Hồ sơ số 54/2026: Tiếng đàn violon còn vọng mãi và hành trình tìm nơi an nghỉ của liệt sĩ Ngô Đức Văn

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, gia đình được biết cô Bảy – người con gái năm xưa từng khóc tiễn Ngô Đức Văn vào chiến trường và cũng là người gửi bức ảnh ông kéo đàn violon về quê – hiện sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Bức ảnh quý còn đó, nhưng cây đàn trong ảnh đã thất lạc từ bao giờ. Câu chuyện về người thanh niên tài hoa, giỏi đàn ghita, hát hay và luôn vui vẻ vẫn được người thân, xóm làng nhắc nhớ. Tiếng đàn đã ngừng từ mùa chiến tranh, nhưng dư âm của nó dường như vẫn còn ngân vọng bên dòng sông Đáy, trong ký ức làng Chùa và trong niềm mong mỏi của những người thân đang đợi ngày người liệt sĩ trở về.
759655580-1572049390990526-3153744170980615927-n-1785473716.jpg

Gần 52 năm sau ngày Thượng sĩ, Tiểu đội trưởng Ngô Đức Văn hy sinh tại mặt trận phía Nam, gia đình vẫn chưa biết chính xác nơi ông được an táng. Từ làng Hoàng Dương bên dòng sông Đáy, người thanh niên tài hoa, giỏi đàn ghita, ca hát và từng xuất hiện trong một bức ảnh chơi đàn violon đã gác lại tình yêu đầu đời để tình nguyện lên đường vào Nam chiến đấu. Nay cha mẹ đã qua đời, các chị em gái đều tuổi cao, người cháu gái tiếp tục hành trình tìm kiếm từ những giấy tờ cũ, ký ức gia đình và niềm hy vọng về các đồng đội còn sống.

1- Người thanh niên tài hoa của làng Chùa

Trong lá thư gửi Dự án “Sáng kiến tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh” – TTU-VWAI, cô giáo Nguyễn Thị Kim Đông kể về người cậu ruột của mình – liệt sĩ Ngô Đức Văn – bằng những ký ức được gìn giữ qua lời kể của gia đình và những người hàng xóm cũ.

Liệt sĩ Ngô Đức Văn sinh năm 1950, quê thôn Hoàng Dương, xã Sơn Công, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây cũ. Hoàng Dương còn có tên gọi dân gian là làng Chùa, một miền quê nằm bên dòng sông Đáy, từ lâu nổi tiếng với đời sống văn hóa tinh thần phong phú. Cổng làng cổ kính, những nếp nhà, mái đình, tiếng hát chèo và tình yêu thơ ca đã tạo nên bản sắc riêng của vùng quê này.

Làng Chùa là tên gọi nôm của làng Hoàng Dương, nơi người dân nhiều thế hệ dành một tình yêu đặc biệt cho thơ ca. Người Hoàng Dương còn yêu những làn điệu chèo, dân ca và có truyền thống đàn hát trong cộng đồng. Đời sống văn nghệ ấy vẫn được gìn giữ, tiếp nối đến hôm nay qua các câu lạc bộ thơ, đàn và hát dân ca của làng.

Không chỉ là miền quê của thơ ca, Hoàng Dương còn là vùng đất giàu truyền thống cách mạng. Địa điểm Bến Lội ở Hoàng Dương đã được thành phố Hà Nội gắn biển lưu niệm sự kiện cách mạng, kháng chiến, ghi dấu trận đánh diễn ra ngày 12/5/1950. Truyền thống văn hóa, yêu nước và tinh thần cộng đồng ấy đã nuôi dưỡng nhiều thế hệ người dân làng Chùa.

Có lẽ chính mạch nguồn văn hóa của quê hương đã góp phần hình thành tâm hồn tài hoa của Ngô Đức Văn. Hàng xóm kể rằng các anh chị em trong gia đình ông đều có dung mạo đẹp và nhiều năng khiếu, nhưng người con trai duy nhất được xem là tài hoa hơn cả. Gia đình xác nhận anh đàn ghita và hát rất hay, thường tham gia các buổi văn nghệ quần chúng, đặc biệt nổi tiếng với bài hát “Vàm Cỏ Đông”. Anh còn có tính cách vui vẻ, hài hước, gần gũi nên được bà con, bạn bè quý mến.

Ngô Đức Văn là người con trai duy nhất trong gia đình có năm chị em: chị cả Ngô Thị Chuyên, sinh năm 1940; chị Ngô Thị Khuyên, sinh năm 1948; Ngô Đức Văn, sinh năm 1950; em gái Ngô Thị Ngà, sinh năm 1956; và em út Ngô Thị Lan, sinh năm 1958. Chị Ngô Thị Chuyên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: chồng bỏ đi, một mình bà tần tảo nuôi năm người con. Là con trai duy nhất trong nhà, Ngô Đức Văn được cha mẹ và các chị em hết mực yêu thương, chăm chút.

