
Đây là đề tài nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, sử dụng nguồn vốn xã hội hóa, không sử dụng ngân sách nhà nước, do Viện Nghiên cứu Văn hóa và Phát triển chủ trì đăng ký. Nhà nghiên cứu Nghiêm Thị Hằng làm chủ nhiệm đề tài.
Hội đồng do Tiến sĩ Phạm Việt Long, Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Nghiên cứu Văn hóa và Phát triển, làm Chủ tịch Hội đồng. Hai Phó Chủ tịch Hội đồng gồm Tiến sĩ Tạ Văn Nam, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hùng Việt.
Tham gia Hội đồng có Tiến sĩ Trần Đình Minh, Ban Tuyên giáo Trung ương; Tiến sĩ Trịnh Như Quỳnh, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Liệu cùng các nhà khoa học, chuyên gia thuộc lĩnh vực lịch sử, văn hóa, di sản và Hán Nôm. Ông Nguyễn Hồng Phú làm Thư ký Hội đồng.
Dự cuộc họp có ông Lương Xuân Huy, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa và Phát triển; ông Nguyễn Tiến Dũng, Chủ tịch Hội đồng Quản lý Viện, Tổng Biên tập Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển; đại diện các đơn vị chuyên môn và nhóm thực hiện đề tài.
Tiếp cận liên ngành một giả thuyết lịch sử

Báo cáo trước Hội đồng, chủ nhiệm đề tài Nghiêm Thị Hằng cho biết công trình được thực hiện trong gần bảy năm, tập trung nghiên cứu cụm ba ngôi mộ cổ tại phường Hương Trà, thành phố Đà Nẵng, gồm Mộ Giày, Mộ 1850 mang tên Huỳnh Hoàn Nhân và Mộ 1856 của bà Phan Thị.
Nhóm nghiên cứu vận dụng phương pháp tiếp cận liên ngành, kết hợp văn hóa học di sản, sử học, khảo cổ học văn hóa, điền dã dân tộc học, nghiên cứu Hán Nôm và ký hiệu học. Nguồn tư liệu được tập hợp gồm chính sử triều Nguyễn, gia phả, địa bạ, minh văn, kiến trúc lăng mộ, hoa văn trang trí, lời kể nhân chứng và kết quả khảo sát thực địa.
Từ hệ thống 51 căn cứ và dấu hiệu nghiên cứu, đề tài đặt ra giả thuyết về mối liên hệ giữa ba ngôi mộ với cựu Tham hiệp trấn Yên Quảng Trần Phúc Hiển, Nữ sĩ Hồ Xuân Hương và bà Phan Thị. Trong đó, Mộ Giày được đặt trong giả thuyết có liên quan đến Trần Phúc Hiển; Mộ 1850 có khả năng liên quan đến nơi an nghỉ cuối cùng của Hồ Xuân Hương; Mộ 1856 được nghiên cứu trong mối liên hệ với người vợ cả Phan Thị.
Đề tài phân tích những mô-típ xuất hiện trên văn bia, bình phong và các cấu kiện kiến trúc như con dơi, dơi ngậm khuyên, dây thắt vùng cổ, Tùng – Mai, hình ốc xoáy, tam vị nhân diện và tổ hợp được diễn giải là “bình – đũa – thìa”. Nhóm nghiên cứu cho rằng sự lặp lại của các mô-típ có thể chứa đựng những dấu hiệu về quan hệ gia đình và hoàn cảnh lịch sử của người nằm dưới mộ.
Các thành viên Hội đồng ghi nhận công sức khảo sát thực địa, khối lượng tư liệu được tập hợp và hướng tiếp cận liên ngành của đề tài. Việc nghiên cứu một cụm mộ cổ còn thiếu thông tin được đánh giá có ý nghĩa đối với nghiên cứu lịch sử địa phương, bảo tồn di sản và tiếp tục làm rõ những khoảng trống trong thân thế Nữ sĩ Hồ Xuân Hương.
