng lẽ dành lại cho chồng.
Đến nay, bà đã mất. Người con trưởng Hà Sỹ Quân đã mất. Người con út Hà Sỹ Tâm cũng đã mất. Người con thứ ba, ông Hà Sỹ Thanh, tiếp bước cha vào quân đội, nay đã nghỉ hưu với quân hàm Thượng tá. Từ thế hệ con sang thế hệ cháu, mong muốn tìm được phần mộ người thân vẫn được gìn giữ.
2. Lần theo dấu vết ngôi mộ bên suối
Tư liệu gia đình cung cấp có hai giấy xác nhận đáng chú ý. Giấy số 769/GXN-BCH, do Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 19/5/2025, ghi nơi hy sinh của liệt sĩ Hà Sỹ Ban là “Đông Nam Đắc Xắc 600m”; nơi an táng ban đầu: “Tại chỗ f1/B3”. Đây là những dòng cần được giữ nguyên khi tiếp tục tra cứu, đối chiếu địa danh và hồ sơ đơn vị.
Giấy số 210/GXN-CCT, do Cục Chính trị Quân đoàn 34 cấp ngày 5/8/2026, xác nhận đơn vị khi hy sinh là Phòng Chính trị F1; cấp bậc, chức vụ: Đại úy – Trợ lý Tổ chức; trường hợp hy sinh: “Máy bay oanh tạc”. Trong văn bản này, mục nơi hy sinh và nơi an táng ban đầu để trống.
Hai văn bản bổ sung những thông tin quan trọng, đồng thời cho thấy vẫn còn khoảng trống phải tiếp tục làm rõ. Dòng “Đông Nam Đắc Xắc 600m” gợi một hướng tìm kiếm cụ thể hơn tên một vùng chiến trường, nhưng chưa đủ để xác định vị trí trên thực địa. Cần biết mốc địa danh được dùng khi lập hồ sơ, đối chiếu bản đồ đương thời và tìm người hiểu địa bàn hoạt động của đơn vị.

Theo thông tin truyền lại trong gia đình, ông gặp nạn khi đi trinh sát thực địa, bị trực thăng phát hiện, sau đó được đưa về một trạm y tế hoặc trạm quân y. Gia đình được báo rằng ông được mai táng gần trạm, dưới gốc cây cạnh bờ suối. Chi tiết này hiện là lời kể cần xác minh, chưa thể xem là vị trí phần mộ đã được xác định.
Một gốc cây, một bờ suối, một trạm quân y: những dấu mốc ấy có thể từng rất quen thuộc với người trong cuộc. Sau hơn nửa thế kỷ, cây có thể không còn, dòng chảy có thể đổi khác, dấu tích lán trại có thể đã mất. Bởi vậy, tìm được người từng đưa thương binh về trạm, cán bộ quân y, giao liên hoặc đồng đội tham gia chôn cất sẽ có ý nghĩa đặc biệt.
Gia đình đang tập trung tìm hiểu khu vực Đắk Sắk – Đức Lập – Đắk Mil, đồng thời đối chiếu các thông tin về X25, Đồi 722 và vùng đông nam Đắk Sắk. Tư liệu giới thiệu di tích của cơ quan quản lý di sản văn hóa Đắk Nông ghi nhận tại Đồi 722 – Đắk Sắk đã diễn ra những trận chiến ác liệt ngày 22 và 23/8/1968. Tuy nhiên, liệt sĩ Hà Sỹ Ban hy sinh ngày 17/8/1968. Sự gần nhau về địa bàn và thời gian chỉ giúp định hướng tra cứu, chưa phải bằng chứng ông hy sinh hoặc được an táng tại di tích này.
Bức ảnh bản đồ gia đình gửi kèm có nhiều ký hiệu, tọa độ và chú giải sự kiện chiến sự tháng 8/1968. Nó cho thấy nỗ lực lần tìm dấu vết bằng tư liệu. Muốn sử dụng những đánh dấu ấy làm căn cứ, cần truy nguyên tài liệu gốc, kiểm tra cách chuyển đổi tọa độ và đối chiếu từng sự kiện. Hiện chưa có cơ sở để khẳng định điểm nào trên bản đồ chính là nơi an nghỉ của ông.