759835731-1816193543089771-8165967471731059071-n-1785474071.jpg

Theo gia đình, Ngô Đức Văn không thuộc diện phải đi B, nhưng đã tự nguyện lên đường vào chiến trường miền Nam. Quyết định ấy cho thấy phía sau vẻ hài hước, tâm hồn nghệ sĩ và tuổi trẻ được gia đình yêu chiều là lòng yêu nước cùng ý thức trách nhiệm của một thanh niên trước vận mệnh đất nước.

Trước ngày nhập ngũ, Ngô Đức Văn đã có một người yêu xinh đẹp, gia đình gọi là cô Bảy. Hai người rất thương yêu nhau. Đến khi Ngô Đức Văn cùng đơn vị vào chiến trường miền Nam, cô Bảy đã khóc rất nhiều. Có lẽ cô hiểu rằng phía trước người yêu mình là một cuộc hành quân dài, nơi sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc; ngày gặp lại, nếu có, cũng chưa biết đến bao giờ.

Đặc biệt, gia đình còn lưu giữ bức ảnh Ngô Đức Văn chơi đàn violon trong một buổi biểu diễn văn nghệ giữa chiến tranh. Dì của chị Nguyễn Thị Kim Đông xác nhận bức ảnh do chính cô Bảy gửi về cho gia đình; ảnh được chụp trong một buổi diễn văn nghệ tại khu vực núi Bà Đen, Tây Ninh. Chi tiết này không chỉ giúp làm rõ nguồn gốc bức ảnh mà còn là một manh mối địa bàn đáng chú ý trong hành trình tìm kiếm nơi liệt sĩ hy sinh và an táng.

Dù nhạc cụ Ngô Đức Văn sử dụng thành thạo nhất được gia đình nhớ rõ là đàn ghita, bức ảnh chơi đàn violon vẫn trở thành kỷ vật đặc biệt về người lính trẻ tài hoa. Trong khói lửa chiến tranh, anh và đồng đội vẫn cất tiếng hát, tiếng đàn, mang văn nghệ đến với đơn vị, nâng đỡ tinh thần người lính giữa những tháng ngày gian khổ.

Tháng 8/1969, Ngô Đức Văn nhập ngũ khi mới 19 tuổi. Từ một chàng trai yêu âm nhạc của làng Chùa, anh bước vào đời quân ngũ, trải qua huấn luyện rồi tình nguyện cùng đồng đội hành quân vào chiến trường.

2- Những giấy tờ cũ và hai mốc ngày hy sinh cần được làm rõ

Trong số những giấy tờ gia đình còn lưu giữ có bản báo tử mang số 2012, do Quân khu 7 – Bộ Chỉ huy tỉnh Tây Ninh lập. Văn bản được gửi về gia đình vào đầu năm 1975, có chữ ký và con dấu của Trung tá Nguyễn Ngọc Điệp.

Bản báo tử ghi rõ: đồng chí Ngô Đức Văn, sinh năm 1950; cấp bậc Thượng sĩ; chức vụ Tiểu đội trưởng; đơn vị ghi tắt là KB; nguyên quán xã Sơn Công, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây.

Theo văn bản này, Thượng sĩ Ngô Đức Văn hy sinh ngày 18/5/1974 tại mặt trận phía Nam, trong trường hợp “vì sự nghiệp chống Mỹ cứu nước”; được xác nhận là liệt sĩ và do đơn vị mai táng tại “khu vực nghĩa trang gần mặt trận”.

760620703-1812559966576885-5591461184228520171-n-1785474023.jpg

Bản báo tử được lập ngày 14/2/1975, tức khoảng chín tháng sau ngày ông hy sinh. Tuy nhiên, văn bản không ghi tên tỉnh, huyện, xã, địa danh quân sự, tọa độ hoặc tên nghĩa trang cụ thể. Cụm từ “khu vực nghĩa trang gần mặt trận” quá rộng, khiến gia đình không thể xác định được nơi an táng ban đầu của người thân.

Gia đình còn lưu giữ một thư chia buồn mang tiêu đề của Quân khu Bốn – Bộ Chỉ huy tỉnh Hà Tây, đề ngày 10/2/1975. Văn bản được gửi tới gia đình, thông báo đồng chí Ngô Đức Văn đã dũng cảm chiến đấu, vượt qua khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị và hy sinh vẻ vang.

Trong thư, cán bộ, chiến sĩ đơn vị bày tỏ niềm thương tiếc và tự hào về người đồng đội đã cống hiến đời mình cho cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do của đất nước. Bức thư viết:

“Đồng chí Ngô Đức Văn mất đi, Tổ quốc và nhân dân mất một người con trung hiếu, đơn vị mất một người đồng chí, đồng đội chiến đấu, gia đình mất một người thân yêu.”