Bổ sung chứng cứ, làm rõ giới hạn kết luận

Bên cạnh những kết quả bước đầu, Hội đồng đề nghị nhóm nghiên cứu rà soát toàn bộ báo cáo, chuẩn hóa chính tả, ngữ pháp, tên người, chức danh, địa danh lịch sử và niên đại. Cấu trúc báo cáo cần được sắp xếp lại thành ba phần, thống nhất cách đánh số chương, mục, bảng biểu và hình ảnh.
Đối với hệ thống 51 căn cứ, Hội đồng yêu cầu xây dựng bảng tổng hợp riêng, ghi rõ nội dung, xuất xứ, loại nguồn, chương tham chiếu, giá trị chứng minh, mức độ tin cậy và giới hạn của từng căn cứ. Số lượng căn cứ không thể thay thế việc đánh giá chất lượng, tính độc lập và khả năng kiểm chứng của từng nguồn tư liệu.
Các tư liệu Hán Nôm cần được công bố đầy đủ, gồm ảnh chụp minh văn có độ phân giải cao, bản dập nếu có, nguyên văn chữ Hán, phiên âm Hán Việt, dịch nghĩa và chú giải những chữ khó đọc. Kết quả đọc và dịch minh văn cần được đối chiếu với chuyên gia Hán Nôm độc lập để bảo đảm tính khách quan.
Hội đồng đề nghị bổ sung bảng đối chiếu những mô-típ kiến trúc, trang trí tại cụm ba ngôi mộ với các ngôi mộ cùng hoặc gần niên đại ở địa phương và khu vực miền Trung. Việc đối chiếu nhằm xác định những hình tượng được phân tích có phải dấu hiệu riêng, được tạo tác có chủ ý hay chỉ là mô-típ trang trí dân gian, phong thủy phổ biến.
Một nội dung được Hội đồng đặc biệt lưu ý là phải phân biệt rõ dữ liệu quan sát tại thực địa, cách diễn giải văn hóa và kết luận về danh tính người nằm dưới mộ. Những cách diễn đạt như “đã chứng minh”, “xác thực”, “định danh chính xác”, “giải mã hoàn toàn” hoặc “loại trừ hoàn toàn” chỉ nên sử dụng khi có chứng cứ trực tiếp, đủ khả năng kiểm tra và được thẩm định độc lập.
Đối với di cốt và đồ tùy táng tại Mộ 1850, Hội đồng cho rằng không thể xác định chắc chắn giới tính hoặc nguồn gốc địa lý chỉ từ chiếc tráp, màu sắc hay trạng thái của xương. Những nhận định này cần dựa trên kết quả khảo cổ học, giám định nhân chủng học và các phương pháp khoa học phù hợp.
Hội đồng thống nhất đánh giá kết quả hiện tại là một giả thuyết khoa học có căn cứ bước đầu, nhưng chưa đủ cơ sở để khẳng định chắc chắn Mộ 1850 là nơi an nghỉ của Nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Nhóm nghiên cứu cần tiếp tục bổ sung sử liệu độc lập, hoàn thiện hồ sơ nhân chứng, đối chứng kiến trúc và xây dựng bộ tiêu chí kiểm chứng danh tính phần mộ.
Kết luận cuộc họp, Hội đồng khoa học đánh giá đề tài có ý nghĩa về khoa học và thực tiễn; thống nhất đề nghị chủ nhiệm đề tài tiếp thu đầy đủ các ý kiến, chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện hồ sơ trước khi trình cấp có thẩm quyền xem xét.
Việc bảo vệ hiện trạng cụm ba ngôi mộ có thể được đề xuất trên cơ sở giá trị kiến trúc, mỹ thuật, lịch sử địa phương và nguy cơ xuống cấp. Việc gắn tên di tích trực tiếp với Nữ sĩ Hồ Xuân Hương cần chờ kết quả kiểm chứng khoa học đầy đủ, khách quan và có sức thuyết phục.