Công việc tìm kiếm vì thế cần sự kiên nhẫn và chính xác trong từng chi tiết. Tên Hà Sỹ Ban cũng cần được tra cứu cả theo cách viết Hà Sĩ Ban. Tên địa danh ghi trong hồ sơ phải được đối chiếu với cách gọi qua các thời kỳ. Những khác biệt giữa các giấy tờ cần được làm rõ để mỗi thông tin chuyển đến gia đình đều có căn cứ.
3. Tiếp nối hành trình chờ đón người lính trở về
Việc gia đình liệt sĩ gửi thư tới Dự án TTU-VWAI mở thêm một hướng tìm kiếm qua tư liệu chiến tranh. Theo thông tin công bố của Đại học Texas Tech, các nhà nghiên cứu thuộc Trung tâm Việt Nam và Lưu trữ Việt Nam Sam Johnson cùng Viện Hòa bình và Xung đột khai thác kho tài liệu CDEC để hỗ trợ tìm kiếm người Việt Nam mất tích. Thư, nhật ký và dữ liệu địa điểm trong tài liệu lưu trữ có thể đem lại manh mối cho việc xác minh. Riêng trường hợp Hà Sỹ Ban, vẫn cần tra cứu cụ thể; chưa thể khẳng định đã tìm thấy hồ sơ liên quan trong kho này.
Gia đình kể rằng sau khi ông hy sinh, những kỷ vật được đưa về có đồng hồ, thắt lưng và tư trang cá nhân. Qua năm tháng, chúng đã thất lạc. Những đồ vật từng ở bên người lính không còn, nhưng chân dung, giấy báo tử, các bằng huân chương và giấy xác nhận vẫn được giữ gìn, trở thành những chứng tích để con cháu tiếp tục tìm ông.

Văn hóa tri ân hiện diện trong chính sự tiếp nối ấy: gìn giữ một tờ giấy cũ, đọc lại một địa danh, tìm hỏi một đồng đội, chuyển giúp một thông tin có căn cứ. Với gia đình liệt sĩ, mỗi việc tưởng nhỏ đều có thể mở ra một lối đi sau nhiều năm chờ đợi.
Qua bài viết này, gia đình tha thiết tìm các cựu chiến binh từng công tác tại Sư đoàn 1 giai đoạn 1965–1969, đặc biệt ở Ban Tổ chức, Ban Cán bộ, Phòng Chính trị, cơ quan tham mưu và bộ phận quân y; những người biết Đại úy Hà Sỹ Ban, biết sự việc ngày 17/8/1968 hoặc vị trí trạm quân y, khu an táng của đơn vị quanh địa bàn đang xác minh.
Đồng đội, nhân chứng, người dân địa phương hoặc tổ chức, cá nhân có nhật ký, sơ đồ, danh sách chôn cất, hồ sơ quy tập liên quan, xin liên hệ anh Hà Sỹ Trung, cháu nội liệt sĩ, điện thoại 0981 694 536. Gia đình sẵn sàng cung cấp các giấy tờ đang lưu giữ để phục vụ đối chiếu, xác minh.
Người vợ năm xưa không còn sống để đón chồng. Người con út đã đi hết cuộc đời mà chưa từng được gặp cha. Nhưng những người ở lại vẫn mong một ngày có thể đến đúng nơi ông nằm, thắp nén hương và gọi ông bằng tiếng gọi của gia đình. Ở quê nhà Xuân Lai, hành trình đón người lính Hà Sỹ Ban trở về vẫn đang được các thế hệ con cháu tiếp tục.
Hà Nội, 07/11/2026
Đặng Vương Hưng
(Thành viên Dự án TTU–VWAI)