Cuối thư là lời thăm hỏi, chia buồn của toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị và lời động viên gia đình chuyển đau thương thành hành động cách mạng. Văn bản cũng mang chữ ký, con dấu và tên Trung tá Nguyễn Ngọc Điệp.

758964568-894582076577868-3264150912760172309-n-1785474143.jpg

Đáng chú ý, trên thư chia buồn, ngày hy sinh của liệt sĩ được viết tay là 11/5/1974, trong khi bản báo tử số 2012 ghi ngày 18/5/1974. Hồ sơ do gia đình cung cấp trước đây cũng xác định ngày hy sinh là 18/5/1974.

Như vậy, hai giấy tờ hiện còn lưu giữ đang có sự chênh lệch 7 ngày về thời điểm hy sinh. Đây có thể là sai lệch phát sinh trong quá trình ghi chép, sao chuyển hoặc lập giấy tờ sau chiến tranh; cũng có thể liên quan đến thời điểm ông bị thương, mất liên lạc hoặc được đơn vị xác nhận hy sinh. Chi tiết này cần được cơ quan quân sự và các đơn vị lưu trữ tra cứu hồ sơ gốc để xác định chính xác.

Sự khác biệt về ngày hy sinh không làm thay đổi sự thật rằng người chiến sĩ trẻ đã ngã xuống tại mặt trận phía Nam, nhưng lại có ý nghĩa đặc biệt đối với việc truy tìm trận đánh và địa điểm an táng ban đầu. Chỉ cần xác định đúng ngày, đúng phiên hiệu đơn vị và khu vực chiến đấu, phạm vi tìm kiếm có thể được thu hẹp đáng kể.

Một trang sổ đăng ký cũ cũng được gia đình gửi kèm trong bộ tư liệu. Trang sổ có nhiều cột ghi họ tên, nghề nghiệp, ngày sinh, nguyên quán, thời điểm thay đổi và xác nhận của cơ quan quân sự. Tuy nhiên, chữ viết đã mờ, một số tên và ký hiệu chưa thể đọc chắc chắn; chưa có đủ căn cứ để khẳng định dòng nào trực tiếp liên quan đến liệt sĩ Ngô Đức Văn. Vì vậy, trang tư liệu này cần được phóng lớn, đối chiếu với toàn bộ cuốn sổ và hồ sơ hộ tịch của gia đình trước khi sử dụng làm căn cứ xác minh.

Theo thông tin gia đình cung cấp, phiên hiệu đơn vị của liệt sĩ khi hy sinh còn được ghi là 367.EH7/F2 (KB). Trong khi đó, bản báo tử chỉ ghi ngắn gọn KB. Các ký hiệu 367, EH7, F2 và KB cần được tra cứu trong hồ sơ quân lực, danh sách liệt sĩ, nhật ký tác chiến và lịch sử đơn vị vào tháng 5/1974.

Nếu ký hiệu F2 là phiên hiệu một sư đoàn, EH7 liên quan đến trung đoàn hoặc bộ phận trực thuộc, còn 367 là số hiệu quản lý quân nhân, hòm thư hay một ký hiệu nội bộ, việc giải mã đúng cấu trúc này có thể dẫn tới địa bàn chiến đấu cụ thể. Tuy nhiên, khi chưa có hồ sơ gốc, chưa nên đưa ra kết luận khẳng định.

Từ cấp bậc và chức vụ được ghi trên bản báo tử, có thể thấy sau gần 5 năm trong quân ngũ, người chiến sĩ trẻ đã trưởng thành và được giao trách nhiệm trực tiếp chỉ huy một tiểu đội. Đằng sau hai dòng “Thượng sĩ – Tiểu đội trưởng” là những năm tháng hành quân, chiến đấu và cùng đồng đội vượt qua muôn vàn gian khổ.

3- Những người đã khuất chờ người đã hy sinh trở về

Nếu căn cứ ngày hy sinh 18/5/1974 trong bản báo tử, Ngô Đức Văn ngã xuống khi mới 24 tuổi. Một cuộc đời dừng lại ở tuổi thanh xuân, để lại sau lưng cha mẹ, bốn người chị em gái, người yêu và tiếng đàn chưa kịp ngân lên trong ngày đất nước thống nhất.

Ở quê nhà, ông bà ngoại của cô giáo Nguyễn Thị Kim Đông chờ đợi người con trai duy nhất mãi không trở về. Năm tháng nối tiếp năm tháng, chiến tranh kết thúc, nhiều người lính lần lượt trở lại làng, nhưng Ngô Đức Văn vẫn nằm lại nơi nào đó ở phía Nam đất nước.

