Hồ sơ Số 5: Dấu tích cuối cùng của những người lính Quân y Đoàn 30, trên vùng biên giới Việt Nam - Campuchia năm 1967

“Hoàn cảnh liên quan đến đơn vị/nhóm” trong hồ sơ xác định rõ Đoàn 30 – một đơn vị Quân y CỦA MTDTGPMNVN, hoạt động chủ yếu tại miền Đông Nam Bộ (Bình Dương, Biên Hòa, Tây Ninh…) và vùng biên giới Việt Nam – Campuchia. Không giống các đơn vị cơ động chiến đấu thuần túy, Quân y Đoàn 30 thường đảm nhiệm đào tạo cứu thương, tổ chức các trạm điều trị, tiếp nhận thương binh, và duy trì các căn cứ tương đối ổn định trong rừng.
643373240-2832496473809089-8593754913331149580-n-1772444818.jpg
Một lớp học Quân y trong rừng thời kháng chiến (hình ảnh do "Trái tim người lính" tái hiện.

Hồ sơ Số 5: CDEC F034601101837 bị thu giữ ngày 15/5/1967, trong quá trình hành quân của lực lượng Hoa Kỳ và VNCH, một bộ tài liệu cá nhân gồm 3 trang đã bị thu giữ tại một "Trường Huấn luyện Quân y" trong rừng (Jungle School). Thoạt nhìn, đây chỉ là một tập giấy tờ hành chính – nội bộ, nhưng trong bối cảnh chiến tranh, những trang giấy ấy có thể là dấu tích cuối cùng ghi nhận sự tồn tại, hoạt động và số phận của một số con người cụ thể.

Bối cảnh thu giữ và không gian lịch sử:

Theo ghi nhận, địa điểm thu giữ hồ sơ nằm tại tọa độ 48P XT 048 157 (HQC Indian 1960). Khi chuyển đổi sang hệ tọa độ WGS84 (10.99596, 105.95927), vị trí này tương ứng với huyện Kampong, tỉnh Svay Rieng, Campuchia, khu vực giáp biên giới Việt Nam, đối diện vùng Đức Huệ – Long An ngày nay. Trong bản đồ hành chính thời chiến, đây là khu vực rừng rậm, thưa dân, thường được sử dụng làm căn cứ Hậu cần, Huấn luyện và Quân y của lực lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN).

Việc tài liệu bị thu giữ trên đất Campuchia diễn ra trong cao điểm các chiến dịch “Tìm – Diệt” (Search and Destroy) của Mỹ và đồng minh, đặc biệt là Junction City (tháng 1–5/1967) và chiến dịch Manhattan (tháng 4–6/1967). Đây là giai đoạn Mỹ mở rộng hoạt động sang các khu căn cứ dọc biên giới và vùng hậu phương của MTDTGPMNVN, kể cả trên lãnh thổ Campuchia.

643887028-2832573980468005-2658677844470190672-n-1772444949.jpg
Phần ghi chép tiếng Anh của Tình báo quân đội Mỹ năm 1967, có trong Hồ sơ.

Hồ sơ không mô tả trực tiếp một trận đánh, không ghi danh sách thương vong, nhưng việc thu giữ được giấy tờ cá nhân quan trọng (Quyết định kết nạp Đảng, Bằng đào tạo quân y, Giấy khen chiến công) cho thấy khả năng cao rằng đơn vị đã buộc phải rút lui khẩn cấp, phân tán lực lượng hoặc chịu tổn thất, khiến các giấy tờ này bị bỏ lại.

Đoàn 30 – Đơn vị Quân y của MTDTGPMNVN.

Địa điểm thu giữ được mô tả là Trường Huấn luyện Quân y, cho thấy đây có thể là binh trạm, khu huấn luyện hoặc hậu cứ của Đoàn 30 trên đất Campuchia, phù hợp với chiến lược bố trí căn cứ hậu phương thời kỳ này.

Ba hiện vật chính được chụp và lưu trong hồ sơ CDEC F034601101837 gồm: 

1. Quyết định chuẩn y kết nạp Đảng

- Quyết định số 03/TC, ngày 16/01/1967

- Cơ quan: Đảng ủy Đoàn 30

- Người được kết nạp: Phạm Công Hưởng

- Người ký: Nguyễn Hòa (hoặc Hoa/Huê – chữ mờ).

2. Bằng Cứu thương Quân y

- Cấp cho: Phạm Công Hưởng

- Nội dung: Hoàn thành khóa đào tạo “Cứu thương quân y”

- Đơn vị tổ chức: Quân y Đoàn 30

- Ngày tốt nghiệp: 20/04/1966

- Người ký: Bác sĩ Nguyễn Chí Lợi.

3. Giấy chứng nhận danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”

- Cấp cho: Nguyễn Văn Hùng (hoặc Hưng/Rựng)

- Đơn vị: Đại đội 16 (C16)

- Danh hiệu: Dũng sĩ diệt Mỹ cấp 3, khen thưởng lần thứ nhất

- Thành tích: Tham gia trận tập kích Sân bay Lộc Ninh tháng 6/1966

- Người ký: Nguyễn Văn Hân

- Thời điểm ký: khả năng tháng 12/1966.