Ông bà đã qua đời khoảng 20 năm trước, mang theo nỗi mong ngóng chưa được nguôi ngoai. Bốn người chị em gái của liệt sĩ – bà Ngô Thị Chuyên, bà Ngô Thị Khuyên, bà Ngô Thị Ngà và bà Ngô Thị Lan – nay đều đã lớn tuổi. Riêng bà Ngô Thị Chuyên từng trải qua hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, chồng bỏ đi, một mình nuôi năm người con. Ước nguyện tìm được nơi người em trai duy nhất an nghỉ vẫn chưa thể hoàn thành.

Bởi vậy, chị Nguyễn Thị Kim Đông – người cháu gọi liệt sĩ Ngô Đức Văn bằng cậu ruột – đã thay mặt gia đình tiếp tục hành trình tìm kiếm. Chị hiện là giáo viên Trường THPT Xuân Mai, xã Xuân Mai, thành phố Hà Nội; đồng thời là con gái của một thương binh nặng.

Với cô giáo Kim Đông, chiến tranh không chỉ là những bài học lịch sử được truyền đạt trên bục giảng, mà còn hiện hữu trong những mất mát và di vật của chính gia đình mình.

Một người cha từng trở về từ chiến tranh nhưng mang thương tật suốt đời. Một người cậu mãi mãi nằm lại chiến trường. Ông bà ngoại chờ người con trai duy nhất cho tới lúc qua đời. Nay các chị em gái của liệt sĩ đều đã tuổi cao, còn người cháu gái tiếp tục lần theo từng dòng chữ mờ trên giấy cũ.

Đó không chỉ là câu chuyện riêng của một gia đình. Đó còn là hình ảnh của hàng vạn gia đình Việt Nam đã trải qua chiến tranh và vẫn đang đợi một lời giải đáp sau hơn nửa thế kỷ.

4- Mong một manh mối đưa người liệt sĩ ngã xuống phương xa…

Điều gia đình cần làm rõ trước hết là phiên hiệu và địa bàn hoạt động của đơn vị mang ký hiệu 367.EH7/F2 (KB) vào tháng 5/1974; đồng thời xác minh mối liên hệ giữa đơn vị này với Quân khu 7 và Bộ Chỉ huy tỉnh Tây Ninh – cơ quan đã cấp bản báo tử số 2012.

Các hướng thông tin cần tìm kiếm gồm:

1. Danh sách cán bộ, chiến sĩ của đơn vị có liệt sĩ Ngô Đức Văn trong tháng 5/1974.

2. Nhật ký hành quân, nhật ký tác chiến hoặc báo cáo thương vong trong các ngày 11/5 và 18/5/1974.

3. Địa bàn chiến đấu được hồ sơ gọi chung là “mặt trận phía Nam”, trong đó cần đặc biệt lưu ý khu vực núi Bà Đen, Tây Ninh – nơi gia đình xác nhận bức ảnh Ngô Đức Văn cầm đàn violon được chụp trong một buổi diễn văn nghệ thời chiến.

4. Tên hoặc vị trí của “khu vực nghĩa trang gần mặt trận” do đơn vị tổ chức mai táng.

5. Danh tính những đồng đội cùng tiểu đội, người chỉ huy trực tiếp, cán bộ quân y hoặc người tham gia mai táng.

6. Hồ sơ quy tập các nghĩa trang dã chiến của đơn vị sau năm 1975 và địa điểm nghĩa trang liệt sĩ tiếp nhận hài cốt.

Gia đình tha thiết mong các cựu chiến binh từng công tác tại đơn vị, cán bộ quân lực, quân y, giao liên, lực lượng quy tập hoặc những người từng chiến đấu trên cùng địa bàn cung cấp thông tin. Dù chỉ là tên một địa phương, con suối, khu rừng, cao điểm, trạm quân y, nghĩa trang dã chiến hay danh tính một đồng đội, đó cũng có thể trở thành manh mối quý giá.

Trong những ngày cả nước tiếp tục hưởng ứng “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”, câu chuyện của gia đình liệt sĩ Ngô Đức Văn thêm một lần nhắc nhở chúng ta rằng vẫn còn biết bao người lính chưa xác định được nơi an nghỉ; biết bao người mẹ, người cha đã ra đi mà chưa thể đón con trở về.

Một manh mối nhỏ hôm nay có thể là chìa khóa giúp xác định một trận đánh, tìm lại một nghĩa trang và đưa người lính xa quê trở về với gia đình sau hơn nửa thế kỷ.

Nếu bạn có thông tin liên quan, xin gửi cho Nguyễn Thị Kim Đông – giáo viên Trường THPT Xuân Mai, xã Xuân Mai, thành phố Hà Nội. Điện thoại/Zalo: 0986 560 031. Hoặc Dự án “Sáng kiến tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh” – TTU-VWAI.

Hà Nội, 31/7/2026
Đặng Vương Hưng
(Thành viên của Dự án TTU-VWAI)