Các cá nhân có họ tên, đơn vị được ghi nhận:

1. Phạm Công Hưởng

- Quê quán và năm sinh: chưa xác định

- Đơn vị: Quân y Đoàn 30

- Cấp bậc/chức danh: Y tá cứu thương

- Đảng viên, Chi bộ 16, Đảng ủy Đoàn 30.

2. Nguyễn Văn Hùng (có thể là Hưng/Rựng)

- Quê quán và năm sinh: chưa xác định

- Đơn vị: Đại đội 16 (C16)

- Cấp bậc: Chiến sĩ

- Thành tích: Tham gia tập kích Sân bay Lộc Ninh, tháng 6/1966

- Danh hiệu: Dũng sĩ diệt Mỹ cấp 3;

Một số tài liệu phía Mỹ ghi tên Nguyễn Văn Rựng. Sự khác biệt về tên gọi (Hùng/Hưng/Rựng) có thể do phiên âm, nghe đọc hoặc chữ viết tay mờ, rất cần thân nhân hoặc đồng đội xác nhận.

Theo một số nguồn lịch sử địa phương, trong trận tập kích sân bay Lộc Ninh năm 1966, có sự tham gia của nhiều đơn vị chủ lực và địa phương, trong đó có khả năng Tiểu đoàn 7 thuộc Đoàn 30. Tuy nhiên, đây mới chỉ là giả thuyết, chưa đủ cơ sở khẳng định chắc chắn phiên hiệu đầy đủ của Đại đội 16.

644196984-2832594480465955-3548399248032931093-n-1772445040.jpg
Ảnh chụp lại các giấy tờ bị thu giữ, đã nhòe mờ theo năm tháng, rất khóc đọc chữ. ↵ ↵

Việc giấy chứng nhận của Nguyễn Văn Hùng (Hưng/Rựng) xuất hiện tại một trường huấn luyện quân y của Đoàn 30 trên đất Campuchia, cách Lộc Ninh khoảng 127 km, gợi ra hai khả năng:

Một là, sau trận đánh, ông được chuyển về tuyến sau để điều trị, huấn luyện hoặc công tác;

Hai là, ông đã hy sinh trước đó, và giấy tờ cá nhân được đồng đội (có thể là Phạm Công Hưởng) lưu giữ.

Tuy nhiên, chúng tôi đã tra cứu liệt sĩ với các biến thể tên gọi trên hệ thống chính sách Quân đội, hiện chưa cho kết quả trùng khớp.

3. Các cá nhân ký văn bản:

- Nguyễn Chí Lợi: Bác sĩ quân y, người ký Bằng Cứu thương. Có thể là cán bộ chỉ huy hoặc phụ trách chuyên môn của Quân y Đoàn 30.

- Nguyễn Hòa / Nguyễn Hoa: Người ký quyết định kết nạp Đảng cho Phạm Công Hưởng, khả năng là Bí thư hoặc Phó Bí thư Đảng ủy Đoàn 30.

- Nguyễn Văn Hân: Người ký giấy chứng nhận Dũng sĩ diệt Mỹ cho Nguyễn Văn Hùng (Hưng/Rựng), chức vụ ghi “Thủ trưởng đơn vị”.

Khoảng trống lịch sử và lời kêu gọi xác minh

Mốc thời gian cuối cùng ghi nhận trong hồ sơ là 16/01/1967, chỉ bốn tháng trước ngày tài liệu bị thu giữ (15/5/1967). Điều này cho thấy đơn vị và các cá nhân của MTDTGPMNVN vẫn đang hoạt động ngay trước khi xảy ra biến cố quân sự lớn.

Cần nhấn mạnh: Tọa độ thu giữ hồ sơ không phải tọa độ chôn cất, mà chỉ là nơi giấy tờ bị bỏ lại hoặc thu nhặt sau hành quân. Mọi giả thuyết về nơi hy sinh hay an táng đều cần thêm chứng cứ bổ sung như báo cáo sau trận đánh, hồi ký, nhật ký, hoặc lời kể nhân chứng.

Trong nhiều trường hợp, những hồ sơ như CDEC F034601101837 chính là manh mối cuối cùng còn sót lại để kết nối một cái tên với không gian, thời gian và đơn vị cụ thể.

Chúng tôi mong thân nhân, đồng đội cũ, người dân địa phương từng sinh sống hoặc hoạt động tại khu vực Đức Huệ – Long An / Kampong – Svay Rieng trong giai đoạn 1966–1967, nếu có bất kỳ thông tin nào liên quan đến: Bác sĩ Nguyễn Chí Lợi; Bí thư (Phó Bí thư) Nguyễn Hòa (hoặc Nguyễn Hoa); Thủ trưởng Nguyễn Văn Hân; CCB Phạm Công Hưởng – Quân y Đoàn 30 và Nguyễn Văn Hùng (hoặc Hưng / Rựng) - Đại đội 16... xin hãy lên tiếng.

Mỗi ký ức, mỗi chi tiết dù nhỏ cũng có thể giúp lấp đầy khoảng trống lịch sử, đưa những người lính ấy trở về với tên tuổi, gia đình và quê hương của họ.

Hà Nội, 02/3/2026

TTNL